TAM HỢP ĐẠO CÔ

Loading

TÊN CỦA TAM HỢP ĐẠO CÔ
Đạo Cô là xưng danh của một theo Đạo giáo.
Cách gọi tên trong đạo Phật
– Phật tử : Tên chung cho người tu theo đạo Phật, dùng để tự gọi mình cũng như gọi chung người đồng tu không phân biệt tên riêng. Phật tử là đứa con của cha mẹ Phật, Phật tử là phần tử của tăng đoàn mà được liên kết bởi mẫu số chung là Phật Pháp.
– Người tu đạo Phật dùng pháp danh, là tên đạo, thay cho tên cha mẹ đặt, vì họ đã xuất gia. Kể cả cư sỹ tu tại gia cũng có thể đặt pháp danh thay tên cha mẹ đặt, về thế đạo của họ là xuất thế, đạo Phật là đạo xuất thế.
– Sư để tên đạo sau họ Thích của đức Thích Ca, đại diện cho họ cha, họ của tất cả những người trong tăng đoàn của đức Phật Tổ Thích ca
Cách gọi tên trong Nho giáo
– Nho sinh là môn sinh Nho học.
– Quân tử trong nguyên nghĩa ban đầu là con (tử) của vua cha (quân, quân chủ, quân vương hoặc người thuộc tầng lớp quý tộc, cai trị thời nhà Chu). Sang đến thời Xuân Thu, thông qua tư tưởng của Khổng Tử, khái niệm này đã thay đổi căn bản:từ chỗ phụ thuộc vào xuất thân dòng dõi, “quân tử” trở thành hình mẫu nhân cách đạo đức lý tưởng của Nho giáo, đối lập với “tiểu nhân”.
– Người theo Nho Giáo, đi đường nhập thế, xuất phát từ thế gia đình dòng họ, nên tự gọi mình là Tử thay cho tên riêng và phân biệt với bằng họ như Khổng Tử, Mạnh Tử, Trang Tử…
Cách gọi tên người tu theo Đạo Giáo
– Đạo : Đạo Cô (nữ) – Đạo Nhân (nam), ví dụ Tam Hợp Đạo Cô của truyện Kiều
– Chân nhân là người tu đã đắc đạo ví dụ Thất Ất Chân Nhân, Đạo Đức Chân Nhân …
– Tiên hoặc tiên nhân ví dụ Bát Tiên, Ma Cô Tiên Nữ….
—o—o—o—
VỊ TRÍ CỦA TAM HỢP ĐẠO CÔ BỘ TAM TOÀ THÁNH MẪU CỦA KIỀU

1. HỘI CHỦ :

– Âm hồn gốc hợp nhất

– Hồn bào thai gốc

– Cấp vòng tròn âm dương

– Mẫu Thoải

2. TAM HỢP ĐẠO CÔ :

– Tam hợp ngang :

– – – Hồn của bộ Nhau – Rốn – Thân của bào thai gốc, đối xứng với Hồn của Ối gồm ối thân, ối nhau, ối rốn của bào thai gốc

– – – Siêu thức của bộ Đạm Tiên (nhau) – Giác Duyên (rốn) – Thuý Vân (thân), đối xứng với Siêu thức của Kiều (ối)

– Tam hợp dọc :
– – – Nối cấp linh hồn với cấp thân thể của bộ bào thai
– – – Hội chủ – Tam Hợp Đạo Cô – Bộ tứ Đạm Tiên (nhau) – Giác Duyên (rốn) – Thuý Vân (thân) – Kiều (ối)
– Cấp lưỡng nghi
– Mẫu Thượng ngàn
3.
Đạm Tiên (nhau) – Giác Duyên (rốn) – Thuý Vân (thân) – Kiều (ối)
Cấp tứ tương

BÀO THAI ĐỜI NÀY

 

Kiều – Thân – Nhau – Ối – Rốn : Mảnh song song (Hồn/Xác)

 

Thân : Xác – Phách (Ý chí) – Vía (Tình cảm) – Hồn (Lý trí)

 

