![]()
TỪ HẢI Ở ĐẤT NGÔ CÔNG & THẾ CÔNG
Từ Hải là người Việt Đông như truyện Kiều đã nói nhưng gặp Kiều ở đất Ngô, mà còn có tên là đất Ngô Công, và thành anh hùng ở xứ Hải Tần. Hải Tần là xứ ở Đông Nam của nước Ngô và nước Việt xưa, là vùng giàu có nhưng lại xa xôi đối với đất Tần ở Thiểm Tây vùng Tây Bắc Trung Quốc, nơi định đô của các triều đại Chu, Tần, Hán … Chính vì thế, đất Ngô nói riêng và cả vùng đất phía Nam sông Dương Tử của nước Ngô, nước Sở và nước Việt nói chung nổi tiếng vì có nhiều anh hùng hảo hán từ đời này đến đời khác hùng cứ phương nam chống triều đình phương bắc. Từ Hải chính là một trong nhưng anh hùng hảo hán phương nam như vậy.
Đất Ngô Công như cái tên của nó, nổi tiếng về thế Công, mà yếu thế Thủ, với hai nhân vật nổi tiếng
– Ngô Vương Phù Sai thời Xuân Thu Chiến Quốc, bỏ đất Ngô, sông Hoài tấn công nước Tề ở phía Bắc (Sơn Đông ngày nay), bị Câu Tiễn nước Việt ở phía Nam tấn công, cuối cùng phải chịu bại vong
– Hạng Vũ thời Hán Sở Tranh Hùng, sang phía Tây đánh Tần, nhưng bị thua trên đường chạy từ phía Tây về Thành Bành nước Sở của mình ở phía Đông. Lưu Bang chiến thắng Hạng Vũ, thành lập nên nước Hán.
Từ Hải cũng là người công mạnh, thủ yếu như vậy, bỏ thế công hoặc thế công quá đà là lúc Từ Hải suy vong. Trong thế suy vong của Ngô Vương Phù Sai có Tây Thi, của Hạng Vũ có Ngu Cơ, và của Từ Hải có Kiều.
THẾ NGỒI KHI CÔNG THÀNH DANH TOẠI
Sau khi gặp Kiều một thời gian, Từ Hải đã chiếm được năm huyện thành phía nam, gây dựng được triều đỉnh riêng đủ cả văn và võ, hoàn toàn tách rời khỏi triều đình nhà Minh ở phương Bắc.
Thừa cơ trúc chẻ, ngói tan,
Binh uy từ ấy sấm ran trong ngoài.
Triều đình riêng một góc trời,
Gồm hai văn võ, rạch đôi sơn hà.
Đòi cơn gió quét, mưa sa,
Huyện thành đạp đổ năm toà cõi nam.
Phong trần, mài một lưỡi gươm,
Những loài giá áo, túi cơm sá gì!
Nghênh ngang một cõi biên thuỳ,
Thiếu gì cô quả, thiếu gì bá vương.
Trước cờ ai dám tranh cường,
Năm năm hùng cứ một phương hải tần.
Thấm thoắt triều đình của Từ Hải đã tồn tại được năm năm, cũng là năm năm, Từ Hải được ở trong thế ngồi, nghĩa là không công hẳn cũng không thủ hẳn. Năm nay chính là thời hạn mà Giác Duyên đã báo với Kiều rằng hai người sẽ gặp lại, theo tiên tri của Tam Hợp Đạo Cô.
Có quan tổng đốc trọng thần,
Là Hồ Tôn Hiến, kinh luân gồm tài.
Đẩy xe vâng chỉ đặc sai,
Tiện nghi bát tiễu, việc ngoài đổng nhung.
Biết Từ là đấng anh hùng,
Biết nàng cũng dự quân trung luận bàn.
Đóng quân, làm chước chiêu an,
Ngọc vàng, gấm vóc, sai quan thuyết hàng.
