THUÝ KIỀU TRAO DUYÊN, THUÝ VÂN GỬI LẠI

Loading

THUÝ KIỀU TRAO DUYÊN CHO THUÝ VÂN
Kiều đã bán mình cho Mã Giám Sinh để chuộc cha
Mái ngoài họ Mã vừa sang,
Tờ hoa đã ký, cân vàng mới trao.
Ông Tơ Bà Nguyệt đã buộc Kiều vào mối quan hệ với Mã Giám Sinh sau một biến cố gia đình, nên Nguyễn Du gọi ông Tơ là trăng già.
Trăng già độc địa làm sao!
Cầm dây chẳng lựa, buộc vào tự nhiên!
Đồng tiền đã khiến cha mẹ Kiều bị oan, đồng tiền cũng đã khiến nàng phải bán mình, dưới danh nghĩa một đám cưới gả cho Mã Giám Sinh với người đứng ra làm trung gian dàn xếp là Họ Chung, nhưng Mã Giám Sinh chỉ là con buôn được Tú Bà thuê để mang Kiều về lầu xanh
Trong tay đã sẵn đồng tiền,
Dầu lòng đổi trắng thay đen khó gì!
Họ Chung ra sức giúp vì,
Lễ tâm đã đặt, tụng kỳ đã xong.
Sau khi đã thu xếp xong việc nhà, Kiều một mình chong đèn khóc, nghĩ đến mối tình với Kim Trọng. Bao lời thề nguyền chưa thực hiện thì đã tự mình làm cho mọi việc dở dang, có lẽ phải đem khối tình này xuống kiếp sau.
Việc nhà đã tạm thong dong,
Tinh kỳ giục giã đã mong trở về.
Một mình nàng, ngọn đèn khuya,
Áo dầm giọt lệ, tóc se mái sầu:
“Phận dầu, dầu vậy cũng dầu,
Xót lòng đeo đẳng bấy lâu một lời!
Công trình kể biết mấy mươi,
Vì ta khắng khít cho người dở dang.
Thề hoa chưa ráo chén vàng,
Lỗi thề thôi đã phụ phàng với hoa!
Trời Liêu non nước bao xa,
Nghĩ đâu rẽ cửa, chia nhà tự tôi!
Biết bao duyên nợ thề bồi,
Kiếp này thôi thế thì thôi còn gì?
Tái sinh chưa dứt hương thề,
Làm thân trâu ngựa đền nghì trúc mai.
Nợ tình chưa trả cho ai,
Khối tình mang xuống tuyền đài chưa tan!”
Kiều cứ thế ngồi khóc, thì Thuý Vân chợt tỉnh giấc. Thuý Vân nói rằng cả nhà mắc nạn mà riêng Kiều vì gia đình mà chịu oan, nhưng chắc Kiều còn vướng mắc gì nữa nên mới ngồi khóc đêm khuya một mình
Nỗi riêng, riêng những bàn hoàn,
Dầu chong trắng đĩa, lệ tràn thấm khăn.
Thuý Vân chợt tỉnh giấc xuân,
Dưới đèn ghé đến ân cần hỏi han:
“Cơ trời dâu bể đa đoan,
Một nhà để chị riêng oan một mình.
Cớ gì ngồi nhẫn tàn canh,
Nỗi riêng còn mắc với tình chi đây?”
Kiều đáp lời rằng còn một chuyện không thể để được trong lòng, nên muốn đem ra nhờ cậy Thuý Vân và Kiều muốn ướm hỏi xem Thuý Vân có đồng khí không
Rằng: “Lòng rồn rã thức đầy,
Tơ duyên còn vướng mối này chưa xong.
Hở môi ra cũng thẹn thùng,
Để lòng thì phụ tấm lòng với ai!
Cậy em, em có chịu lời,
Ngồi lên cho chị lạy rồi sẽ thưa:
Sau đó Kiều kể cho Vân nghe chuyện hẹn ước với Kim Trọng
Giữa đường đứt gánh tương tư,
Giao loan chắp mối tơ thừa mặc em.
Kể từ khi gặp chàng Kim,
Khi ngày quạt ước, khi đêm chén thề.
Chẳng ngờ gia đình gặp chuyện sóng gió, Kiều không thể vừa giữ tình vừa giữ hiếu
Sự đâu sóng gió bất kỳ,
Hiếu tình có lẽ hai bề vẹn hai?
Kiều thấy em vẫn con trẻ, nghĩ đến tình chị em, thay chị thực hiện lời thế nước non của Kiều với Kim Trọng
Ngày xuân em hãy còn dài,
Xót tình máu mủ, thay lời nước non.
Kiều nguyện rằng dù mình chết, thì vẫn sẽ được an ủi nhờ sự giúp đỡ của Thuý Vân.
Chị dù thịt nát xương mòn,
Ngậm cười chín suối hãy còn thơm lây.
Kiều mang kỷ vật của Kim Trọng trao lại cho Thuý Vân, là chiếc vành và bức tờ mây.
Chiếc vành với bức tờ mây,
Duyên này thì giữ, vật này của chung.