Phách —> Nhau (Đạm Tiên) : Tập thân (bài)

 

Vía —> Ối (Kiều) : Tình cảm

 

Hồn —> Rốn : Lý trí

 

 

 

 

 

 

 

ĐÁNH GIÁ
Trong truyện Kiều Tam Hợp Đạo Cô xuất hiện
Giác Duyên từ tiết giã nàng,
Đeo bầu quảy níp, rộng đường vân du.
Gặp bà Tam Hợp đạo cô,
Thong dong, hỏi hết nhỏ to sự nàng:
“Người sao hiếu nghĩa đủ đường,
Kiếp sao rặt những đoạn trường thế thôi?”
Giác Duyên chia tay Kiều sau buổi trà ân báo oán, đã lên đường vân du, rồi gặp Tam Hợp Đạo Cô. Nhớ lời nhờ của Kiều, sư Giác Duyên đã hỏi về cái kết cho đoạn trường của Kiều.
Sư rằng: “Phúc hoạ đạo trời,
Cội nguồn, cũng ở lòng người mà ra.
Trong truyện Kiều, sư Tam Hợp Đạo Cô là thày của sư Giác Duyên, nhưng qua pháp danh có thể thấy Tam Hợp tu theo tam giáo đồng nguyên, cho nên lời đầu tiên sư Tam Hợp nói là về đạo trời. Đạo trời không thực sự trùng với Phật pháp. Đạo trời là luật cơ bản mà ai ai cũng phải theo như luật nhân quả, nhưng luật cơ bản ấy vận dụng thế nào trong các hoàn cảnh cụ thể lại do mỗi người tạo nhân, nhận quả, rồi quả lại thành nhân mới. Luật trời đất vận hành vào trường hợp của mỗi cá thể chính là khái niệm pháp của đạo Phật.
Có trời mà cũng tại ta,
Tu là cội phúc, tình là dây oan.
Đây là một trong những câu thơ rất nổi tiếng của truyện Kiều và hai câu thơ này cũng là hai câu nổi tiếng nhất trong những lời của Tam Hợp Đạo Cô nói về Kiều. Hai câu thơ này gợi nhớ tới Tứ Diệu Đế. Tứ Diệu Đế gồm Khổ đế là các nỗi khổ của đời người, ví dụ như sinh ly, tử biệt; Tập đế là nguyên nhân của khổ, là cảm xúc với các sự kiện của đời người như cảm xúc với sự chia ly giữa những người còn sống và cảm xúc với sự chia ly do cái chết của người ở lại và người ra đi sang thế giới bên kia; Diệt đế là cách diệt khổ, ví dụ buông cảm xúc với sinh ly, tử biệt; và Đạo đế là bước trên đường Đạo để hiểu được lẽ trời trong các sự kiện đời người. Theo Tứ Diệu Đế là tu, tu chính là đi trên con đường đạo đế, diệt khổ, cho nên tu là cội phúc; trong khi đó tình là cái gây ra khổ và nguyên nhân của khổ.
Thuý Kiều sắc sảo, khôn ngoan,
Vô duyên là phận hồng nhan đã đành.
Lại mang lấy một chữ tình,
Khư khư mình buộc lấy mình vào trong.
Thuý Kiều là người sắc sảo khôn ngoan, lại có tiếp xúc với Phật Pháp, cho nên không phải là không hiểu về Tứ Diệu Đế, nhưng do trời sinh là phần hồng nhan, vừa khó đi trên đường tu so với nam, lại hay gặp các tai ương cuộc đời, nhất là khi phải đem thân lưu lạc xa nhà, nhưng vấn đề chính là do Kiều “lại mang lấy một chữ tình, khư khư mình buộc lấy mình vào trong”.
Vậy nên những chốn thong dong,
Ở không yên ổn, ngồi không vững vàng.
Theo Tam Hợp Đạo Cô, Kiều không ở được những chốn thong dong, do dính mắc tình cảm với những đối tượng bên ngoài những chốn thong dong ấy, mà tình cảm là sóng, chao qua, đảo lại, làm cho Kiều “ở không yên ổn, ngồi không vững vàng”.
