![]()
Trên bản đồ Giang Tây nằm ở phía nam Trung Quốc, nhưng Giang Tây không quá xa xôi với người Việt vì tỉnh này tràn ngập trong ca dao Việt.
Sau đây là vài câu nổi tiếng
Đầu Ngô mình Sở
Chàng về Hồ, thiếp cũng về Hồ
Chàng về Hồ Hán, thiếp về Hồ Tây
Chơi cho nước Tấn sang Hồ
Nước Tần sang Sở, nước Ngô sang Lào
Chơi cho gió lọt song đào
Cho người thục nữ lọt vào tay anh
Lý do cho việc Giang Tô lại xuất hiện trong ca dao Việt
– Vùng đất phía Nam sông Dương Tử xưa thuộc về nước Việt
– Lưỡng nghi của Giang Tô là thế cơ bản của nước Việt, thế “nước đôi”
GIANG TÂY : ĐẦU NGÔ MÌNH SỞ
Thành ngữ thuần Việt chứ không phải thành ngữ Trung Quốc có câu “đầu Ngô mình Sở”.
Thành ngữ được hiểu là sự lắp ghép kì quái, chắp vá lộn xộn, ví như cái đầu của người Ngô, mà cái mình lại của người Sở hoặc ăn mặc kiểu người Sở.
Thành ngữ này bắt nguồn từ câu mô tả địa thế của đất Dự Chương (Trung Quốc) trong Chức phương thặng của Hồng Sô : Dự Chương chi địa vi Ngô đầu Sở vĩ, nghĩa là “Đất Dự Chương là đất ở đầu nước Ngô, cuối nước Sở.” Sở dĩ nói vậy vì vùng này về mặt địa lí thì giáp với miền thượng du của Giang Tô, xưa thuộc đất Ngô, và miền hạ du của Hồ Bắc, xưa là đất Việt.
Khoảng năm 202 TCN, thời Hán Cao Tổ, triều đình Nhà Hán đã thiết lập Dự Chương quận (sông Cám trước đây gọi là sông Dự Chương), trị sở của quận này đặt tại Nam Xương (ý là “Xương đại nam cường” và “Nam phương xương thịnh”), đây cũng là quận đầu tiên mà các triều đại Trung Quốc thiết lập riêng cho Giang Tây. Dự Chương quản lý 18 huyện, cương vực đại thể tương đương với Hồ Nam ngày nay. Các thành phố lớn tại Giang Tây hiện nay là Nam Xương, Cống Châu, Cát An đã được phát triển từ các huyện thành vào thời gian đó.
Ngày này, người ta thường đồng hoá Dự Chương với tên gọi cổ của khu vực thành phố Nam Xương, thủ phủ tỉnh Giang Tây (Jiangxi) trên bản đồ Trung Quốc ngày nay, chếch về phía nam của sông Dương Tử và ngay bờ nam sông Cám (Ganjiang), phía đông tiếp giáp hồ Bà Dương (Poyang) – hồ nước ngọt lớn nhất Trung Quốc.
Cứ tạm tính là từ Nam Xương đi ra về phía Đông Bắc về hạ nguồn sông Dương Tử là đất Ngô và từ Nam Xương đi sang Tây Nam là đất Sở, thì Giang Tây chính là tỉnh tiêu biểu cho câu “đầu Ngô mình Sở” này của Trung Quốc.
GIANG TÂY & SÔNG NGÔ BỂ SỞ
Phần lớn tỉnh Giang Tây thuộc nước Sở, nhưng phần phía Bắc gồm thủ phủ của tỉnh này Nam Dương lại thuộc nước Ngô, cho nên tỉnh này rơi vào tình huống vừa là bể Sở vừa là sông Ngô, cũng chính là tình huống “đầu Ngô mình Sở” nói ở trên.
