TAM TÒNG VỚI THUÝ KIỀU

Loading

TAM TÒNG TRONG ĐOẠN TRƯỜNG CỦA KIỀU
Từ lúc bán mình chuộc cha đến quay về lại được với gia đình, Kiều đã đi trọn một vòng Tam Tòng, từ “Tại gia tòng phụ”, sang “Xuất giá tòng phu”, đến “Phu tử tòng tử” là sự kiện Từ Hải chết đứng.
Tại gia tòng phụ : “Tòng phụ” là sự kiện Kiều bán mình chuộc cha. Cho dù lúc đó Kiều đã có thề nguyện với Kim Trọng nhưng chưa xuất giá, vẫn là “tại gia”. Khi cân nhắc “Bên tình, bên hiếu, bên nào nặng hơn?”, Kiều thấy cứu cha là quan trọng nhất, vì “Làm con, trước phải đền ơn sinh thành”. Kiều xác đinh để cứu cha “Thân còn chẳng tiếc, tiếc gì đến duyên!”
Xuất giá tòng phu : Từ khi rời nhà theo Mã Giám Sinh, thì Kiều lần lượt rơi vào cảnh “xuất gia tòng phụ”, với những người đàn ông chính được nêu trong truyện Kiều là Mã Giám Sinh, Sở Khanh, Thúc Sinh, Từ Hải và Hồ Tôn Hiến. “Phu” nên được hiểu là người đàn ông gánh vác người phụ nữ không còn “tại gia, tòng phụ” nữa. Trong các vị “phu” này, Từ Hải chính là phu quân, người chuẩn nhất theo câu “Xuất giá tòng phu” của Tam Tòng. Kim Trong đoạn trường, Kim Trọng không được tính là phu của Kiều, vì lúc đó Kiều chưa xuất giá, vẫn còn ở với cha.
Phu tử tòng tử : “Phu tử” là sự kiện Từ Hải chết đứng sau khi nghe lời Kiều, mắc mưu quy hàng Hồ Tôn Hiến và bị quân của Hồ Tôn Hiến giết.
“PHU TỬ TÒNG TỬ” CÙA KIỀU
Khi Kiều nghe lời Hồ Tôn Hiến, thuyết phục Từ Hải quy hàng, thì trạng thái “Phu tử tòng tử” đã bị bật lên từ phía Kiều.
Có quan tổng đốc trọng thần,
Là Hồ Tôn Hiến, kinh luân gồm tài.
Đẩy xe vâng chỉ đặc sai,
Tiện nghi bát tiễu, việc ngoài đổng nhung.
Biết Từ là đấng anh hùng,
Biết nàng cũng dự quân trung luận bàn.
Đóng quân, làm chước chiêu an,
Ngọc vàng, gấm vóc, sai quan thuyết hàng.
Lại riêng một lễ với nàng:
Hai tên thể nữ, ngọc vàng nghìn cân.
Nếu Kiều hoàn toàn tin tưởng vào việc mình có thể dựa vào Từ Hải trong suốt quãng đời còn lại, mình có thể nhất nhất thuận sự sắp xếp của theo Từ Hải như trong năm năm đã qua, thì Hồ Tôn Hiến đã không có cơ hội tiếp cận Kiều để đưa kế dụ hàng.
Tin vào gửi trước trung quân,
Từ công riêng hãy mười phân hồ đồ.
Một tay gây dựng cơ đồ,
Bấy lâu bể Sở, sông Ngô tung hoành!
Bó thân về với triều đình,
Hàng thần lơ láo, phận mình ra đâu?
Áo xiêm buộc trói lấy nhau,
Vào luồn ra cúi, công hầu mà chi?
Sao bằng riêng một biên thuỳ,
Sức này, đã dễ làm gì được nhau?
Chọc trời, quấy nước, mặc dầu,
Dọc ngang nào biết trên đầu có ai.
Ban đầu, Từ Hải không đồng ý với kế dụ hàng của Hồ Tôn Hiến, nhưng trong lý luận mà Từ Hải nói với Kiều lại không hề có bóng dáng của người chồng với người vợ, người cha tương lai với người con có thể sẽ có giữa Từ Hải và Kiều, người con rể với cha mẹ vợ vẫn biền biệt tin tức của con gái.
Nàng thì thật dạ tin người,
Lễ nhiều, nói ngọt, nghe lời dễ xiêu.