Trong truyện Kiều, chúng ta biết rằng tình cảm làm cho Kiều ở chỗ này mà lòng hướng về chỗ khác, ở lầu xanh hướng về Kim Trọng, ở chỗ của Hoạn Thư thì hướng về Thúc Sinh, ở với Từ Hải thì hướng về mẹ cha, động phòng với Kim Trọng nhưng lại cố hướng quan hệ hai người về tình bạn, nhưng trong tình bạn lại vẫn có cảm xúc tình yêu, khi ở nhà với mẹ cha, với hai em và Kim Trọng thì lòng lại hướng về chốn tu hành với Giác Duyên.
Tam Hợp không chỉ nói về tương lai hay quá khứ của Kiều mà nói về bản chất con người của Kiều. Bản thân chữ Kiều có nghĩa là cây cầu bằng sóng bắt từ chỗ này sang chỗ khác. Câu hỏi là Tam Hợp chưa bao giờ gặp Kiều, chỉ nghe Giác Duyên kể sơ qua về Kiều, bản thân Giác Duyên cũng không biết quá sâu về Kiều, làm sao Tam Hợp Đạo Cô có thể nói về Kiều rõ ràng như vậy.
Ma đưa lối, quỷ dẫn đường,
Lại tìm những chốn đoạn trường mà đi.
Hết nạn ấy, đến nạn kia,
Thanh lâu hai lượt, thanh y hai lần.
Trong vòng giáo dựng, gươm trần,
Kề lưng hùm sói, gửi thân tôi đòi.
Giữa dòng nước dẫy, sóng dồi,
Trước hàm rồng cá, gieo mồi vắng tanh.
Tam Hợp Đạo Cô đã nêu nạn lớn trong đoạn trường của Kiều. Thứ nhất là hai lần vào lầu xanh của Tú Bà và của Bac Bà (Thanh lâu hai lượt, thanh y hai lần). Thứ hai là nạn gươm đao với Từ Hải (Trong vòng giáo dựng, gươm trần) và sa bẫy của Hồ Tôn Hiến (Kề lưng hùm sói, gửi thân tôi đòi). Cuối cùng là nạn trên sông Tiền Đường (Giữa dòng nước dẫy, sóng dồi/Trước hàm rồng cá, gieo mồi vắng tanh). Khi Tam hợp Đạo Cô nói nhưng lời này, nạn thứ nhất Kiều đã trải qua, nạn thứ hai đang trải qua và nạn thứ ba chưa trải qua.
Tam Hợp Đao Cô nói về việc Kiều bị “ma đưa lối, quỷ dẫn đường”, nên bị sa vào đoạn trường.
Dân gian có câu “Ma xui, quỷ khiến”, để nói về hiện tượng một người đang có dòng đời trôi chảy bình thường, thì bỗng nhiên rẽ sang một hướng khác hẳn, dính mắc vào những đối tượng khắc hẳn, làm những việc khác hẳn. Nếu sau một thời gian dòng đời bị đối hướng như vậy, người này quay trở về được dòng đời cũ, như Kiều lại được trở về nhà sau 15 năm, thì quãng trời gian dòng đời đổi hướng này được gọi là đoạn trường, tạm hiểu là một trường đoạn đứt ra khỏi mạch đời thông thường.
Ma quỷ có thể là ẩn dụ về một thế lực nằm bên ngoài chốn trần gian, chốn nhân gian này, nhưng lại tác động mạnh mẽ được với một số người dương, người trần, mà trong truyện Kiều, người có cái số bắt sóng được với sự lôi kéo, dẫn dắt từ cái thế giới khác ấy chính là Kiều. Vậy ma quỷ dẫn dắt Kiều là ai ? Liệu có thể nói rằng Đạm Tiên là ma, còn thằng buôn tơ, thằng quan tham, Mã Giám Sinh, Tú Bà, Sở Khanh, Bạc Bà, Bạc Hạnh và Hồ Tôn Hiến là lũ quỷ, cùng nhau dẫn dắt Kiều vào chốn đoạn trường được chăng ? Đạm Tiên không phải ma hại người. Kiều tự có khả năng thông linh với Đạm Tiên, tự có tên trên sổ đoạn trường, rồi tự nguyện làm bài thơ hoạ đoạn trường mà Hội Chủ giao, Đạm Tiên không đưa lối Kiều vào đoạn trường. Kiều cũng không tự đâm đầu đi theo Mã Giám Sinh mà do Kiều tự phải bán mình chuộc cha.
