![]()
TU THÂN : CÔN ĐẢO
—o—o—
Trong chuyến đi xuyên Việt, tôi được nhắc đi Côn Lôn, tôi chỉ biết địa danh Côn Lôn qua bài thơ của Phan Châu Trinh (1872-1926) viết trong thời gian ông bị đầy ra Côn Đảo (1908-1910).
Làm trai đứng giữa đất Côn Lôn,
Lừng lẫy làm cho lở núi non.
Xách búa đánh tan năm bảy đống,
Ra tay đập bể mấy trăm hòn.
Tháng ngày bao quản thân sành sỏi,
Mưa nắng càng bền dạ sắt son.
Những kẻ vá trời khi lỡ bước,
Gian nan chi kể việc con con!
Tôi ra Côn Đảo từ cảng Trần Đề, ở Sóc Trăng. Trên tàu, tôi và bạn say và nôn đến chết đi sống lại, nhiều lúc muốn gục xuống, thà ngất đi luôn, chết đi luôn, không muốn chịu đựng thêm nữa.
Đến khi đặt chân lên đảo, tôi nằm bẹp ở khách sạn, chỉ nghĩ đến việc lại phải lên tàu đi về lại đất liền, là muốn chết, là muốn chạy trốn, là muốn ở lại luôn trên đảo. Tôi biết là không thể đi máy bay về đất liền, không phải vì xe máy của chúng tôi để lại ở cảng Trần Đề mà vì tôi hiểu rằng những trải nghiệm sóng nước mới giúp tôi hiểu hơn về Côn Đảo.
Là người làm tâm linh, tôi biết cơn say này không bình thường, tôi dường như rơi vào trải nghiệm của những tù nhân trên đảo, tù nhân bị đưa ra đảo và tù nhân chạy trốn khỏi đảo. Con tàu trở thành nhà tù đưa thân thể và tinh thần của tôi rơi vào những cơn sóng dồn dập, không thể nào chịu đựng được. Chuyến đi hơn hai giờ dài như một bể khổ cuộc đời.
Sau đó, chúng tôi cũng sốc lại tinh thần mua vé đi thăm quan. Đi thăm quan nhà chúa đảo, tôi nghe tiếng cười ha ha ha, cảm giác như là tiếng cười của một con ma điên, mang năng lượng của hổ. Không biết bao nhiều người đã gặp con ma này và nghe tiếng nó cười, hay nó đã nhận ra một cái gì bất thường ở tôi nên cất tiếng cười ghê rợn đó. Có lẽ trải nghiệm ở trại giam này đã kích động thú tính quyền lực của chúa đảo và một số tên cai ngục, khiến họ có được sự thoả mãn khi hành hạ người khác, và khoái cảm khi chứng kiến sự đầy đoạ và chết chóc của người khác. Đó là một sự huỷ diệt nhân tính. Có thể ở các trại diệt chủng của phát xít Đức và của Khmer đỏ cũng xảy các hiện tượng này. Tôi vốn không sợ ma do bản chất nghề nghiệp nhưng lúc này tôi suýt nữa bỏ chạy ra khỏi nơi thăm quan.
Đi sang bảo tàng, tôi hiểu hơn về nhà tù Côn Đảo nhưng thân thể và tinh thần đã mệt mỏi quá rồi, cố đi nhanh mà cứ lê lết. Tôi bị ám ảnh với câu hỏi các nữ chiến sỹ đã chịu đựng Côn Đảo như thế nào.
Sang khu nhà tù, tôi đứng trước cửa, vừa nhìn trong sân qua cửa, cảm giác buồn nôn và vị máu đã xộc lên phủ kín đầu, tinh thần suy sụp và tôi bỏ cuộc.
Tôi không muốn vào thiền để xem ký ức gì xuất hiện hay tôi gặp dạng năng lượng gì ở mảnh đất này nữa. Tôi bỏ ra biển ngồi nhìn trời mây cho đỡ mệt.