Dù em nên vợ, nên chồng,
Xót người mệnh bạc, ắt lòng chẳng quên.
Còn đàn và mảnh hương nguyền là kỷ vật của Kiều, để gọi hồn Kiều về khi sau này Thuý Vân có đốt lò hương và sơ tơ phím đàn.
Mất người còn chút của tin,
Phím đàn với mảnh hương nguyền ngày xưa.
Mai sau, dầu có bao giờ,
Đốt lò hương ấy, so tơ phím này,
Trông ra ngọn cỏ lá cây,
Thấy hiu hiu gió thì hay chị về.
Điều kỳ lạ là mỗi lần Thuý Kiều trao lời hay trao tín vật cho Thuý Vân là một lần cận tử, một lần tự tử.
– “Chị dù thịt nát xương mòn, Ngậm cười chín suối hãy còn thơm lây.” : Đây là trạng thái của Kiều, sau khi đề nghị trao duyên với Kim Trọng cho Thuý Vân – Kiều chết về phách và ý chí thân thể.
– “Dù em nên vợ, nên chồng, Xót người mệnh bạc, ắt lòng chẳng quên.” : Đây là trạng thái của Kiều, sau khi trao chiếc vành và bức tờ mây – Kiều chết về vía, về xúc cảm.
– “Trông ra ngọn cỏ lá cây, Thấy hiu hiu gió thì hay chị về.” : Đây là trạng thái của Kiều sau khi trao phím đàn và mảnh hương nguyền – Kiều chết về hồn, lý trí và ý chí tinh thần.
Ba lần trao gửi là ba lần các thể của Kiều bị tách ra khỏi Kiều, chết đi và chuyển sang bên Thuý Vân, tái sinh. Cuối cùng, Kiều khóc lóc gọi mình là người chết oan.
Hồn còn mang nặng lời thề,
Nát thân bồ liễu, đền nghì trúc mai.
Dạ đài cách mặt, khuất lời,
Rảy xin chén nước cho người thác oan.
Kiều khóc cho sự chia ly với Kim Trọng, như thể vợ khóc chồng vừa mất trong đám tang, có điều ở đây Kiều khóc cho đám tang của chính mình.
Bây giờ trâm gãy, gương tan,
Kể làm sao xiết muôn vàn ái ân!
Trăm nghìn gửi lạy tình quân,
Tơ duyên ngắn ngủi có ngần ấy thôi!
Phận sao phận bạc như vôi?
Đã đành nước chảy, hoa trôi lỡ làng.
Ôi Kim lang! Hỡi Kim lang!
Thôi thôi! Thiếp đã phụ chàng từ đây!”
Sau khi kết thúc việc chia cắt hồn vía phách như vậy, Kiều không khóc nổi nữa vì “hồn ngất, máu say”. Đồng thời, hơi thở và tay của Kiều lạnh ngắt như hiện tượng người chết bị rút hồn ra khỏi cơ thể cùng với hơi ấm của sự sống.
Cạn lời, hồn ngất, máu say,
Một hơi lạnh ngắt, đôi tay lạnh đồng.
Cha mẹ Kiều tỉnh giấc, vôi vàng chạy đến cứu chữa cho Kiều
Xuân huyên chợt tỉnh giấc nồng,
Một nhà tấp nập, kẻ trong người ngoài.
Kẻ thang, người thuốc bời bời,
Mới giầu cơn vựng, chưa phai giọt hồng.
Cha mẹ hỏi chuyện, Kiều khóc không nói nên lời
Hỏi: “Sao ra sự lạ lùng?”
Kiều càng nức nở, mở không ra lời.
Thuý Vân mang vật làm tin Kiều trao cho mình ra, giải thích
Nỗi nàng, Vân mới rỉ tai:
“Chiếc vành này với tờ bồi ở đây…”
Sau khi nghe Thuý Vân giải thích, Vương ông mới nói, vì việc của cha mà làm lỗi duyên của con, thôi thì em Thuý Vân sẽ thay chị hoàn thành lời hứa với Kim Trọng.
“Này cha làm lỗi duyên mầy,
Thôi thì nỗi ấy sau này đã em!
Cha mẹ hứa về chuyện Kim Trọng, cha mẹ sẽ làm theo đúng lời Kiều dặn dò, không dám sai.
Vì ai rụng cải, rơi kim,
Để còn bèo nổi, mây chìm vì ai?
Lời con dặn lại một hai,
Dẫu mòn bia đá, dám sai tấc vàng!”
Sau khi nhận được lời hứa của cha, Kiều lậy cảm tạ cha, như nàng đã lậy xin Thuý Vân nhận duyên với Kim Trọng trước đó
Lạy thôi, nàng lại rén chiềng:
“Nhờ cha trả được nghĩa chàng cho xuôi.