Ma bản chất là người âm, không thực hiện được chuyển hoá sai cái chết (Tử) để về trạng thái Mộ (Tử Mộ tính theo vòng trường sinh 12 cung như trong bản đồ Tử Vi). Ma là người âm nhưng không sống được cuộc đời người âm mà dính mắc với trải nghiệm thân thể khi còn là người dương, nên kéo dài đời sống ở vùng chồng chập giữa dương gian và âm giới. Ma đa phần nhận thức được rằng mình đã chết, nhưng không nhận thức được thế giới âm, mà hành vi và mối quan hệ vẫn theo quán tính như khi còn sống. Đó là lý do ma có khả năng tác động với người dương, gồm người dương nhận thức được mà và người dương không nhận thức được ma.
Quỷ có 2 loại : 1. quỷ không phải đường tiến hoá con người, mà là một dạng phi nhân; sống trong thế giới tách biệt với nhân gian. 2. quỷ là ma (người âm) dính mắc quá nặng với thế giới dương, không nhận thức được mình đã chết, đã mất đi cơ thể vật lý, mà vẫn chìm đắm trong các trải nghiệm vật lý, tự giam mình vào các tầng địa ngục sâu, hoàn toàn không nhận thức được hiện thực đang diễn ra bên trong và bên ngoài mình, vòng trường sinh vẫn bị tắc nghẽn kéo dài vẫn ở bước chuyển hoá giữa Tử và Mộ. Người ở trạng thái chồng chập giữa các cảnh giới có thể gặp được cả 2 đối tượng quỷ này. Trạng thái chồng chập này có thể do tu luyện đắc đạo đạt được mà cũng có thể do nghiệp chướng gây ra, ví dụ người đi vào những chỗ hoang vắng có thể gặp quỷ.
Nho giáo không nhắc đến ma quỷ, vì tập trung vào cuộc sống trần gian và các quan hệ của nhân gian. Phật giáo nhắc đến Thiên ma liên quan đến thời hạn nhập diệt của đức Phật và ngạ quỷ, cùng câu chuyện địa ngục của mẹ Mục Kiền Liên vào ngày Vu Lan. Là tôn giáo đa thần, quỷ ma là một trong các đối tượng của đạo Lão.
Có thể nói, việc Tam Hợp Đạo Cô đề cập đến quỷ ma phản ảnh sự ảnh hưởng sâu sắc của đạo Lão đến sư.
Dân gian có rất nhiều câu về bộ đôi quỷ ma này
Ma đưa lối, quỷ dẫn đường
hay
Ma xui, quỷ khiến
hay
Quỷ tha, ma bắt
hay
Mưu ma chước quỷ
hay
Ma chê quỷ hờn
hay
Quỷ phá nhà chay, ma ăn mày Bụt
hay
Chiều như chiều vong
hay
Nghịch như quỷ
hay
Nhất quỷ, nhì ma, thứ ba học trò
hay
Thủ thỉ nhưng mà quỷ ma
hay
Những phường quỷ quái tinh ma
Mình làm mình chịu, kêu mà ai thương
hay
Tưởng là chùa rách Phật vàng
Hay đâu chùa rách chứa đàn quỷ ma
hay
Không cầu ông Phật trong nhà
Lại đi cầu khẩn quỷ ma ngoài đường
hay
Nhà ai chồng quỷ vợ ma
Hễ ông ăn chả thì bà ăn nem