Lại riêng một lễ với nàng:
Hai tên thể nữ, ngọc vàng nghìn cân.
Bởi vì thế công của Từ Hải đã nhiều chiến công đến mức công thành, danh toại, thì tự dưng sẽ mất đi động lực, nếu thế công này không được chuyển hoá sang các dạng công khác như kinh bang tế thế, xây dựng công trình, phát triển kinh tế, mở rộng đất nước … thì đó chính là lúc có biến.
Ở cuối đại vận năm năm này, xuất hiện Hồ Tôn Hiến, là quan của triều đình nhà Minh, được lệnh triều đình Bắc Kinh xuống miền Nam dẹp giặc. Biết không thể dùng quân đội để đánh Từ Hải, nên Hồ Tôn Hiến lập mưu chiêu an, dụ Từ Hàng ra hàng triều đình, với bộc lộc vàng bạc.
Tin vào gửi trước trung quân,
Từ công riêng hãy mười phân hồ đồ.
Một tay gây dựng cơ đồ,
Bấy lâu bể Sở, sông Ngô tung hoành!
Bó thân về với triều đình,
Hàng thần lơ láo, phận mình ra đâu?
Áo xiêm ràng buộc lấy nhau
Vào luồn ra cúi, công hầu mà chi?
Sao bằng riêng một biên thuỳ,
Sức này, đã dễ làm gì được nhau?
Chọc trời, quấy nước, mặc dầu,
Dọc ngang nào biết trên đầu có ai.
Nhận tin chiêu hàng này, Từ Hải không đồng ý, cho rằng mình một tay xây dựng cơ đồ, ở nơi bể Sở sông Ngô, vốn đất từ thời Chu đã luôn giữ một vị thế độc lập với phương Bắc. Nay chấp nhận làm hàng quan của triều đình nhà Minh, đặt số phận của mình vào tay người khác không biết số phận mình ra sao. Từ Hải cũng không thích làm quan triều đình phải luồn cúi, không tự do bằng việc lập triều đinh riêng ở vùng biên thuỳ này. Từ Hải cho rằng với thực lực hiện, triều đình chưa dễ mà làm được gì được mình.
THẾ CÔNG CHUYỂN SANG THẾ HÀNG & MẮC MƯU
Nàng thì thật dạ tin người,
Lễ nhiều, nói ngọt, nghe lời dễ xiêu.
Nghĩ mình mặt nước, cánh bèo,
Đã nhiều lưu lạc, lại nhiều gian truân.
Bằng nay chịu tiếng vương thần,
Thênh thênh đường cái thanh vân hẹp gì.
Công, tư, vẹn cả hai bề,
Dần dà rồi sẽ liệu về cố hương.
Cũng ngôi mệnh phụ đường đường,
Nở nang mày mặt, rỡ ràng mẹ cha.
Trên vì nước, dưới vì nhà,
Một là đắc hiếu, hai là đắc trung.
Chẳng hơn chiếc bách giữa dòng,
E dè sóng vỗ, hãi hùng nước sa
Xuất phát là người Bắc Kinh, mang nặng tư tưởng trung quân của Nho giáo, Kiều vẫn cho rằng ra hàng là một giải pháp “trên vì nước, dưới vì nhà”. Nghĩa là Kiều cho rằng lợi ích của dân và của vua quan triều đình là hoà hợp, vị thế của miền bắc và miền nam cơ bản là một, vẫn là dưới vua.
Nhân khi bàn bạc gần xa,
Thừa cơ, nàng mới bàn ra, nói vào.
Rằng : trong Thánh Trạch dồi dào
Tưới ra đã khắp, thấm vào đã sâu.
Bình thành công đức bấy lâu,
Ai ai cũng đội trên đầu biết bao.
Ngẫm từ dấy việc binh đao,
Đống xương Vô Định đã cao bằng đầu.
Làm chi để tiếng về sau,
Nghìn năm ai có khen đâu Hoàng Sào.