Lễ trao duyên của Thuý Kiều giống như một lễ xuất gia/từ gia (xuất khỏi gia đình và cây dòng họ) cộng với lễ ly hương (xuất khỏi ngôi nhà và quê hương)
– “Sá chi thân phận tôi đòi” : Xuất ra khỏi nhà mình và xuất gia (xa rời người thân của mình), gửi thân sống nhờ nhà khác, chính là phận tôi đòi
– “Dẫu rằng xương trắng quê người, quản đâu!” : Xuất ra khỏi quê hương và dòng máu gốc theo cả ý nghĩa thân thể và tinh thần, nếu Kiều có chết sẽ phải bỏ xác xứ người và thành hồn ma tha hương
Sá chi thân phận tôi đòi,
Dẫu rằng xương trắng quê người, quản đâu!”
TRAO DUYÊN VỚI CHÀNG KIM LÀ ĐỔI MẠNG CỦA NÀNG KIỀU
Dù trao một mối nhân duyên vợ chồng với Kim Trọng cho Thuý Vân hay trao duyên cha mẹ con cái với Kim Trọng cho cha mẹ, thì Kiều đều nói về cái chết của mình. Lễ trao duyên là một lễ chết đi sống lại, đã biến Kiều từ một cô tiểu thư sống trong nhung lụa thành một người tứ cố vô thân, không gia đình, không dòng họ, không nhà cửa, không quê hương. Với Kiều, đây có thể gọi là một lễ cắt đứt/lễ vượt qua để nửa sau của cuộc đời bước sang một hành trình mới, hoàn toàn khác biệt với lúc ban đầu.
Không phải ai trong cuộc đời cũng có thể đi qua một lễ cắt đứt hay lễ vượt qua khốc liệt như vậy, bởi vì nó động đến sinh mạng gốc. Huyền tích của một số tôn giáo có nói đến lễ cắt đứt hay lễ vượt qua này. Huyền sử Việt nói về cáo chín đuôi là loài có nhiều mạng và có thể đổi mạng.
Con người cũ của Kiều buộc phải chết đi cùng với việc chia ly Kim Trọng, nói cách khác mạng sống của Kiều gắn với Kim Trọng, việc gửi duyên của Kim Trọng cho người khác với Kiều trở thành một cuộc đổi mạng. Điều này chứng tỏ Kim Trọng và Kiều không chỉ là một cặp tình nhân một đời, hay xuyên đời, mà phải là một cặp đôi âm dương đồng sinh đồng tử, nghĩa là bản chất không bao giờ và không thể nào chia cắt.
Sau lễ trao duyên, đến cái thân của Kiều cũng chẳng thực sự còn là của Kiều như xưa nữa, để rồi sau đó Kiều thành con người vía hồn (tân thanh) trên thân xác (hình hài) cũ. Kiều tân thanh là người đi vào Đoạn trường, tạo nên Đoạn trường tân thanh.
Tinh thần Kiều gốc, vẫn ở lại với gia đình, trong thân xác mới, là thân xác của Thuý Vân.
Hiểu được lễ trao duyên này, ta mới hiều những lời cuối của truyện Kiều
Ngẫm hay muôn sự tại trời,
Trời kia đã bắt làm người có thân.
Bắt phong trần, phải phong trần,
Cho thanh cao, mới được phần thanh cao.
Con người gốc của Kiều được khoá với các quan hệ dòng máu trọng yếu nhất sau
– Kim Trọng (người yêu, chồng xuyên đời) – khoá đối xứng dương
– Thuý Vân (em gái, đối xứng nữ) – khoá đối xứng âm
– Vương Quan (em trai) – khoá quan hệ gia đình dòng máu
– Vương ông & vợ (cha mẹ xuyên đời) – khoá quan hệ cha mẹ
Kiều cần trao duyên đã kết với Kim Trọng không chỉ cho Thuý Vân, mà cho cả gia đình mình, trước khi thực sự xuất gia trở thành Kiều tân thanh đi vào Đoạn trường. Đó cũng là lý do, sau này Kim Trọng đã thay Kiều lo toàn bộ việc đất đai nhà cửa và chăm lo cho từng thành viên trong gia đình Kiều, cụ thể phụng dưỡng cha mẹ Kiều như đẻ cha mẹ mình, lấy Thuý Vân rồi ở rể và cả việc thi cử rồi ra làm quan của Vương Quan.
Thực ra, tinh thần gốc của Kiều không mất đi, mà vẫn ở lại với gia đình Kiều. Các phần của Kiều tách ra khỏi thể xác trong lễ trao duyên được khoá lại với Thuý Vân, người lúc này trở thành hai Kiều như thời khắc gặp Kim Trọng mà “hai kiều e lệ nép vào dưới hoa”.
Bản chất của việc Thuý Vân lấy Kim Trọng là tinh thần Kiều và thân xác Thuý Vân lấy Kim Trọng. Đến lúc này tinh thần Kiều lại được khoá với Kim Trọng như ý nghĩa của lễ xe tơ kết tóc mà hai người đã làm, chỉ còn thân xác Kiều là vẫn lưu lạc ở bên ngoài mà thôi.