Ca dao có nhắc dùng thành ngữ “bể Sở sông Ngô”
Chồng chài, vợ lưới, con câu,
Sông Ngô bể Sở biết đâu là nhà.
hoặc
Sầu từ bể Sở, sông Ngô
Lấy ai chăm sóc sớm khuya việc chường
Sông Ngô nổi tiếng trong thành ngữ “Gánh vàng đi đổ sông Ngô” liên quan đến bốn tỉnh có chữ Giang của Trung Quốc và các con chính của các tỉnh này hiện nay là
– Chiết Giang (sông Tiền Đường hay sông Chiết),
– Giang Tô (sông Hoài, trước thông thẳng với Hoàng Hà và ra biển Đông nay chỉ có thể ra biển qua Dương Tử và chỉ gián tiếp nối với Hoàng Hà qua Đại Vận Hà),
– Thượng Hải (cửa sông Dương Tử, Thượng Hải trước thuộc Giang Tô)
– An Huy (sông Hoài, An Huy trước là một với Giang Tô),
– Giang Tây (sông Cám, phụ lưu của Dương Tử).
Bể Sở là hồ nước ngọt, hồ bồn địa do ngập úng của sông Dương Tử, đối xứng với Tứ Hải này. Bể Sở là bể nước ngọt, khác với Tứ Hải là bể nước mặn. Tứ Hải của Trung Quốc là
– Hồ Baikal (Bắc Hải),
– Biển Hoa Đông (Đông Hải)
– Biển Đông (Nam Hải).
– Hồ Thanh Hải là nước mặn lớn nhất Trung Quốc
CHƠI CHO NƯỚC TẤN SANG HỒ, NƯỚC TẦN SANG SỞ, NƯỚC NGÔ SANG LÀO
Chơi cho nước Tấn sang Hồ
Nước Tần sang Sở, nước Ngô sang Lào
Chơi cho gió lọt song đào
Cho người thục nữ lọt vào tay anh
Vào thời Xuân Thu, phần phía bắc của tỉnh Giang Tây ngày nay nằm trên biên giới phía tây của nước Ngô, phần còn lại thuộc về nước Sở. Sau khi nước Việt chinh phạt nước Ngô vào năm 477 TCN, nước Sở đã nắm quyền kiểm soát bắc bộ Giang Tây. Nước Sở chinh phục nước Việt vào năm 333 TCN, song bản thân nó lại bị nước Tần thôn tính vào năm 223 TCN.
Giang Tây
– Có tên là Giang Tây, nhưng chỉ có vùng Bắc thuộc xứ Ngô, với đặc trưng sông Ngô và mang tên Giang như Giang Nam (Giang Tô và Chiết Giang)
– Không mang tên chính thức là Hồ như Hồ Nam và Hồ Bắc, nhưng vẫn được gọi là Hồ Hán theo tên sông chính của tỉnh, sông Cám
– Phần lớn diện tích của tỉnh thuộc nước Sở, là vùng trũng trung du phía nam của sông Dương Tử, đối xứng với Tần Tấn là vùng núi cao phía bắc liên quan đến sông Hoàng Hà
Bài ca dao này mô tả địa thế và tâm thế của Giang Tô, là tỉnh ăn chơi kiểu đứng giữa nga ba đường, đi hướng nào cũng được
SÔNG CẢM (HAY SÔNG CÔNG)
Sông Cám hay Cám Giang là một trong 7 chi lưu lớn của sông Trường Giang, là con sông lớn nhất trong tỉnh Giang Tây, chảy theo hướng nam bắc xuyên qua tỉnh Giang Tây. Sông Cám dài 991 km, trong đó chủ lưu dài 751 km, lưu vực diện tích 83.500 km².
Cám (赣/贛), thời cổ đại viết là Cám (灨). Trước thời kỳ nhà Tần sông Cám Giang được gọi là Dương Hán, thời nhà Hán gọi là Hồ Hán, tên gọi Cám thủy xuất hiện lần đầu tiên trong “Sơn Hải kinh” quyển 13 phần “hải nội đông kinh”: “Cám thủy xuất phát từ Nhiếp Đô sơn, chảy theo hướng đông bắc, chảy vào phía tây đầm Bành.”