Sao bằng lộc trọng, quyền cao,
Công danh ai dứt lối nào cho qua?”
Có thể thấy rõ ràng thế mà Từ Hải, một người đàn ông gốc nam tự tay gây dựng cơ đồ, lựa chọn khác hẳn cái thế mà Kiều, một người đàn bà phương bắc sau 10 năm lăn lộn ở lầu xanh mới nương tựa được vào một người đàn ông phương nam, lựa chọn.
Dù trải qua hơn 10 năm lưu lạc ở lầu xanh vì án oan của quan triều đình, và trải qua 5 năm cùng Từ Hải, nhưng Kiều vẫn cho rằng có thể đem số phận của mình đặt vào tay tầng lớp quan lại. Cũng có thể bản chất là nữ, Kiều thích nương tựa vào những thể chế chính thống, mà số đông cho là an toàn, sợ lại phải trải qua những chuyện can qua trong tương lai.
Dù vì lý do gì, thì Hồ Tôn Hiến đã nắm được điểm yếu này và sự không thống nhất giữa Kiều và Từ Hải để xoáy vào.
Nghe lời nàng nói mặn mà,
Thế công, Từ mới trở ra thế hàng.
Chỉnh nghi tiếp sứ vội vàng,
Hẹn kỳ thúc giáp, quyết đường giải binh.
Tin lời thành hạ yêu minh,
Ngọn cờ ngơ ngác, trống canh trễ tràng.
Việc binh bỏ chẳng giữ giàng,
Vương sư dòm đã tỏ tường thực hư.
Hồ công quyết kế thừa cơ,
Lễ tiên, binh hậu, khắc cờ tập công.
Kéo cờ chiêu phủ tiên phong,
Lễ nghi dàn trước, bác đồng phục sau.
Từ công hờ hững biết đâu,
Đại quan lễ phục ra đầu cửa viên.
Hồ công ám hiệu trận tiền,
Ba bề phát súng, bốn bên kéo cờ.
Từ Hải cuối cùng đã nghe lời Kiều, từ thế công trở ra thế hàng. Nhận thấy thời cơ đến, Hồ Tôn Hiến trở mặt tấn công.
TỪ HẢI CHẾT TRONG THẾ ĐỨNG, QUAY LẠI THẾ CÔNG
Đang khi bất ý chẳng ngờ,
Hùm thiêng khi đã sa cơ cũng hèn!
Tử sinh, liều giữa trận tiền,
Dạn dày cho biết gan liền tướng quân!
Khí thiêng khi đã về thần,
Nhơn nhơn còn đứng chôn chân giữa vòng.
Trơ như đá, vững như đồng,
Ai lay chẳng chuyển, ai rung chẳng rời.
Cái chết của Từ Hải là một những cảnh oai hùng và bi thương nhất trong truyện Kiều. Từ Hải chết đứng, không phải vì bất ngờ, không phải vì không chấp nhận nổi sự thật bị phản bội. Khi Từ Hải chuyển từ thế công sang thế hàng, không phải vì Hồ Tôn Hiến, mà chủ yếu là vì Kiều và vì chính mình không còn có động lực cho thế công nữa khi đã thành công rồi, cho nên khi nhận ra mình đã mắc mưu, Từ Hải đã chuyển lại về thế công, Từ Hải lựa chọn chết đứng trong thế công này. Ý chí của Từ Hải không thể bị khuất phục bởi Hồ Tôn Hiến.
TỪ HẢI TỪ THẾ CHẾT ĐỨNG CHUYỂN SANG THẾ NẰM
Quan quân truy sát đuổi dài,
Hằm hằm sát khí, ngất trời ai đang.
Trong hào, ngoài luỹ, tan hoang,
Loạn quân vừa dắt tay nàng đến nơi.
Trong vòng tên đá bời bời,
Thấy Từ còn đứng giữa trời trơ trơ.