Việc giữ hồn đổi xác của Kiều trong truyện Kiều giống với việc giữ hồn đồi xác của cô Tấm trong cổ tích Tấm Cám. Tấm sau khi chết chỉ mất xác (xác đi vào Đoạn trường tân thanh), còn toàn bộ tinh thần vẫn nguyên vẹn đi tiếp trong các hình hài khác như chim vàng anh, cây xoan đào, khung cửi và quả thị, cho nên hoàng tử luôn nhận ra được Tấm và yêu Tấm. Trong truyện Kiều, xác của Kiều đi tiếp vào Đoạn trường với một tinh thần mới gọi là Tân thanh, còn tinh thần gốc của Kiều ở lại với hình hài của Thuý Vân. Đó là lý do lần trao duyên của Kiều với Thuý Vân sẽ là nặng nhất, làm cho Kiều rơi vào trạng thái cận tử.
Kiều thuộc về một bộ Tứ tượng nữ gồm Thuý Kiều (ối), Thuý Vân (thân), Đạm Tiên (nhau) và Giác Duyên (rốn).
KIỀU TÂN THANH ĐI QUA ĐOẠN TRƯỜNG
Kiều tân thanh là con người mới của Kiều mà đi qua tất cả các trải nghiệm từ lúc bước chân ra khỏi nhà đến trước khi quay trở lại nhà
– ngủ với Mã Giám Sinh
– tự tử ở lầu xanh Tú Bà
– đi trốn với Sở Khánh
– sống trong lầu xanh Tú Bà
– lấy Thúc Sinh
– bị Hoạn Thư đánh ghen
– trốn đến chùa của Giác Duyên
– sống trong lầu xanh của Bạc Bà
– làm vợ Từ Hải
– trả ân báo oán
– bị Hồ Tiên Hiến bắt khi Từ Hải chết
– tự tử ở sông Tiền Đường
Vì đã được đổi mạng khi vào Đoạn trường nên Kiều không thể dùng cái mạng đi mượn này để tự tử ở chỗ Tú Bà, chính vì thế Hội Chủ qua Đạm Tiên đã báo mộng cho Kiều là phải giữ cái nợ mạng tân thanh này cho đến sông Tiền Đường.
Tổng cộng, Kiều có 3 lần chết, 3 lần tự tử trong Đoạn trường
– Chết về tinh thần khi trao duyên cho Thuý Vân : Thể bị ảnh hưởng nhất là thể hồn và thể vía. Kiều sau khi trao duyên không còn đủ hồn vía như trước, phần hồn vía này sẽ về lại với Kiều khi Kiều nối lại duyên với Kim Trọng sau này
– Chết về thân thể khi cầm dao tự tử ở lầu xanh Tú Bà : Thể bị ảnh hưởng nhất là thể xác và thể phách
– Chết về cả thân thể và tinh thần khi nhảy xuống sông Tiền Đường : Cả hồn, vía, phách, xác đều chết và tái sinh lần này
Kiều tân thanh là con người xác cũ, hồn mới của Kiều, được khoá thêm mã của Đạm Tiên, là hồn ma và Đạm Tiên là nhau trong bộ bào thai gốc. Đó là lý do cho hàng loạt sự tương đồng giữa hai người : Kiều có sự đồng cảm rất lớn với Đạm Tiên khi gặp mộ Đạm Tiên; sau khi Kiều gặp Đạm Tiên thì Kiều bắt đầu có tên trong sổ Đoạn trường cùng với Đạm Tiên; và cuộc đời Kiều trong Đoạn trường rất giống với cuộc đời của Đạm Tiên. Có thể nói Kiều Tân Thanh là xác Kiều hồn Đạm Tiên.
Khi Kiều tỉnh thì phần vía của Đạm Tiên được khoá chặt với Kiều, chỉ khi Kiều rơi vào trạng thái cận tử mê man, thì lúc này phấn vía của Đạm Tiên lại được tách ra và lúc này Đạm Tiên lại trở nên nguyên vẹn để gặp gỡ với Kiều.
Người đỡ cho bộ đôi Kiều và Đạm Tiên là Hội Chủ, mà cũng là Mộng Thần, tinh thần đứng sau tất cả các tiên tri và báo mộng của Đạm Tiên với Kiều. Hội Chủ đỡ trường ghép đôi của Kiều và Đạm Tiên mà gọi là trường “chiêm thành” hay “chiêm bao”. Trong bào thai gốc của Kiều và Đạm Tiên, Kiều là ối và Đạm Tiên là nhau, cho nên trường đỡ việc ghép đôi Thuý Kiều và Đạm Tiên chính là trường ối “bao la” hay trường ối “đại la”. Ối nhau và bao la là trường âm. Đạm Tiên và Hội Chủ đều ở thế giới âm, âm cung. Hội Chủ là mẫu địa phủ, hay là Mẫu Quảng Cung. Hội Chủ là hội âm hồn và luồng máu dịch, trong đất.
Trong bộ bào thai gốc Thuý Vân là thân, cho nên trường ghép Thuý Vân và Thuý Kiều là bao điều. Bao điều bọc lấy ối thân và thân, có tính hình, đối xứng với bao la bọc lấy nhau và ối nhau, có tính âm.