Nghĩ mình mặt nước, cánh bèo,
Đã nhiều lưu lạc, lại nhiều gian truân.
Dường như, Kiều không còn toàn tâm toàn ý chỉ “tòng phu” Từ Hải nữa, mà trong lòng bắt đầu nảy sinh những bất an về tương lai. Những bất an này Hồ Tôn Hiến là người nhận thức được, chứ không phải là Từ Hải. Cho nên, với bản tính “tòng” của phụ nữ, Kiều lại nương theo Hồ Tôn Hiến, người mà Kiều cho rằng có thể gánh vác nhưng bất an này cho Kiều, nói cách khác là làm “phu” cho Kiều tòng theo. Đương nhiên Hồ Tôn Hiến không thể nhảy vào đứng vị trí phu thay cho Từ Hải, nếu như Từ Hải không bỏ trống vị trí này trước.
Bằng nay chịu tiếng vương thần,
Thênh thênh đường cái thanh vân hẹp gì.
Công, tư, vẹn cả hai bề,
Dần dà rồi sẽ liệu về cố hương.
Cũng ngôi mệnh phụ đường đường,
Nở nang mày mặt, rỡ ràng mẹ cha.
Trên vì nước, dưới vì nhà,
Một là đắc hiếu, hai là đắc trung.
Chẳng hơn chiếc bách giữa dòng,
E dè sóng gió, hãi hùng cỏ hoa.
Lúc này nảy sinh mâu thuẫn là về tinh thần thì Kiều tòng phu Hồ Tôn Hiến, về thân thể thì Kiều tòng phu Từ Hải, thế là đương nhiên Kiều sẽ thuyết phục Từ Hải quy hàng Hồ Tôn Hiến
Nhân khi bàn bạc gần xa,
Thừa cơ, nàng mới bàn ra, nói vào.
Rằng: “Ơn thánh đế dồi dào,
Tưới ra đã khắp, thấm vào đã sâu.
Bình thành công đức bấy lâu,
Ai ai cũng đội trên đầu biết bao.
Khi Kiều ví Từ Hải với Hoàng Sào, một lãnh đạo khởi nghĩa chống triều đình như Từ Hải, mà ban đầu thắng lợi, sau thất bại, rõ ràng Kiều đã khai tử Từ Hải với vai trò làm chồng lẫn vai trò làm thủ lĩnh nghĩa quân, đồng thời ngầm công nhận vai trò đối ngược lại của Hồ Tôn Hiến, người đại diện cho triều đình đẹp các cuộc khởi nghĩa.
Ngẫm từ dấy việc binh đao,
Đống xương Vô Định đã cao bằng đầu.
Làm chi để tiếng về sau,
Nghìn năm ai có khen đâu Hoàng Sào.
Sao bằng lộc trọng, quyền cao,
Công danh ai dứt lối nào cho qua?”
Như vậy, trước khi thực sự chết đứng giữa trận tiền thì Từ Hải đã bị chết đứng về tinh thần trong quan hệ vợ chồng với Kiều rồi.
Nghe lời nàng nói mặn mà,
Thế công, Từ mới trở ra thế hàng.
Chỉnh nghi tiếp sứ vội vàng,
Hẹn kỳ thúc giáp, quyết đường giải binh.
Tin lời thành hạ yêu minh,
Ngọn cờ ngơ ngác, trống canh trễ tràng.
Thay vì hiểu được tiếng lòng của vợ, phải khôi phục cái thế của người đàn ông trong gia đình, cái thế làm chồng của Kiều, làm cha tương lai của con Kiều và làm con rể của cha mẹ Kiều, thì Từ Hải lại nghe lời vợ, bằng cách đổi thế công sang thế hàng với Hồ Tôn Hiến. Từ Hải không nghe được tiếng lòng của vợ cũng đúng thôi, vì Từ Hải đâu có tâm thế người chủ gia đình, mà chỉ có tâm thế chủ tướng.
Việc binh bỏ chẳng giữ giàng,
Vương sư dòm đã tỏ tường thực hư.
Hồ công quyết kế thừa cơ,
Lễ tiên, binh hậu, khắc cờ tập công.
Kéo cờ chiêu phủ tiên phong,
Lễ nghi dàn trước, bác đồng phục sau.
Từ công hờ hững biết đâu,
Đại quan lễ phục ra đầu cửa viên.