Khóc rằng: “Trí dũng có thừa,
Bởi nghe lời thiếp, đến cơ sự này!
Mặt nào trông thấy nhau đây?
Thà liều sống chết một ngày với nhau!”
Dòng thu như xối cơn sầu,
Dứt lời, nàng cũng gieo đầu một bên.
Lạ thay oan khí tương triền!
Nàng vừa phục xuống, Từ liền ngã ra.
Kiều chạy đến giữa chiến trường để tìm Từ Hải, chỉ thấy Từ Hải đã chết mà vẫn còn đứng giữa trời trơ trơ. Kiều khóc than rằng Từ Hải đã chết do nghe lời mình và liều chết muốn ở lại bên Từ Hải, thì xác chết đứng Từ Hải như có cảm ứng liền ngã ra. Từ Hải chết đứng trước quân thù nhưng chết nằm xuống bên cạnh Kiều. Có thể Từ Hải muốn Kiều biết là Từ Hải hiểu được tấm lòng của Kiều. Có thể Từ Hải cũng lựa chọn mình sẽ chết với sự hiện diện của ai, mình chết vì ai, thì đó là Kiều. Có thể vì việc nào cần làm Từ Hải đã làm rồi, nên Từ Hải nằm xuống để thực sự kết thúc cuộc đời mình ở đây bên cạnh Kiều.
Dù sống hay chết, dù đứng hay nằm, Từ Hải vẫn luôn tự quyết định cái thế mà mình ở trong đó. Đó là bản chất của một người anh hùng. Điều này rất khác với Kiều, luôn ở trong cái thế mà người khác đã lựa chọn cho mình, cái thế mà người khác đã đẩy mình vào đó, cho dù là trước đó với Mã Giám Sinh, Tú Bà, Thúc Sinh, Hoạn Thư, Bạc Bà, Bạch Hạnh hay sau này với Hồ Tôn Hiến. Không phải vì Kiều không đủ anh hùng, mà vì Kiều là đàn bà, còn Từ Hải là đàn ông. Có một sự khác biệt mang tính bản chất giữa đàn ông và đàn bà, đàn ông như Từ Hải luôn tự đứng thẳng giữa trời đất, còn đàn bà như Kiều lại luôn “cần ai đó để nương tựa vào”.
Lại nhớ câu mà Từ Hải đã nói với Kiều trong lần đầu gặp mặt “Một đời được mấy anh hùng, Bõ chi cá chậu, chim lồng mà chơi?””, suy cho cùng bản tính của Kiều là chỉ muốn yên ổn ở trong cái lồng mà người khác đưa mình vào, thì dù có được Từ Hải đưa ra khỏi lồng này, thì Kiều cũng sẽ tự chui đầu vào một cái lồng khác, mà chính là cái bẫy cuả Hồ Tôn Hiến. Chừng nào Kiều vẫn còn là con chim trong cái lồng về tinh thần, Kiều còn tự biến mình con mồi, Kiều còn tự chui đầu vào cái bẫy của những kẻ khác.
Từ Hải đã đổi thế ngay khi chết, và Kiều cũng đã làm được như vậy. Giây phút Kiều nhận ra việc mình đã tự đưa mình và Từ Hải vào cái bẫy của kẻ săn mồi của Hồ Tôn Hiến và dứt khoát gieo mình xuống sông Tiền Đường để thoát khỏi Hồ Tôn Hiến, thì Kiều đã tự giải thoát mình ra khỏi cái tư tưởng gốc “con chim trong lồng”, “con mồi trong bẫy” của mình, và kết thúc Đoạn trường.
Từ Hải đã chết vì chính mình và cũng vì Kiều, nhưng cái chết đứng oai hùng của Từ Hải đã không vô ích. Nếu Từ Hải không chết, thì Kiều có thể chẳng bao giờ đi được đến cùng bài học về việc phải lập lựa chọn cái thế của mình, thay vì nương theo cái thế có sẵn của người khác bày ra cho mình.