Giác Duyên là người hỗ trợ Kiều tân thanh. Giác Duyên không thực sự tiếp xúc với Kiều gốc, mà chỉ biết được về Kiều gốc qua lời kể của Kiều tân thanh. Cái tên Giác Duyên có ý nghĩa chính là trợ duyên, giao duyên và giác ngộ về duyên.
Người đỡ bộ đôi Thuý Kiều – Giác Duyên, đúng hơn là bộ ba Thuý Vân/thân – Thuý Kiều/ối – Giác Duyên/rốn là Tam Hợp Đạo Cô. Đó cũng là lý do cho cái tên Tam Hợp Đạo Cô.
Ở sông Tiền Đường, thời khắc kết thúc Đoạn Trường có ba người là Kiều tân thanh, Đạm Tiên và Giác Duyên. Bộ ba này trong bào thai gốc là thân, ối, nhau. Đằng sau bộ ba này có cả Hội Chủ và Tam Hợp Đạo Cô, là lưỡng nghi gốc của bào thai và hợp tử mà sinh ra thân rốn ối nhau.
Ở sông Tiền Đường, Giác Duyên ôm Kiều mê man trong lòng để đỡ thân cho Kiều, Đạm Tiên rút vía ra khỏi xác Kiều, để ghép lại với hồn phách gốc của Đạm Tiên.
Lễ ghép vía của Đạm Tiên vào nhịp thân của Kiều là lúc Kiều hoạ 10 khúc ngâm cho 10 bài thơ mới ra Hội Chủ. Số 10 ở đây là 9 và 1, vì mỗi người nữ có 9 vía, nhưng số vía Đạm Tiên có ít hơn 10 vì Đạm Tiên là người âm và Kiều đã khoá phần lớn vía gốc của mình với Thuý Vân, nên khi ghép thân Kiều với vía Đạm Tiên thì chỉ lên 10 vía. Số 10 này cũng ứng với sự trọn vẹn qua thành ngữ “Mười phân vẹn mười”.
Lễ tách vía của Đạm Tiên ra khỏi xác thân của Kiều phải đi ngược lại lễ ghép vía, nghĩa là Kiều phải trả lại 10 bài thơ Đoạn Trường cho Đạm Tiên.
Quãng thời gian Kiều ở với Giác Duyên, sau khi được vớt lên từ sông Tiền Đường chính là quãng thời gian tách phần tân thanh ra khỏi thân xác Kiều, để chuẩn bị cho thân xác Kiều nhận lại tinh thần gốc. Cho nên khi Kiều trở về với Kim Trọng và gia đình, sứ mệnh của Giác Duyên kết thúc, và Giác Duyên chủ động bỏ đi, không để lại lời nhắn và tin tức nào cho Kiều.
Khả năng bắc cầu cho hồn và xác theo các bộ mảnh khác nhau này của Kiều chính là ý nghĩa của chữ Kiều, mà cũng là cầu, một cái cầu cực kỳ đặc biệt, mà ca dao đã nhắc đến.
Bồng bồng mẹ bế con sang
Đò dọc quan cấm, đò ngang quan không chèo
Muốn sang thì bắc cầu kiều
Muốn con hay chữ thì yêu lấy thầy
Kiều trao duyên là thay đổi đối xứng dương của mình (Kim Trọng), mà liên quan đến bản chất âm của Kiều, mà bản chất này liên quan đến dòng máu thân thể (gia đình) và dòng máu linh hồn (nhóm linh hồn gốc). Đó là lý do khi trao duyên là Kiều cũng
– Trao mạng cho Thuý Vân, đổi mạng đi vào Đoạn trường Tân thanh
– Trao đối xứng dương sang cho Thuý Vân, trở thành một âm nữ không có một đối xứng nam, mà chỉ là một trung tâm âm thu hút các năng lượng dương. Đây chính là trạng thái gái làng chơi hay gái lầu xanh.
– Đổi đối xứng âm từ bộ đôi với Thuý Vân, sang ghép đôi bên trong với Đạm Tiên và ghép đôi bên ngoài với Giác Duyên
Bbản chất việc thay đổi như vậy, là làm lệch năng lượng gốc, lệch đối xứng âm dương, lệch cấu trúc gia đình dòng máu, và lệch cấu trúc đất đai nhà cửa. Đoạn trường tân thanh chính là giai đoạn xảy ra các lắp ghép lêch âm dương như vây, và vì ghép lệch âm dương nên con người sẽ như một hạt mầm trôi nổi, không thể yên ổn trụ lại trên một mảnh đất để nẩy mầm thành cây. Đó chính là bản chất của Đoạn trường.
Tại sao Đoạn trường có ý nghĩa ? Bời vì nó cho một cá thể trải nghiệm các khía cạnh khác âm dương khác của mình và đỡ cho các khía cạnh đó. Giai đoạn âm dương lệch lạc này là một phần của hành trình linh hồn của Kiều về bản chất là đối xứng âm dương.