Sau khi nghỉ ngơi, chúng tôi đi thăm mấy điểm thờ cúng và nghĩa trang. Chúng tôi cũng đi đường vòng quanh đảo, thăm mấy địa điểm mà tù nhân đã bỏ mạng nhiều vì phải đập đá làm đường.
Tôi cảm giác hòn đảo được bao bọc một vành đai người âm như vành khăn đen. Khi tôi thắp hương ở nghĩa trang và đêm nằm ngủ hướng, tôi thấy vành đai âm hồn này bập bùng lửa ánh sáng. Tôi chẳng hiểu được những gì tôi thấy, tôi chỉ muốn được nghỉ ngơi, tôi chỉ muốn được quên đi.
Ma trên đảo là các tù nhân chết trong trại giam, các tù nhân chết trên đường ra đảo hoặc các tù nhân chết trên đường vượt ngục hoặc những người chết bị quẳng xác ra biển.
Trên đảo còn có rất nhiều ma của những người chết ở nơi khác nhưng hồn ma sau khi chết lại bị kéo về Côn Đảo. Đó là hồn ma của chúa đảo, cai ngục, lính trên đảo, và những người đã từng làm việc trên đảo, thậm chí cả những người chỉ từng xuất hiện một thời gian trên đảo. Những người tưởng rằng đã thoát khỏi hòn đảo này quay về cuộc sống bình thường trên đất liền, nhưng vết thương thân thể và vết thương tâm hồn sâu bên trong họ trồi lên sau khi chết, kèo hồn ma của họ về lại hòn đảo này. Những kẻ tưởng rằng có thể khuất phục và giam cầm các tù nhân trên đảo đến khi chết lại trở thành tù nhân linh hồn của hòn đảo này. Hồn ma cười ha ha tôi gặp ở khu nhà chúa Đảo rơi vào trường hợp này. Điều này chứng tỏ tính chất giam cầm của Côn Đảo là quá lớn.
Có hồn ma của một số cựu tù nhân Côn Đảo, trong đó có những người đã vượt ngục thành công. Có thể họ có vết thương quá lớn ở đây, hoặc họ có lời thề đồng đội, họ quay lại với các đồng đội của họ bỏ xác ở đây.
Tôi xin kết nối với các vị thần linh được thờ cúng ở đây xin được giúp đỡ, vì tôi cảm giác quá yếu đuối giữa nơi chốn khủng khiếp này.
Tôi gần như không kịp tìm hiểu cấu trúc năng lượng của hệ thống quần đảo này, năng lượng xứ sở của biển, mà tôi biết kéo dài đã hàng triệu, hàng vạn, hàng nghìn năm, vì tôi bị giam trong các trải nghiệm tù ngục ở đảo, không đủ sức thoát ra.
Khi ngồi trên cầu cảng, đợi tàu về đất liền, tôi xem được một số ký ức của tôi trên đảo, câu chuyện của Gia Long trên đảo và câu chuyện của bà Phi Yến, qua đó tôi cảm giác rằng chuyến về đất liền của tôi sẽ đỡ hơn. Và đúng là tôi vẫn say xỉn, nhưng đỡ hơn rất nhiều, có điều sau đuôi tàu là cái vành đai hồn ma của đảo, lúc này kéo dài thành một vệt đen trên biển. Cả cuộc đời tôi chưa bao giờ rơi vào hoàn cảnh này. Tôi trao đổi với bạn đi cùng là phải làm gì bây giờ và chúng tôi đều chẳng biết phải làm gì. Thế là chúng tôi giả vờ mù câm điếc và lên bờ lấy xe máy đi về Vĩnh Long. Từ khi lên trên mờ tôi có cảm giác các hồn ma vẫn theo tôi nhưng không còn tạo thành cái vệt dài như trên biển nữa.