Về nguồn gốc tên gọi của Cám Giang có 2 thuyết là thuyết Chương Cống hợp lưu và thuyết người khổng lồ Cám:
Thuyết Chương Cống hợp lưu là thuyết phổ biến từ lâu. Sông Chương (Chương Thủy) và sông Cống (Cống Thủy) tại Cám Châu hợp lưu tạo thành Cám Giang. Về mặt ký tự, bên trái là chữ Chương (章), bên phải là chữ Cống (貢) hợp lại thành chữ “Cám” (贑), giống như trên thực tế với bên tả ngạn là Chương Thủy, bên hữu ngạn là Cống Thủy. Tuy nhiên, thuyết này có vấn đề do chữ “Cám” có từ trước thời kỳ nhà Tần, nhưng chữ “Cống” chỉ có từ thời kỳ nhà Đường trở về sau.
Thuyết người khổng lồ Cám lần đầu tiên xuất hiện trong “Sơn Hải kinh•hải nội kinh”: “Phương Nam có giống người khổng lồ Cám, mặt người tay dài, thân hình đen có lông, gót chân ngược.” Quách Phác (276-324) thời nhà Tấn có ghi chú cho “Sơn hải kinh”: “Nay ở quận Nam Khang Giao Châu giữa vùng núi sâu có sinh vật đó. Cao cỡ một trượng, gót chân ngược, chạy khỏe, tóc rậm, hay cười…. Nam Khang nay có Cám Thủy, vì có giống người, nhân đó lấy làm tên gọi.”
HỒ HÁN
Ca dao Việt có câu
Chàng về Hồ, thiếp cũng về Hồ
Chàng về Hồ Hán, thiếp về Hồ Tây
Hồ Tây ở Hà Nội, là hồ nước ngọt lớn nhất ở Hà Nội, Hà Nội là thành phố có nhiều hồ nhất đất nước Việt Nam.
Hồ Tây cũng là cái hồ lớn ở Hàng Châu, tỉnh Chiết Giang. Tại Trung Quốc có tới 800 địa danh mang cái tên Hồ Tây, nhưng mỗi khi nhắc đến Tây Hồ, người ta biết ngay đó là hồ nước thơ mộng ở thành phố Hàng Châu. Trước đây Tây Hồ vốn là một vịnh nhỏ, sau đó được đắp đê, biến thành một phá nước và dần dần trở thành một hồ nằm trong nội địa. Tây Hồ không có được vẻ hoành tráng, hoang dã như các hồ nước lớn khác của Trung Quốc nhưng lại mang vẻ tinh tế, xảo nhã với rất nhiều dấu ấn của con người. Quanh hồ nước này có rất nhiều di tích như mộ và miếu thờ Nhạc Phi, mộ người anh hùng diệt hổ Võ Tòng hay chùa Linh Ẩn. Câu “tam đảo ngũ hồ” thường dùng trong văn chương chính là để chỉ Tây Hồ, nơi có những cảnh đẹp mê người.
Hồ Hán là tên gọi của sông Cám, con sông lớn nhất của tỉnh Giang Tây Trung Quốc. Giang Tây cũng là tỉnh có hồ nước ngọt lớn nhất Bá Dương, nằm trên con sông Cám này luôn.
Sông Cám hay Cám Giang là một trong 7 chi lưu lớn của sông Trường Giang, là con sông lớn nhất trong tỉnh Giang Tây, chảy theo hướng nam bắc xuyên qua tỉnh Giang Tây. Cám (赣/贛), thời cổ đại viết là Cám (灨). Trước thời kỳ nhà Tần sông Cám Giang được gọi là Dương Hán, thời nhà Hán gọi là Hồ Hán.
