THỞ : CÁC DẠNG THẾ

Loading

THẾ CHỦ THỂ
Một người thiền có 4 thế
– THẾ THÂN VẬT LÝ ví dụ đang ngồi kiết già
– THẾ THÂN NĂNG LƯỢNG : Là các thể ánh sáng (hào quang) và thể âm thanh (âm cung). Thế thân năng lượng đặc biệt liên quan hệ trục toạ độ cơ bản, gồm mặt phẳng dọc (sagittal), mặt phẳng chi (coronal), mặt phẳng ngang (transverse).
– THẾ TÂM ví dụ một trường buồn ngủ tràn đến ập vào đầu và ngực người này và tâm người này bị chìm trong cơn buồn ngủ thay vì quan sát nó và người này chuyển tư thế sang nằm, lúc này cơn buồn ngủ hoàn toàn chiếm lĩnh cả thân và tâm
THẾ MÔI TRƯỜNG
Người thiền đang ngồi trên mặt đất nghiêng, làm thế ngồi không vững. Thế này là thế môi trường vật lý, đối ứng với thế thân vật lý.
Mảnh đất này ở bên dưới cái cây trong rừng. Trường sinh học của rừng bao lấy người này, đối ứng với thế thân năng lượng.
Người này có thể chọn thế môi trường gốc là Trái đất, mà có cả vật lý, năng lượng và tâm thức.
Ví dụ về một thế ngồi vững trong môi trường (an toạ) có thể là thế ngồi kiết già, các hệ toạ độ của thân khớp với môi trường, hít thở chính là đưa một luồng khí từ môi trường vào trong cơ thể và tâm quan sát tất cả các trạng thái thân, tâm, thở nói trên.
THẾ CỦA ĐỐI TƯỢNG QUAN SÁT VỚI CHỦ THỂ QUAN SÁT
Thiền là trạng thái quan sát của chủ thể quan sát với đối tượng quan sát
– NGOẠI THẾ : Đối tượng quan sát nằm bên ngoài chủ thể quan sát, ví dụ một người hít vào từ trên đỉnh đầu thì thấy luồng ánh sáng đổ xuống đỉnh đầu
– NỘI THẾ : Đối tượng quan sát nằm bên trong chủ thể quan sát, ví dụ một người lắng nghe nhịp thở của chính mình.
– TỪ NGOẠI THÀNH NỘI : Đối tượng quan sát đi từ ngoài vào trong chủ thể quan sát, ví dụ quan sát một hơi thở đi vào mũi khi hít vào
– TỪ NỘI THÀNH NGOẠI : Đối tượng quan sát đi từ trong ra ngoài chủ thể quan sát, ví dụ quan sát một hơi thở đi từ tim ra khỏi tim
– CHẬP THẾ : Đối tượng quan sát trùng với chủ thể quan sát. Một người quan sát hơi thở của chính mình bằng cách đi theo hơi thở đó từ đỉnh đầu xuống đáy cơ thể. Hơi thở đi đến đâu thì tâm quan sát chạy theo đến đó.
– THUẬN THẾ : Một người hít thở từ trên đỉnh đầu xuống tim và đặt tâm quan sát ở tim nhìn ngược lên. Khi hơi thở đã đi qua tim xuống đáy cơ thể, người này đổi hướng quan sát theo chiều hơi thở, nghĩa là nhìn từ tìm xuống đáy cơ thể.
– NGHỊCH THẾ : Một người hít thở từ đáy cơ thể lên tim, nhưng lại quan sát từ tim lên đỉnh đầu.
– ĐỒNG THẾ : Đối tượng quan sát đồng vận hành với chủ thể quan sát. Người vừa dẫn thiền vừa thở đúng như lời dẫn, khi người này thở từ tim trước vào tim sau, thấy đau và trống phía sau tim, thì sẽ nhận ra rằng trong lớp có học sinh đang bị như vậy. Đây là do hiện tượng đồng thế, người dẫn thiền không quan sát trực tiếp bất kỳ học sinh nào trong lớp, mà chỉ đồng thế thân và thế thở với học sinh thôi.
NHẬP THẾ & XUẤT THẾ
Vào thiền gọi là nhập thế, gồm tất cả các thế ở trên. Một người vào thiền cần tự quan sát tất cả các thế của mình và đồng hơi thở với tất cả các thế được quan sát.
Ra khỏi thiền gọi là xuất thế, gồm tất cả các thế ở trên. Một người vào thiền cần có ý thức ra khỏi thiền ở một thế thân tâm nào đó phù hợp
Chia sẻ:
Scroll to Top