Ở Vĩnh Long, một học sinh lớp thiền đợi tôi và dẫn tôi đến một số đình đền ở Vĩnh Long. Ở Văn Thánh Miếu Vĩnh Long, tôi bất ngờ gặp hai người mặc đồ đen của Phật giáo Tứ Ân Hiếu Nghĩa của Đức Bổn Sư Ngô Lợi (1831-1890). Tôn giáo này kết hợp các giá trị đạo đức truyền thống, Phật giáo, Nho giáo và tinh thần yêu nước chống thực dân Pháp. Đức Bổn Sư được xem là lần chuyển kiếp thứ 3 của Phật Thầy Tây An. Ông vừa là lãnh tụ tôn giáo, vừa là lãnh đạo phong trào kháng Pháp tại Nam Kỳ vào cuối thế kỷ 19. Sau khi thắp hương ở Văn Thánh Miếu, nhóm chúng tôi cùng nhóm Tứ Ân Hiếu Nghĩa cùng nhau đến Công Thần Miếu. Nơi đây đang lưu giữ nguyên vẹn 85 đạo sắc phong quý giá, là nơi lưu giữ nhiều sắc phong nhất ở Vĩnh Long và cũng là nơi giữ số lượng sắc phong triều Nguyễn lớn nhất cả nước hiện nay. Lúc này đột nhiên đoàn hồn ma Côn Đảo lại xuất hiện rõ và được các vị thần linh đỡ họ tản đi các hướng. Tôi cứ đứng đó, phát khóc vì ân nghĩa của đức Bổn Sư và các vị thần linh đất nước.
Trải nghiệm Côn Đảo cho tôi hiểu rằng Côn Đảo là nơi nghiền nát những thân thể và tâm hồn yếu đuối, mà cũng là nơi hun đúc lên những anh hùng và những bậc thánh nhân.
Ám ảnh về Côn Đảo đưa tôi vào một số buổi thiền để gặp một nhóm đối tượng khác trong số các tù nhân Côn Đảo – những người biết thiền.
Một trong các học sinh đã mở ký ức là một nữ tù nhân trên đảo, bị tra tấn dã man và biết mình sẽ không chịu được lâu nữa. Trước đó người này đã chứng kiến một nữ tù nhân khác khi chết đã được một bầy chuột đến ăn xác tron vẹn trong đêm. Bọn lính cai khi phát hiện người này đã chết và xác người này biến mất như thể bốc hơi bay lên trời đã cực kỳ tức giận.
Trước đó tôi đã đọc rất nhiều tích của vị nhân thần ở các đền miếu mà xác hoá cát bụi hoặc mộ bị mối xông chỉ trong một đêm, không ngờ ở nhà tù Côn Đảo lại có những người đã hoá thánh theo cách này.
Tù nhân nữ này đã được một nam tù nhân dạy thiền, đặc biệt kỹ thuật dùng thanh âm gọi một bầy chuột cực kỳ tinh khôn ở đảo đến đến tiêu huỷ xác của mình trong đêm khi chết. Vị tù nhân nam này phải là một cao nhân đắc đạo, hoặc vị đó không phải tù nhân mà là một dị nhân xuất quỷ nhập thần như Bổn Sư Ngô Lợi, đã hoá thân vào nhà tù này để dạy thiền cho một số tù nhân.
Tù nhân nữ này biết mình chưa chết được mà phải thực hiện bằng được bài thiền cuối cùng này. Khi người tù nhân này bắt đầu luyện tập được việc gọi chuột, người này bắt đầu để cho chuột ăn trước một số bộ phận của thân thể. Khi người này vào thiền thì mới nhận ra một số người tù khác cũng đang trong thiền và có một tù nhân nữ ngay trong phòng cũng đang thực hiện bài thiền chết này ở giai đoạn cuối. Nghĩa là người tù nhân này phải chết thật nhanh trước khi toán lính canh nhận ra và lôi hai người đang chết dở chưa xong ra ngoài. Điều quan trọng không phải là chết mà chết như thế nào, để toàn bộ thể xác và linh hồn mình đều trở được về đất mẹ.