Hồ công ám hiệu trận tiền,
Ba bề phát súng, bốn bên kéo cờ.
Kết quả là Từ Hải bị quân Hồ Tôn Hiến tấn công, lúc này Từ Hải nhận ra mình đã bị mắc mưu
Đang khi bất ý chẳng ngờ,
Hùm thiêng khi đã sa cơ cũng hèn!
Tử sinh, liều giữa trận tiền,
Dạn dày cho biết gan liền tướng quân!
Khí thiêng khi đã về thần,
Nhơn nhơn còn đứng chôn chân giữa vòng.
Trơ như đá, vững như đồng,
Ai lay chẳng chuyển, ai rung chẳng rời.
Quan quân truy sát đuổi dài,
Hằm hằm sát khí, ngất trời ai đang.
Kết quả là Từ Hải chết đứng, vẫn cái thế đứng anh hùng “Đội trời, đạp đất ở đời, Họ Từ tên Hải, vốn người Việt Đông” như khi gặp Kiều ở lầu xanh lần đầu.
Trong hào, ngoài luỹ, tan hoang,
Loạn quân vừa dắt tay nàng đến nơi.
Trong vòng tên đá bời bời,
Thấy Từ còn đứng giữa trời trơ trơ.
Khóc rằng: “Trí dũng có thừa,
Bởi nghe lời thiếp, đến cơ hội này!
Mặt nào trông thấy nhau đây?
Thà liều sống chết một ngày với nhau!”
Dòng thu như xối cơn sầu,
Dứt lời, nàng cũng gieo đầu một bên.
Lạ thay oan khí tương triền!
Nàng vừa phục xuống, Từ liền ngã ra.
Đứng chết không phải là tư thế đúng, nằm chết mới là tư thế đúng. Cho nên khi Từ Hải chết đứng giữa trận tiền thì về tinh thần Từ Hải vẫn đang đứng và cái tinh thần ấy giữa thân thể Từ Hải đứng. Chỉ đến khi Kiều chạy vào giữa chiến trường, đến bên Từ Hải, thì xác Từ Hải mới ngã ra. Nằm và ngồi là tư thế đặc trưng nhất của gia đình và của phụ nữ, vì nhà là nơi để ăn uống, ngủ nghỉ ban đêm và nghỉ dưỡng khi đau ốm hay sinh nở (tu sĩ khất thực thì có thể ngồi ngủ, vì họ đã xuất gia). Trong nhà có người đàn ông đứng, tức nhiên người phụ nữ sẽ bất an. Từ Hải là người đàn ông của chiến trường chứ không phải là người đàn ông của gia đình. Khi sống, Từ Hải chủ yếu ở trong tâm thế đứng, khi chết trước kẻ thù Từ Hải vẫn đứng, và khi chết trước Kiều, cuối cùng Từ Hải đã nằm xuống, lúc này Từ Hải đã về với gia đình, với gia tiên.
Nếu chiếu theo Nho Giáo, Từ Hải là người giỏi trị quốc mà không giỏi tề gia, cho nên khi bài học về tề gia xuất hiện, Từ Hải đã không qua được và phải trả giá bằng cả tính mạng. Từ Hải cứ nghĩ rằng chỉ cần mình cứ tiếp tục như vậy mãi, thì triều đình không làm được gì mình, nhưng các bài học cuốc sống đều có thời hạn. Từ Hải đã bị khai tử từ bên trong chính mình bởi sự mất cân bằng tâm thế, nói cách khác Từ Hải đã thất bại trong bài học Tu thân, Từ Hải đã bị khai tử từ bên trong mối quan hệ vợ chồng, nói cách khác Từ Hải đã thất bại trong bài học Tề gia. Khi hai bài học cơ bản này đều thất bại, thì cuối cùng Tử Hải mới bị chết đứng giữa trận tiền, và thất bại trong trị quốc là cái mà Từ Hải mạnh nhất và có nhiều động lực nhất.
Nếu so sánh Từ Hải với Kim Trọng, thì có thể thấy Kim Trọng rất mạnh về tu thân và tề gia, và đặt tu thân và tề gia cao hơn trị quốc, nên có ý định từ quan lui về ở ẩn và chăm lo gia đình. Hoặc cái quốc mà Kim Trong theo đuổi khác hẳn cái quốc mà Từ Hải theo đuổi, mà sẽ gắn với cá nhân và gia đình.