Ðói cơm khát nước tèm lem
No cơm ấm áo lại thèm nọ kia
hay
Cái cân có quỷ có ma
Gạo vào một lối gạo ra một đường
Thẻ tôi ba mươi sáu kí rõ ràng
Về nhà khảo lại chỉ còn ba mươi
hay
Kim thằng Quỷ, chỉ Tây Hồ
Ai yêu thì lấy chẳng vồ lấy ai
Như vậy, quỷ và ma có đặc điểm chung là có thể sống ở vùng đệm giữa của trần gian/nhân gian và cảnh giới của chúng, và có thể tương tác ở mức độ nào đó với một số người trần mà nhận thức và giao tiếp được với quỷ.
Trong nhóm gia tiên
– Ông bà đầu nhau : Ông Táo mạnh về nhận thức được trạng thái ma, ông Công mạnh về nhận thức được trạng thái quỷ, bà Thị có thể tương tác được với cả hai giới.
– Bà cô và ông thày : Tương tác, hỗ trợ cho ma, đi đường ông Táo
– Bà mụ và ông mãnh : Tương tác, hỗ trợ cho quỷ, đi đường ông Công
Tam Hợp đạo Cô chính là khía cạnh của bà Thị đỡ cho các bà cô, còn Hội Chủ chính là khía cạnh của Hội chủ đỡ cho các bà mụ.
Là một người đắc đạo, Tam Hợp Đạo Cô có khả năng nhận thức được cả ba trạng thái người, ma và quỷ, cho nên Đạo Cô hiểu được trải nghiệm của Kiều. Khác với Tam Hợp Đạo Cô, Kiều đi qua các trải nghiệm đa cảnh giới này ở trạng thái chưa đắc đạo, trạng thái thuần tuý bản năng, còn Tam Hợp Đạo Cô là người làm chủ được trạng tháu này.
Vấn đề nằm ở “tình là dây oan” mà Kiều khư khư giữ lấy đã đưa Kiều đến chốn đoạn trường. Câu hỏi là vì sao ma quỷ lại liên quan đến cái sợi dây tình mà Kiều khư khư buộc lấy mình ấy. Trạng thái sóng tình của Kiều, là một trường tương tác đa cảnh giới, điều này khiến Kiều có trải nghiệm sống đa cảnh giới, có thể giao tiếp đa cảnh giới và có thể thể chịu tác động của các đường tiến hoá khác và các cõi giới khác.
Những năng lực đặc biệt và những trạng thái cảm xúc đã cảnh giới, đa giống loài, ở trong hoàn cảnh này, với người này lại vương vấn với hoàn cảnh khác, với người khác của Kiều là trạng thái nội tâm hoặc ngoại cảnh đặc biệt mà chỉ mình Kiều hiểu được, mình Kiều vào được.
Trong bộ tứ của Thuý Kiều, năng lực đa cảnh giới này như sau
– Thuý Kiều : đi đường bà Thị
– Đạm Tiên đi đường bà mụ, có duyên nghiệp với quỷ
– Giác Duyên đi đường bà cô, có duyên nghiệp với ma
– Thuý Vân đi đường người dương, nhân gian, trần gian, chỉ giữ tương tác vật lý và gia đình với Kiều
Chính vì đi đường bà Thị, đoạn trường đã đưa Kiều đi sâu vào trải nghiêm đa cảnh giới và đa cái tôi, cùng Đạm Tiên (chủ yếu trong đoạn trường), Giác Duyên (chủ yếu bước đi ra khỏi đoạn trường và giữa các chuyển đoạn của đoạn trường) và cuối cùng là Thuý Vân (trước và sau đoạn trường).
Oan kia theo mãi với tình,
Một mình mình biết, một mình mình hay.
Làm cho sống đoạ, thác đày,
Đoạn trường cho hết kiếp này mới thôi!”
Theo Tam Hợp Đạo Cô, đoạn trường này của Kiều là đến hết kiếp này.