Những buổi thiền này đã cho tôi nhìn thấy một bản hùng ca khác của Côn Đảo.
Khi biết có phim về Côn Đảo, tôi đã rủ con trai tôi đi xem.
Trên đường đi đến rạp tôi được nhắc rằng Côn Đảo là một trường ca về tu thân. Tôi sẽ hiểu được về nguyên lý tu thân qua trải nghiệm của tù nhân Côn Đảo.
Những người thiền để sống hay để chết ở Côn Đảo là những người đắc được cấp Diệt đế và Đạo đế trong Tứ diệu đế của đức Phật dạy.
Diệt đế và Đạo đế hiểu dưới góc độ Tu thân của Nho giáo, đạt được khi một người chịu mọi trách nhiệm cá nhân về đau khổ thân xác và tinh thần của chính mình, thay vì đổ lỗi cho bên ngoài hoặc chờ đợi phải được chia sẻ, thấu hiểu, giúp đỡ như những luận điệu chữa lành phổ biến ngoài kia.
Một người tu thân cần nội thế hoàn toàn thân thể, cảm thọ, cảm xúc, suy nghĩ và ý chí sinh và tử của chính mình về với chính mình. Hình dung khi họ bị đánh đập, họ sẽ tự quan sát trải nghiệm bằng thiền, như thế kẻ đánh đập họ cũng là chính là họ ở một phiên bản khác, một khía cạnh khác mà gặp lại họ do nghiệp quả của cả hai. Người nữ tù nhân này đặt mình vào địa vị của Tấm và kẻ đánh đập họ là Cám, mà cũng chính là phiên bản khác của cô ấy, thì đây sẽ thành một trải nghiệm cá nhân. Bằng cách này, các tù nhân Côn Đảo sẽ chuyển nhà tù thành nơi để học bài học làm người, để gặp chính mình, để là chính mình, để hợp nhất chính mình.
Hợp nhất linh hồn (Soul Integration) là một ám ảnh của tôi sau đọc cuốn sách cùng tiêu đề của Sal Rachele, vì tôi trước đó đã có suy nghĩ rằng đây là mục đích cuộc đời này của tôi và nó nhất định liên quan đến Hợp nhất tôn giáo. Hợp nhất linh hồn là hạnh nguyện và đường tu đạo của Quán âm Thị Kính. Hợp nhất linh hồn chính là triết lý sau thẳm của đạo Kiều, mà được miêu tả bởi đoạn trường của Kiều, hợp nhất linh hồn là ý nghĩa của lời nguyện Đoạn trường mà Hợp chủ đã trao cho Kiều.
Nội thế thiền là một kỹ thuật thiền cơ bản. Ở cấp quán thân, khi bạn bị ngứa do muỗi đốt, bạn có thể hoàn toàn nội thế trạng thái này và chỉ quan sát nó chứ không phản ứng. Nội thế sự kiện bị muỗi đốt rất đơn giản, nhưng nội thế việc bị tra tấn trên Côn Đảo khó hơn, cho nên phải nội thế luôn cả tên cai ngục vào trải nghiệm này, nhưng thế tù nhân và cai ngục chỉ là hai phiên bản của nhau.
Nội thế thiền chính là thái độ một người vợ có thể lựa chọn làm để đối diện với những nội đau thể xác và tinh thần do sự phản bội của chồng. Đây là kỹ thuật quán chiếu về chính bản thân của Bồ tát đạo, vừa là một kỹ thuật thiền của đạo Phật, vừa là một kỹ thuật nội thế tu thân của Nho giáo.
Khi bạn muốn diệt tận cùng mọi đau khổ, hãy diệt mọi dính mắc, hãy nội thế toàn bộ trải nghiệm cuộc đời bạn vào tay bạn. Đây là chính là ý nghĩa của Diệt đế trong Tứ diệu đế, mà đức Phật cho năm anh em Kiều Trần Như trong buổi giảng chuyển pháp luân.