Từ Hải thất bại trong bài học tu thân và tề gia, thì Kiều cũng thất bại trong bài học tu thân, tề gia hay bài học Tam Tòng.
Vì Kiều và Từ Hải chưa có con, vậy khi Từ Hải chết thì Kiều tòng cái gì ?
Quan quân kẻ lại, người qua,
Xót nàng, sẽ lại vực ra dần dần.
Đem vào đến trước trung quân,
Hồ công thấy mặt, ân cần hỏi han:
Rằng: “Nàng chút phận hồng nhan,
Gặp cơn binh cách, nhiều nàn cũng thương!
Đã hay thành toán miếu đường,
Chấp công cũng có lời nàng mới nên.
Bây giờ sự đã vẹn tuyền,
Mặc lòng nghĩ lấy, muốn xin bề nào?”
Nàng càng giọt ngọc tuôn dào,
Ngập ngừng mới gửi thấp cao sự lòng.
Rằng: “Từ là đấng anh hùng,
Dọc ngang trời rộng, vẫy vùng bể khơi.
Tin tôi nên quá nghe lời,
Đem thân bách chiến làm tôi triều đình.
Ngỡ là phu quý, phụ vinh,
Ai ngờ một phút tan tành thịt xương!
Năm năm trời bể ngang tàng,
Dẫn mình đi bỏ chiến tràng như không.
Khéo khuyên kể lấy làm công,
Kể bao nhiêu lại đau lòng bấy nhiêu!
Xét mình công ít, tội nhiều,
Sống thừa, tôi đã nên liều mình tôi!
Xin cho thiển thổ một đôi,
Gọi là đắp điếm lấy người tử sinh.”
Hồ công nghe nói thương tình,
Truyền cho cảo táng di hình bên sông.
Khi Từ Hải chết, có thể Kiều đã nhận ra sai lầm “tòng Hồ Tôn Hiến” thay vì “tòng Từ Hải” của mình. Kiều muốn lo việc tang ma của chồng và muốn tự tử theo chồng. Tuy nhiên, cuối cùng Kiều vẫn vướng vào mối quan hệ với Hồ Tôn Hiến, khi trở thành tù binh của Hồ Tôn Hiến.
Trong quân mở tiệc hạ công,
Xôn xao tơ trúc, hội đồng quân quan.
Bắt nàng thị yến dưới màn,
Giở say, lại ép vặn đàn nhặt tâu.
Một cung gió tủi, mưa sầu,
Bốn dây nhỏ máu năm đầu ngón tay.
Ve ngâm, vượn hót nào tày,
Lọt tai, Hồ cũng nhăn mày, rơi châu.
Hỏi rằng: “Này khúc ở đâu?
Nghe ra muôn oán, nghìn sầu lắm thay!”
Thưa rằng: “Bạc mệnh khúc này.
Phổ vào đàn ấy những ngày còn thơ,
Cung cầm, lựa những ngày xưa.
Mà gương bạc mệnh bây giờ là đây!”
Nghe càng đắm, đắm càng say,
Lạ cho mặt sắt cũng ngây vì tình!
Dạy rằng: “Hương hoả ba sinh,
Dây loan xin nối cầm lành cho ai.”
Thưa rằng: “Chút phận lạc loài,
Trong mình, nghĩ đã có người thác oan.
Còn chi nữa cánh hoa tàn,
Tơ lòng đã dứt dây đàn Tiểu Lân.
Rộng thương còn mảnh hồng quần,
Hơi tàn được thấy gốc phần là may!”
Hạ công chén đã quá say,
Hồ công đến lúc rạng ngày nhớ ra.
Nghĩ mình phương diện quốc gia,
Quan trên nhắm xuống, người ta trông vào.
Phải tuồng trăng gió hay sao?
Sự này, biết tính thế nào được đây?
Công nha vừa buổi rạng ngày,
Quyết tình, Hồ mới đoán ngay một bài.
Lệnh quan, ai dám cãi lời?
Ép tình mới gán cho người thổ quan.
Truyện Kiều không nói rõ ràng là Hồ Tôn Hiến đã làm gì Kiều khi say rượu, say người, nhưng nếu Hồ Tôn Hiến chỉ say trong lòng chứ không có hành động gì, thì ông ta việc gì phải tính toán, rồi gấp rút gả Kiều cho người thổ quan để cứu thể diện của mình.
Ông tơ thực nhé đa đoan!