ĐỐI XỨNG CỦA GỬI DUYÊN & NHẬN LẠI DUYÊN
Trước khi trao duyên, Kiều có một cuộc đời yên ấm
– Người con gái nổi tiếng đẹp người đẹp nết, cùng Thuý Vân tạo nên bộ 2 kiều là Thuý Vân – Thuý Kiều (trong bộ tứ tượng gốc Thuý Kiều ối, Thuý Vân thân, Đạm Tiên nhau, Giác Duyên rốn)
– Ở nhà đẹp với bố mẹ và 2 em trai gái
– Kim Trọng là đối xứng dương, thuê nhà sống kế bên
Sau khi trao duyên, Kiều bước vào Đoạn trường
– Đổi mạng : Ghép thân thể với vía hồn Đạm Tiên, đối xứng tinh thần với Giác Duyên (Đạm Tiên – Giác Duyên là 2 người còn lại trong bộ bào thai gốc của Thuý Vân Thuý Kiều)
– Vô gia cư – Không gia đình : Ở lầu xanh là chính, ở nhà của Thúc Sinh (là tiểu tam, bị hành hạ, sau phải bỏ trốn), ở nhà của Từ Hải (Từ Hải sau bị chính quyền dẹp, chết), ở chùa (là nơi thuộc về tất cả mà chẳng thuộc về ai)
– Sống bằng nghề làm gái, có các quan hệ xác thịt với nhiều đàn ông, lâu dài nhất là Thúc Sinh và Từ Hải, khi Từ Hải mất, bị quan triều đình bắt, ép lấy thổ quan
Giai đoạn chuyển tiếp trước và sau Đoạn trường
– Giai đoạn chuyển tiếp trước Đoạn trường được đỡ chính bởi Kim Trọng – Đạm Tiên/Hội Chủ.
– Giai đoạn chuyển tiếp sau Đoạn trường được đỡ chính bởi Kim Trọng – Giác Duyên/Tam Hợp Đạo Cô
Trong bộ đối xứng nam (Kim Trọng – Thuý Kiều) và nữ (Thuý Kiều, Thuý Vân, Đạm Tiên, Giác Duyên), mỗi giai đoạn cuộc đời Kiều đi cặp với một người chính
– Trước Đoạn trường : Thuý Vân
– Trong Đoạn Trường : Đạm Tiên – Giác Duyên
– Sau Đoạn Trường : Kim Trọng
Con người gốc cùng các quan hệ gốc và vận mệnh gốc của Kiều được khôi phục khi Kiều trở về với gia đình.
Các sự kiện đưa Kiều trở lại với “ngày xưa” đi ngược lại các sự kiện đưa Kiều vào đoạn trường
– Kim Trọng đi tìm Kiều, lần lượt qua các nơi chốn và con người mà Kiều đã gặp trong Đoạn trường, cuối cùng Kim Trọng biết tin Kiều tự vẫn ở Tiền Đường,
– Kim Trọng đưa cả gia đình Kiều đến sông Tiền Đường làm lễ cho Kiều thì gặp sư Giác Duyên và được sư đưa về am của mình, nơi Kiều đang tu ở đó
– Cha muốn Kiều rời khỏi am tu của Giác Duyên để về nhà, Kiều lúc đầu không đồng ý, nhưng sau phải nghe lời cha
– Thuý Vân trao lại duyên cho Kiều
THUÝ VÂN TRAO LẠI DUYÊN CHO THUÝ KIỀU
Quây nhau lạy trước Phật đài,
Tái sinh trần tạ lòng người từ bi.
Kiệu hoa giục giã tức thì,
Vương ông dạy rước cùng về một nơi.
Như vậy, trước Đoạn trường, việc trao duyên của Kiều khởi nguồn từ việc bán thân chuộc cha. Sau Đoạn trường, cha muốn Kiều trở về với gia đình, nhưng Kiều muốn ở lại với Giác Duyên.
Nàng rằng: “Chút phận hoa rơi,
Nửa đời nếm trải mọi mùi đắng cay.
Tính rằng mặt nước, chân mây,
Lòng nào còn tưởng có rày nữa không?
Được rày tái thế tương phùng,
Khát khao đã thoả tấm lòng lâu nay.
Đã đem mình bỏ am mây,
Tuổi này gửi với cỏ cây cũng vừa.
Mùi thiền, đã bén muối dưa,
Màu thiền, ăn mặc đã ưa nâu sồng.
Sự đời, đã tắt lửa lòng,
Còn chen vào chốn bụi hồng làm chi?
Dở dang nào có hay gì?
Đã tu, tu trót qua thì, thì thôi!
Trùng sinh ân nặng biển trời,
Lòng nào nỡ dứt nghĩa người ra đi?”
Kiều vì bán mình chuộc cha mà xuất gia và ly hương, nay lại vì lời của cha mà quay về với gia đình và ngôi nhà cũ.
Ông rằng: “Bỉ thử nhất thì,
Tu hành thì cũng phải khi tòng quyền.
Phải điều cầu Phật cầu tiên,
Tình kia, hiếu nọ, ai đền cho đây?