Nguyên tắc này hoàn toàn đi ngược lại các tư vấn của tâm lý học hiện đại và phong trào chữa lành thành rách ngoài kia mà đòi hỏi phải phân tích, lắng nghe, kết nối, chia sẻ, nhưng Tứ diệu đế và Nội thế tu thân mới chính là chữa lành thực sự mà đức Phật, đức Khổng Tử, và mẹ Quán âm dạy cho nhân gian.
Có thể một thời khắc nào đó trong đời này, trong đời nào đó của luân hồi, bạn đã có một lời thề như vậy mà bạn không nhớ. Có thể nó là ký ức khi một người vợ đứng trước mặt người chồng và nói rằng cô ấy hoàn toàn sai và cô ấy sẽ chịu mọi trách nhiệm cho đỡ vỡ hôn nhân, và ra đi. Có thể đó là ký ức của một người tù Côn Đảo quyết định tự chịu trách nhiệm về mọi đau đớn của mình, cái chết trong tù hoặc cái chết trên biển lúc vượt ngục.
Tôi ngồi trong rạp khóc như mưa với bao suy nghĩ ngổn ngang.
Khi ra khỏi rạp, con trai tôi nói rằng nếu cả đoàn vượt ngục đã ở trên thuyền giữa biển, để rồi lại lần lượt nhảy xuống biển để chết. Thế thì vượt ngục là vô nghĩa chăng ? Lúc bằng tuổi con trai tôi, tôi đã từng nghĩ thế. Nhưng lúc này tôi biết làm người phải tự lựa chọn cuộc sống và cái chết của mình, theo cách của mình. Trong lúc chạy trốn, không ai biết sẽ thoát, tù nhân chết trên biển khi vượt ngục rất nhiều. Điều quan trọng không phải là không bị chết, vì ai cũng phải chết mà là chết như thế nào. Những tù nhận vượt ngục này đã lựa chọn cái chết cho mình. Nếu cho họ lựa chọn lại, giữa một cái chết tự nguyện giữa biển hay một cái chết trong tay cai ngục, họ có thể vẫn chọn cái chết giữa biển, trong lòng mẹ biển, ở bên cạnh đồng đội, và vì sự sống của đồng đội cuối cùng.
Tôi biết là con trai tôi không hiểu, vì ở tuổi của con, tôi cũng hiểu, nhưng ở tuổi đó, có thể tôi cũng chưa đặt được câu hỏi về ý nghĩa của vượt ngục. Có thể cuộc đời của tất cả chúng ta đều là một cuộc vượt ngục, khi ta nhận ra ngục tù này nằm sẵn trong thân thể và tâm hồn chúng ta và nằm sẵn trong những thứ tưởng chừng như tốt đẹp ngoài kia, mà khiến ta quên mất ta là ai.
Con tôi vẫn không phục với chi tiết một người đàn ông làm việc trên đảo đã gửi con gái lên thuyền để rời đảo, trong khi mình ở lại để bị bắt. Sao người ấy không lên thuyền luôn đi ?
Tôi trả lời con trai rằng nếu người này lên thuyền chay trốn, thì sẽ có lính Pháp bắt người này ngay khi xuống thuyền, lúc này đứa con gái cũng sẽ không thoát. Người này cần tự chịu trách nhiệm về lựa chọn của mình, không để liên luỵ đến những người trên thuyền. Đây chính là nguyên tắc nội thế của Tu thân : Ta chỉ làm điều mà ta chịu trách nhiệm được toàn bộ.
Điều quan trọng không phải thoát chết lúc này, lúc khác, chỗ này, chỗ khác, mà là việc sống và chết thế nào cả cuộc đời, mà cần tuân theo những nguyên tắc cơ bản mà chính ta lựa chọn.