Xe tơ, sao khéo vơ càn, vơ xiên?
Kiệu hoa áp thẳng xuống thuyền,
Lá màn rủ thấp, ngọn đèn khêu cao.
Nàng càng ủ liễu, phai đào,
Trăm phần, nào có phần nào phần tươi.
Đành thân cát dập, sóng vùi,
Cướp công cha mẹ, thiệt đời thông minh!
Chân trời, mặt bể, lênh đênh,
Nắm xương biết gửi tử sinh chốn nào?
Duyên đâu, ai dứt tơ đào?
Nợ đâu, ai đã dắt vào tận tay?
Thân sao, thân đến thế này?
Còn ngày nào cũng dư ngày ấy thôi!
Đã không biết sống là vui,
Tấm thân nào biết thiệt thòi là thương!
Một mình cay đắng trăm đường,
Thôi thì nát ngọc, tan vàng, thì thôi!
Lại nói về Kiều, nếu tự mình không tòng Hồ Tôn Hiến, thì liệu có đến cơ sự này không. Kiều không thể trách ông tơ, mà nên tự trách mình.
Một trong những lý do mà Kiều muốn Từ Hải quy hàng là vì Kiều có nhu cầu bản thân được bình an, nhu cầu bản thân về gặp bố mẹ, nhu bản thân làm bố mẹ tự hào, nhưng lại không tự làm việc đó, mà mong cầu rằng Từ Hải sẽ làm việc đó cho mình, Hồ Tôn Hiến sẽ làm việc đó cho mình, nên mới thuyết phục Từ Hải hàng Hồ Tôn Hiến. Đây cũng là xu hướng tòng sai phổ biển của phụ nữ, kỳ vọng người chồng làm cho mình những thứ mà đáng nhẽ mình nên tự làm, và khi người chồng không làm được, khi khai tử chồng, tòng sang phu khác. Một bài học lớn khác của phụ nữ kỳ vọng chồng cho mình những cảm xúc như bình an hay hạnh phúc, và nếu không được như vậy thì thất vọng, thì biến mình thành nạn nhân và chồng là thủ phạm.
“Tòng phu” không có nghĩa là dựa dẫm hay đòi hỏi quá mức, tòng phu không có nghĩa là bắt chồng phải chịu trách nhiệm về cuộc đời, về cảm xúc, về suy nghĩ, về ý chí của mình. Như vậy, sai lầm trong việc “tòng phu” của Kiều xuất phát từ thất bại trong việc tu thân của Kiều.
Khi Từ Hải giúp Kiều trả ân, báo oán, lúc đó chắc chắn Kiều vẫn nghĩ là khổ đau của mình là do những kẻ ác đó gây ra, nhưng cái chết của Từ Hải trực tiếp cho Kiều thấy rằng bất hạnh đau khổ của Kiều là do chính Kiều trực tiếp gây ra.
Mảnh trăng đã gác non đoài,
Một mình luống những đứng ngồi chưa xong.
Triều đâu nổi sóng đùng đùng,
Hỏi ra mới biết là sông Tiền Đường.
Nhớ lời thần mộng rõ ràng,
Này thôi hết kiếp đoạn tràng là đây!
“Đạm Tiên, nàng nhé có hay?
Hẹn ta, thì đợi dưới này rước ta.”
Dưới đèn sẵn bức tiên hoa,
Một thiên tuyệt bút, gọi là để sau.
Cửa bồng vội mở rèm châu,
Trời cao, sông rộng, một màu bao la.
Rằng: “Từ công hậu đãi ta,
Xót vì việc nước mà ra phụ lòng.
Giết chồng mà lại lấy chồng,
Mặt nào mà lại đứng trong cõi đời?
Thôi thì một thác cho rồi,
Tấm lòng phó mặc trên trời, dưới sông!”
Trông vời con nước mênh mông,
Đem mình gieo xuống giữa dòng tràng giang.
Thổ quan theo vớt vội vàng,
Thì đà đắm ngọc, chìm hương cho rồi!
Thực ra như mọi cuộc hôn nhân, cuộc hôn nhân của Kiều thất bại vì cả hai vợ chồng đều thất bại trong Tu thân và Tề gia, nhưng thấy lỗi của người khác, bắt người khác phải sửa, đổ tội cho người khác cho các vấn đề của mình, oánh trách thất vọng về người khác thì dễ mà thấy lỗi của mình thì khó. Hoặc thấy mình có 1 lỗi nhỏ, người khác có 100 lỗi lớn, nên cuối cùng người khác vẫn là kẻ có lỗi, chứ không phải mình.