Độ sinh nhờ đức cao dày,
Lập am, rồi sẽ rước thầy ở chung.”
Nghe lời nàng phải chiều lòng,
Giã sư, giã cảnh, đều cùng bước ra.
Quá trình Thuý Vân trả duyên lại cho Thuý Kiều diễn ra ngược lại quá trình Thuý Kiều trao duyên cho Thuý Vân.
Một đoàn về đến quan nha,
Đoàn viên, vội mở tiệc hoa vui vầy.
Tàng tàng, chén cúc dở say,
Đứng lên, Vân mới giãi bày một hai.
Thuý Vân là người mở lời trước.
Rằng: “Trong tác hợp cơ trời,
Hai bên gặp gỡ, một lời kết giao.
Gặp cơn bình địa ba đào,
Vậy đem duyên chị buộc vào duyên em.
Thuý Vân nói rằng trời đã tác hợp cho Thuý Kiều và Kim Trọng, hai bên gặp gỡ, kết dao, nhưng gặp phải cơn “bình địa ba đào”, nên “duyên chị lại buộc vào duyên em”. Duyên buộc mà Thuý Vân nói chính là sợi tơ duyên của ông Tơ bà Nguyệt.
Cũng là phận cải, duyên kim,
Cũng là máu chảy, ruột mềm chứ sao?
Thuý Kiều và Kim trọng hay Thuý Vân và Kim Trọng cùng là “phận cải duyên kim”. Thuý Vân và Thuý Kiều cùng là “máu chảy, ruột mềm”.
Những là rày ước, mai ao,
Mười lăm năm ấy, biết bao nhiêu tình!
Trong mười lăm năm lưu lạc của Kiều, tất cả đã mong chờ được gặp lại nhau.
Bây giờ gương vỡ lại lành,
Khuôn thiêng lừa lọc, đã dành có nơi.
Còn duyên may lại còn người,
Còn vầng trăng bạc, còn lời nguyền xưa.
Bây giờ gương vỡ lại lành, thề nguyền xưa của Thuý Kiều và Kim Trọng vẫn còn, người vẫn còn
Quả mai ba bảy đương vừa,
Đào non sớm liệu xe tơ kịp thì.”
Xét tuổi của Kiều, việc xe duyên giữa Kiều và Kim Trọng vẫn còn kịp
Dứt lời, nàng vội gạt đi:
“Sự muôn năm cũ kể chi bây giờ?
Một lời tuy có ước xưa,
Xét mình dãi gió, dầm mưa đã nhiều.
Nói càng hổ thẹn trăm chiều,
Thì cho ngọn nước thuỷ triều chảy xuôi!”
Thuý Kiều vội vàng gạt đề nghị của Thuý Vân đi, nói rằng tuy có lời thề với nhau, nhưng mình đã trải qua nhiều chuyện hổ thẹn, muốn xuôi theo dòng nước chảy xuôi, nghĩa là việc hiện tại như thế nào thì cứ tiếp tục như vậu.
Chàng rằng: “Nói cũng lạ đời!
Dẫu lòng kia vậy, còn lời ấy sao?
Một lời đã trót thâm giao,
Dưới dày có đất, trên cao có trời!
Dẫu rằng vật đổi, sao dời,
Tử sinh cũng giữ lấy lời tử sinh!
Duyên kia có phụ chi tình,
Mà toan chia gánh chung tình làm hai?”
Kim Trọng không đồng ý, nói rằng lời thề của hai người có trời đất chứng giám, dù vật đổi sao dời thì phải quyết lấy lời thề sinh tử này.
Nàng rằng: “Gia thất duyên hài,
Chút lòng ân ái, ai ai cũng lòng.
Nghĩ rằng: Trong đạo vợ chồng,
Hoa thơm phong nhị, trăng vòng tròn gương.
Chữ trinh đáng giá nghìn vàng,
Đuốc hoa chẳng thẹn với chàng mai xưa!
Thiếp từ ngộ biến đến giờ,
Ong qua, bướm lại, đã thừa xấu xa.
Bấy chầy gió táp, mưa sa,
Mấy trăng cũng khuyết, mấy hoa cũng tàn!
Còn chi là cái hồng nhan?
Đã xong thân thế, còn toan nỗi nào?
Nghĩ mình, chẳng hổ mình sao?
Dám đem trần cấu dự vào bố kinh!
Đã hay chàng nặng vì tình,
Trông hoa đèn, chẳng thẹn mình lắm ru!
Từ rày khép cửa phòng thu,
Chẳng tu thì cũng như tu mới là!
Chàng dù nghĩ đến tình xa,
Đem tình cầm sắt đổi ra cầm cờ.
Nói chi kết tóc xe tơ?
Đã buồn cả ruột, lại nhơ cả đời!”
Kiều nói về việc mình không giữ được chữ trinh trong đạo vợ chồng, muốn đem tình cảm vợ chồng son sắt đổi sang tình bạn đàn thơ “đem tình cầm sắt đổi ra cầm cờ”, không muốn nhắc đến chuyện kết tóc xe tơ ngày xưa nữa.
