![]()
BÌNH THIÊN HẠ : CÁC THẾ CHÍNH TRONG QUAN HỆ GIA ĐÌNH & XÃ HỘI
Một người đàn ông trong gia đình và theo vòng đời trải qua ba thế chính sau
– Con
– Chồng
– Cha
Với mỗi người đàn ông, thế con có đầu tiên, tiếp đến là thế chồng, sau đó đến thế cha.
Một phụ nữ trong gia đình cứ nương theo ba thế gốc của người đàn ông mà sống, tạo nên Tam tòng
– Tại gia tòng phụ
– Xuất gia tòng phu
– Phu tử tòng tử
Nguyên tắc nương là âm nương theo dương đối xứng, ví dụ con đối xứng với cha, vợ đối xứng với chồng, tử đối xứng với mẫu.
“Phu tử tòng tử” là bước khó nhất vì đi qua chuyển hoá sinh tử, một người mẹ thực sự tòng tử, đương nhiên sẽ giữ cha cho con, và lúc này bước “tòng phu” và “tòng phụ” lại xuất hiện thông qua vai trò của người mẹ, tạo nên vòng vận hành khép kín của Tam Tòng. “Phu tử tòng tử” là bước thấy rõ nét ở cuộc đời của gần như tất các lãnh tụ tôn giáo như Khổng Tử, Mạnh Tử, Thích Ca, Jesus, Tản Viên Sơn Thánh hay Thánh Gióng.
Một người đàn ông đích thực trong gia đình luôn phải gánh vác cả ba vai con, chồng, cha; tương tự một phụ nữ chuẩn Tam tòng trong gia đình luôn đứng ở ba thế tại gia, xuất gia và phu tử một lúc, dù rằng trong một hoàn cảnh sẽ đứng chính một thế của Tam tòng.
Vợ chồng là thế cơ bản nhất của gia đình và tình yêu của cha mẹ là cái gốc của tình cảm gia đình, nhưng trước khi thành cha mẹ, ai cũng là con của cha mẹ trước. Quan hệ cha mẹ – con là thế đầu đời của bất kỳ con người nào dù trai hay gái. Người cha có thể ẩn hơn người mẹ trong thời điểm sinh con và nuôi con khi con nhỏ, người cha có thể ẩn hơn người mẹ nếu người cha mất trong thai kỳ hoặc người cha bỏ mẹ trong thai kỳ, nhưng không ai ra đời mà không có đủ mẹ cha. Cha mẹ con là một thế bất biến, vĩnh hằng cho mọi giống loài. Tuỳ gia đình mà thế vợ chồng mạnh hơn, hay thế cha mẹ con cái mạnh hơn.
Đây là thế sinh.
Cha mẹ – vợ chồng – con cái tạo nên ba thế cơ bản của mọi gia đình. Đây cũng là ba thế cơ bản của Tam Tòng, trong đó đàn ông trụ thế còn phụ nữ nương thế.
Theo Tam tòng là có Tu thân trong gia, và trong thế Tam tòng thì mới có Tề gia.
Đặt trong quan hệ gia đình nhiều thế hệ thì cao hơn thế cha là thế ông, xa hơn thế con là thế cháu. Quan hệ này tuy ẩn nhưng lại là đương nhiên với bất kỳ đứa trẻ nào. Ông cháu là thế dòng họ, không tính là bộ thế gốc của gia đình theo thân như thế con – chồng – cha. Về mặt linh hồn, dòng họ là một thế bao trùm hơn so với gia đình, vì mọi gia đình đều nằm trong dòng họ, vì có ông thì mới có cha và linh hồn đứa con đến với cha mẹ theo trường dòng họ.
Trật tự quan hệ dòng họ theo Nho giáo là
– Cao tằng tổ (高曾祖), phụ nhi thân (父而身). Thân nhi tử (身而子), tử nhi tôn (子而孫)
– Chí tằng huyền (至曾玄), nãi cửu tộc (乃九族). Nhân chi luân (人之倫)
– Thùy sinh ngã (誰生我), thị phụ dã (是父也). Thùy sinh phụ (誰生父), thị tổ dã (是祖也).
– Thùy sinh tổ (誰生祖), thị tằng tổ (是曾祖). Sinh tằng tổ (生曾祖), thị cao tổ (是高祖).
Bản dịch nghĩa
– Cao, tằng, tổ, bố cùng mình. Mình sinh ra tử, tử sinh ra tôn.