Có thể khi Từ Hải chết, Kiều cũng nhận ra bài học của mình, và Kiều cũng tận số. Chỉ có điều vận số của Kiều là ghép nhiều vận số lại với nhau, nên Kiều mới có thể được cứu, trong khi Từ Hải thì không. Điều này có nghĩa là Từ Hải cơ bản không đối xứng với Kiều, Từ Hải chỉ đối xứng với Kiều đến đoạn cả hai chùng chết mà thôi.
Như vậy qua truyện Kiều, có thể thấy rằng “Phu tử tòng tử” mà vợ chồng chưa có con nghĩa là người vợ cần làm hết những việc mà nghĩa vợ chồng đòi hỏi, nói cách khác là tận nghĩa vợ chồng. Tận nghĩa vợ chồng hoàn toàn có thể dẫn đến trạng thái suy hoặc chết của người vợ còn sống, khi người chồng của họ đã chết.
Nếu vận số của người vợ không tận cùng với người chồng đã chết của mình thì nghĩa là luôn có một đứa con nào đó để người vợ “tòng tử” và tiếp tục sống. Đó chính là trường hợp của Kiều.
TAM TÒNG CỦA KIỀU SAU ĐOẠN TRƯỜNG
Sau khi nhảy xuống sông Tiền Đường và được sư Giác Duyên cứu lên, Kiều tu thiền cùng sư Giác Duyên. Lúc này Kiều ở trạng thái xuất gia và Tam Tòng chuyển sang Quy y Tam Bảo.
– “Tại gia tòng phụ” trở thành “Quy y Phật”
– “Xuất giá tòng phu” trở thành “Quy y Tăng”
– “Phu tử tòng tử” trở thành “Quy y Pháp”
Cư sỹ tại gia mà Tam Tòng đúng thì khi xuất giá cũng Quy y đúng. Tam Tòng và Quy y có sự phát triển suốt cuộc đời, cùng với sự phát triển của con người.
Sau đó, gia đình Kiều tìm thấy Kiều ở chỗ sư Giác Duyên. Kiều dù vẫn muốn xuất gia, nhưng Quy y Tam Bảo lúc này lại chuyển thanh Tam Tòng. Vì bán mình chuộc cha Kiều xuất gia, và vì yêu cầu của cha mẹ, Kiều lại nhập gia. “Trong gia” mới đúng là con đường Kiều phải đi, nên sư Giác Duyên đã nhân lúc Kiều về với gia đình mà bỏ đi luôn, không lời từ biệt.
Một vòng Tam Tòng mới xuất hiện trong cuộc đời Kiều.
Kiều nghe lời cha mẹ, làm lễ bái đường với Kim Trọng. Đó là “Tại gia tòng phu”.
Kiều nghe lời Kim Trọng, làm lễ thành thân. Đó là “Xuất giá tòng phụ”.
“Phu Tử Tòng Tử” với Kiều chính là câu chuyện Quy y và vòng Tam Tòng tiếp theo sau khi Từ Hải mất. Kiều chấp nhận sai lầm của mình, bài học của mình, như chấp nhận cái chết của Từ Hải. Có nhiều người không vượt qua được cái chết của chồng để tiếp tục cuộc đời “tòng tử” và những vòng Tam Tòng mới như Kiều.
Kim Trọng ngay từ đầu mới là người đàn ông thật sự của gia đình và của Kiều, thì sau cả một đoạn trường, điều này vẫn vậy. Vậy Kim Trọng là ai với Thuý Vân ? Thuý Vân thực hiện yêu cầu Tam Tòng thế nào khi trước kia nhận chồng của chị và sau này lại chủ động yêu cầu chị lấy lại chồng mình. Lúc Kiều trao duyên cho Thuý Vân, Kiều đã chết đi sống lại, vì lễ trao duyên đó cũng chẳng khác nào lễ “Phu tử tòng tử” của Thuý Kiều. Lúc Kiều làm lễ thành thân với Kim Trọng, thì đó cũng là thời khắc “Phu tử tòng tử” với Thuý Vân. Xin hẹn một bài khác để nói về Tam Tòng của Thuý Vân.
Chia sẻ:
Scroll to Top