Giác Duyên nghe nói rụng rời:
“Một đời nàng nhé! Thương ôi còn gì?”
Sư rằng: “Song chẳng hề chi,
Nghiệp duyên cân lại, nhắc đi còn nhiều.
Kiều là người có một số kiếp đặc biệt, không chỉ là người sống đa cảnh giới, mà Kiều còn sống hai kiếp người trong một đời người. Khi Kiều tự tử trên sông Tiền Đường là hết một kiếp, sau khi được cứu lên, Kiều chuyển sang một kiếp sông mới, mà vẫn cùng một lần đầu thai. Cho nên, hết đoạn trường của Kiều là hết một kiếp. Sau đoạn trường, Kiều là một con người mới.
Xét trong tội nghiệp Thuý Kiều,
Mắc điều tình ái, khỏi điều tà dâm.
Sau khi nói đến cái “lỗi” lớn nhất của Kiều là tình ái, Tam Hợp Đạo Cô đã nói đến những cái “được” của Kiều, trong đó cái được đầu tiên vẫn là tình ái. Tà dâm là
Lấy tình thâm, trả nghĩa thâm,
Bán mình đã động hiếu tâm đến trời.
Hại một người, cứu muôn người,
Biết đường khinh trọng, biết lời phải chăng.
Thửa công đức ấy ai bằng,
Túc khiên đã rửa lâng lâng sạch rồi.
Khi nên, trời cũng chiều người,
2690. Nhẹ nhàng nợ trước, đền bồi duyên sau.
Giác Duyên dù nhớ nghĩa nhau,
Tiền Đường thả một bè lau rước người.
Trước sau cho vẹn một lời,
Duyên ta mà cũng phúc trời chi không!”
2695. Giác Duyên nghe nói mừng lòng,
Lân la tìm thú bên sông Tiền Đường.
Đánh tranh, chụm nóc thảo đường,
Một gian nước biếc, mây vàng chia đôi.
Thuê năm, ngư phủ hai người,
2700. Đóng thuyền chực bến, kết chài giăng sông.
Một lòng chẳng quản mấy công,
Khéo trong gặp gỡ cũng trong chuyển vần.
Kiều từ gieo xuống duềnh ngân,
Nước xuôi bỗng đã trôi dần tận nơi.
2705. Ngư ông kéo lưới vớt người,
Ngẫm lời Tam Hợp rõ mười chẳng ngoa!
Trên mui lướt mướt áo là,
Tuy dầm hơi nước, chưa loà bóng gương.
Giác Duyên nhận thật mặt nàng,
2710. Nàng còn thiêm thiếp giấc nồng chưa phai.
Mơ màng phách quế, hồn mai,
Đạm Tiên, thoắt đã thấy người ngày xưa.
Rằng: “Tôi đã có lòng chờ,
Mất công mười mấy năm thừa ở đây.
2715. Chị sao phận mỏng, đức dày?
Kiếp xưa đã vậy, lòng này dễ ai!
Tâm thành đã thấu đến trời,
Bán mình là hiếu, cứu người là nhân.
Một niềm vì nước, vì dân,
2720. Âm công cất một đồng cân đã già.
Đoạn trường sổ, rút tên ra,
Đoạn trường thơ, phải đưa mà trả nhau.
Còn nhiều hưởng thụ về sau,
Duyên xưa đầy đặn, phúc sau dồi dào.”
2725. Nàng còn ngơ ngẩn biết sao,
“Trạc Tuyền!” – Nghe tiếng gọi vào bên tai.
Giật mình thoắt tỉnh giấc mai,
Bâng khuâng, nào đã biết ai mà nhìn.
Trong thuyền, nào thấy Đạm Tiên?
2730. Bên mình chỉ thấy Giác Duyên ngồi kề.
Thấy nhau mừng rỡ trăm bề,
Dọn thuyền, mới rước nàng về thảo lư.
Một nhà chung chạ sớm trưa,
Gió trăng mát mặt, muối dưa chay lòng.
2735. Bốn bề bát ngát mênh mông,
Triều dâng hôm sớm, mây lồng trước sau.
Nạn xưa, trút sạch làu làu,
Duyên xưa, chưa dễ biết đâu chốn này.s
Chia sẻ:
Scroll to Top