– Tằng, huyền, chín họ bôn chôn. Ấy là đạo lý, làm người chớ quên.
– Ai sinh ra tớ? Cha sinh! Ai sinh ra bố? Ông sinh rõ ràng!
– Ai sinh ra cụ? Cụ tằng! Ai sinh ra cụ tằng? Là cụ cao!
Gia đình là thế sinh, thì dòng họ cũng là thế sinh.
Người đàn ông trong quan hệ xã hội còn có thêm ba thế nữa
– Huynh đệ
– Vua tôi
– Thày trò
Ba thế này tạo nên thế Trị quốc của Nho giáo, mà trong xã hội hiện đại có thể quy về ba dạng quan hệ cơ bản trong công việc và xã hội. Tam Tòng lúc này là
– Trò theo thày
– Tôi theo vua (người làm công theo chủ hoặc dân theo chính quyền, hoặc theo công quyền, công lý, công pháp)
– Đệ theo huynh (huynh đệ có thể theo trật tự tuổi thân, thứ bậc xã hội, dòng máu, tăng đoàn hoặc theo tài đức)
Trị quốc cũng như Tề gia là phải có thế. Vua phải có quốc, trong quốc phải có dân, dưới vua trên dân phải có quan tướng, phải có dân để chỉ đạo dân và bảo vệ gia. Vào thế Tam tòng mới Tề gia được thì cũng phải vào thế Tam tòng mới Trị quốc được.
Ba thế Trị quốc trong Nho giáo trong Phật giáo là Quy y Tam Bảo. Trị quốc và Quy y đều là các thế xuất gia, ngoài gia, đối xứng với Tề gia là thế nội gia, nhập gia
– Quy y Phật ứng, với trò theo thày
– Quy y Pháp ứng, với tôi theo vua hoặc dân theo công pháp
– Quy y Tăng ứng, với đệ theo huynh
Nội gia là thế sinh thì ngoại gia là thế tử.
Khi một người có thể đồng thế và chuyển thế hai chiều với tất cả các thế gốc ở trên, họ đạt được thế Bình thiên hạ, họ trở thành thánh nhân.
Câu “Đặt mình vào địa vị của người khác” khó lắm, vì nó là bản chất của thế Bình thiên hạ.
Trò không đặt được mình vào địa vị thày, trừ khi trò đi dạy. Thày không đặt được vào địa vị của trò, trừ khi thày tự học để tự ngộ ra những thứ mà mình dạy. Tôi không đặt mình được vào địa vị của vua, trừ khi họ cũng làm vua một cách nào đó. Vua không đặt mình được vào địa vị của tôi được, trừ các vị vua đi lên từ dân và lên làm vua rồi mà vẫn giữ được tâm thế của dân.
Người đọc lịch sử, đọc nhiều hay ít không quan trọng, phân tích sâu hay nông không quan trọng, nếu đã không có cái thế làm vua, họ sẽ không bao giờ hiểu một ông vua, nếu đã không có thế làm quan, họ sẽ không bao giờ hiểu một ông quan, thậm chí nếu một người cố hiểu vua quan, như một ngoại thế, trong khi thế làm dân chưa vững, họ có khả năng mất luôn cái gốc làm dân là nội thế gia đình, là cái dễ nhất với họ để hiểu ông vua hay ông quan này.
Nghĩa là, một người sẽ không bao giờ thực hiểu sử, không có cách nào hiểu sử, không có cách nào phân tích sử, không có cách nào viết sử, không có cách nào đọc sử, nếu họ không ở thế bình thiên hạ.
Bình thiên hạ là thế cho phép thấy chân lý, là cái gốc của pháp, qua các hiện tượng. Hiện tượng và chân lý của hiện tượng sẽ tạo nên hiện thực. Đây cũng là gốc của nguyên tắc thiền quán Vipassana “Hiện thực như nó chính là”
Cuối đời khi đã đạt cấp thánh, Khổng Tử mới đi ngao du thiên hạ và viết kinh Xuân Thu. Người đọc kinh Xuân Thu, tuỳ cái thế của mình, chỉ hiểu được phần nào những điều Khổng Tử viết. Kinh nào cũng vậy, đều được viết từ cái thế bình thiên hạ, cho tất cả thiên hạ, nhưng người thường hầu như không thể hiểu được cái gốc của kinh, mặc dù có thể được hiểu một số phần