Chàng rằng: “Khéo nói nên lời!
Mà trong lẽ phải có người, có ta.
Xưa nay trong đạo đàn bà,
Chữ trinh kia cũng có ba bảy đường:
Có khi biến, có khi thường,
Có quyền, nào phải một đường chấp kinh?
Như nàng lấy hiếu làm trinh,
Bụi nào cho đục được mình ấy vay?
Kim Trọng nói rằng một lý lẽ phải có cả mình cả ta, cả Kiều và Kim Trọng. Với Kim Trọng, “chữ trinh kia cũng có ba bảy đường” và “như nàng lấy hiếu làm trinh”.
Trời còn để có hôm nay,
Tan sương đầu ngõ, vén mây giữa trời.
Hoa tàn mà lại thêm tươi,
Trăng tàn mà lại hơn mười rằm xưa.
Có điều chi nữa mà ngờ,
Khách qua đường để hững hờ chàng Tiêu?”
Kim Trọng khen Kiều rằng “hoa tàn mà lại thêm tươi, trăng tàn mà lại hơn mười rằm xưa”, đừng hững hờ với chàng.
Như vậy đối đáp giữa Kiều và Kim Trọng không hề liên quan đến Thuý Vân và hôn nhân của Kim Trọng và Thuý Vân, có thể vì chính Thuý Vân đã mở lời muốn Kiều nối lại duyên xưa với Kim Trọng trước. Còn Kim Trọng trong suốt quá trình tìm kiếm Kiều đều ứng xử với tư cách là chồng của Kiều, thay mặt Kiều chăm sóc cha mẹ Kiều, lấy em gái Kiều, chăm lo học hành của em trai Kiều, và đứng ra làm chủ lễ chiêu hồn Kiều ở sông Tiền Đường với tư cách là chồng của Kiều.
Việc Kim Trọng kết hợp với Thuý Vân là một trạng thái ghép không đối xứng như Kiều kết hợp với những người đàn ông không đối xứng. Ghép không đối xứng một trạng thái tiêu biểu của Đoạn trường, và cũng vì không đối xứng như vậy mà xảy ra Đoạn Trường. Tình trạng này cần được sửa lại khi Đoạn trường kết thúc, để khôi phục âm dương đối xứng mà Kiều và Kim Trọng là cặp đôi tiêu biểu nhất.
Bơỉ vì về mặt tinh thần, Kim Trọng luôn coi mình là chồng Thuý Kiều trước, rồi sau đó mới vì Thuý Kiều mà lấy Thuý Vân, lại nữa bên trong Thuý Vân có mảnh hồn vía Thuý Kiều chuyển sang ghép với Thuý Vân khi Thuý Kiều trao duyên cho Thuý Vân, nên Kim Trọng thật sự nhiều lần trải qua trạng thái thấy Kiều hiện hữu bên mình.
Chuyện Kim Trọng và Kiều có quay lại với nhau hay không lúc này chủ yếu vướng ở Kiều. Kiều không nói về tình cảm của mình với Kim Trọng liệu có còn không. Kiều chỉ đưa lý do không quay về với Kim Trọng vì các trải nghiệm thân thể tình dục của mình trong mười lăm năm lưu lạc.
Nghe chàng nói đã hết điều,
Hai thân thì cũng quyết theo một bài.
Nghe Kim Trọng nói hết lời, song thân của Kiều cũng khẳng định mong muốn của mình là Kiều và Kim Trọng quay lại với nhau. Kiều đuối lý phải đồng ý nối lại duyên xưa với Kim Trọng.
Hết lời khôn lẽ chối lời,
Cúi đầu, nàng những ngắn dài thở than.
Kiều và Kim Trọng làm lễ giao bái.
Nhà vừa mở tiệc đoàn viên,
Hoa soi ngọn đuốc, hồng chen bức là.
Cùng nhau giao bái một nhà,
Lễ đà đủ lễ, đôi đà đủ đôi.
Sau lễ giao bái là lễ động phòng.
Động phòng dìu dặt chén mồi,
Bâng khuâng duyên mới, ngậm ngùi tình xưa.
Những từ sen ngó, đào tơ,
Mười lăm năm, mới bây giờ là đây!
Tình duyên ấy, hợp tan này,
Bi hoan mấy nỗi, đêm chầy trăng cao.
Lễ giao bái và lễ động phòng là hai lễ đi sau lễ xe tơ kết tóc trong một lễ kết hôn truyền thống. Các lễ này thông thường chỉ cách lễ xe tơ kết tóc vài tuần, nhưng với trường hợp của Kiều, khoảng cách này là cả Đoạn trường tân thanh dài mười lăm năm.
Với việc tiếp tục lễ xe tớ kết tóc xưa bằng lễ giao bái và lễ động phòng, Kiều sẽ rút mảnh dần từ Thuý Vân về lại mình, để kết hợp đối xứng với Kim Trọng, đảo ngược lại những gì đã diễn ra trong lễ trao duyên trước đó 15 năm.
Chia sẻ:
Scroll to Top