Như vậy, Trung Quốc có tỉnh Hồ Nam, Hồ Bắc và Hồ Hán là Giang Tây và Hồ Tây thuộc Chiết Giang.
HỒ BÀ DƯƠNG
Hồ Bà Dương tọa lạc tại tỉnh Giang Tây của Trung Quốc hoặc hồ Phàn Dương, Phiền Dương”, Phồn Dương (có thể là âm Hán Việt truyền thống trong tên gọi địa danh này).
Hồ Bà Dương là hồ nước ngọt có lẽ có diện tích bề mặt rộng nhất Trung Quốc.
Hồ Bà Dương thông ra sông Trường Giang, theo dòng chảy của sông Cám.
Hồ Bà Dương là nơi sinh sống của các loại chim di cư và là một nơi đến tham quan ưa thích cho những ai ưa thích các loài này. Trong mùa đông, đây là nơi sinh sống của sếu trắng (Grus leucogeranus), tới 90% quần thể loài này trú đông tại đây.
Các hồ lớn nhất của Trung Quốc thuộc hệ thống sông hồ miền Nam
– Giang Tây : hồ Bá Dương là hồ lớn nhất, thuộc hệ thống sông Trường Giang
– Hà Nam : hồ Động Đình là hồ lớn thứ hai, thuộc hệ thống sông Trường Giang
– Giang Tô : Thái Hồ (thứ 3), Hồng Trạch (thứ 4)
GIANG TÂY : RỐN NƯỚC DƯƠNG TỬ
Sông Dương Tử được chia thành 3 khúc
– Thượng du : Bắt nguồn từ cao nguyên Thanh Tạng (tỉnh Thanh Hải), chảy qua Tây Tạng, Tứ Xuyên đến thành phố Nghi Xương (Hồ Bắc). Dòng chảy hẹp, độ dốc cao.
– Trung du : Đoạn từ Nghi Xương (Hồ Bắc) đến Hồ Khẩu (Giang Tây), nơi sông tiếp giáp với hồ Bà Dương. Đặc điểm : Khu vực lòng chảo trũng, nhiều khúc quanh co, chia nhánh. Trước khi có đập Tam Hiệp, đây là đoạn thường xuyên xảy ra lũ lụt nghiêm trọng, vì có địa hình bồn địa hay lòng chảo.
– Hạ du : Đoạn từ Hồ Khẩu (Giang Tây) đổ ra biển Hoa Đông, bao phủ vùng đồng bằng châu thổ rộng lớn. Đặc điểm: Lòng sông rộng, nước chảy chậm, hệ thống kênh rạch chằng chịt, mật độ dân số cực kỳ đông đúc. Đây là vùng kinh tế phát triển mạnh nhất dọc sông đi qua Nam Kinh, Tô Châu, và kết thúc tại Thượng Hải trong tuyến đồng bằng sông Dương Tử
Nước Ngô ứng với vùng hạ du, là cửa sông ra biển, nơi các dòng sông tách nhau ra mà cũng hợp nhau lại trước khi ra biển. Tạo nên thế sông Ngô. Nước Sở là trung du, là bồn địa trũng tạo nên thế bể Sở. Giang Tây ở vị tri chuyển từ trung du sang hạ du, khiến cho tỉnh này nửa bên Sở nửa bên Ngô. Tạo nên câu “sông Ngô bể Sở”
Ngoài ra thế đất của tỉnh lại ngược với thế sông và thế núi, nghĩa là thế sông là thượng nguồn bên tây và hạ nguồn bên đông, thế núi cao bên nam thấp ở bắc, nhưng thế của tỉnh Giang tây ngược lai, đầu về bên Ngô, đuôi về bên Sở. Tạo nên câu “đầu Ngô mình Sở”.
Vị trí của Giang Tây nói riêng và Sở nói riêng là vị trí rốn nước của Dương Tử, Hồ Bà Dương có vai trò quan trọng là hồ rốn của Dương Tử.
