![]()
GIÁO DỤC : DẠY & HỌC LÀM NGƯỜI
Mỗi người sinh ra trên đời dường như có một thiên hướng nghề nghiệp, một ám ảnh cuộc đời, mà trên con đường đó họ mắc những sai lầm nghiêm trọng nhất, đạt được những thành công to lớn nhất, gặp những chán nản và khủng hoảng lớn nhất, chạm vào những niềm vui và động lực to lớn nhất, chữa lành những vết thương thân thể và tâm hồn nặng nề nhất, tạo ra những mối quan hệ thâm tình nhất.
Nghề nghiệp đó tạo ra một đường đời mà gọi là nghiệp, là duyên, là số, là mệnh, là hạnh, là đạo.
Với tôi, con đường đó là giáo dục, và không gian giáo dục tạo ra là trường. Vậy giáo dục là gì và trường học dành cho ai ?
Giáo dục là dạy và học làm người, dạy, tự dạy, học và tự học làm người. Giáo dục là tiến trình cuộc đời, còn làm người là còn dạy và còn học, là còn đi trên con đường giáo dục.
Trường học phải đủ rộng, giáo dục phải đủ sâu để ôm trọn vẹn con người thực của học sinh, giáo viên và cả phụ huynh, với tất cả các căn bệnh thân thể và vết thương tâm hồn của họ khi sống làm người.
Trường học không sinh ra để chào đón học sinh ngoan, vinh danh học sinh ngoan, tạo thêm nhiều học sinh ngoan, đồng thời loại bỏ, cách ly hay cải tạo học sinh hư. Tương tự, trường học không sinh ra để chào đón giáo viên giỏi, vinh danh giáo viên giỏi. Trường học cũng không sinh ra dành cho phụ huynh hiểu biết và có điều kiện.
Trường học đơn giản sinh ra để giáo dục con người đang sống với tất cả các vấn đề của mình … tiếp tục làm chính con người của họ ở một phiên bản trọn vẹn hơn.
Làm người, ai mà không có thân bệnh. Từng tế bào, từng cơ quan, máu huyết hơi thở của chúng ta, đều đã, đang và sẽ mắc bệnh. Bệnh nhẹ thì tự khỏi. Bệnh nặng hơn xíu thì tự chữa tự dưỡng cũng tự khỏi, với di chứng hoặc mầm bệnh nằm ngủ yên bên trong cơ thể. Bệnh nặng quá thì phải nghỉ học, nghỉ làm để chữa. Bệnh nặng nữa thì những người khác phải nghỉ học, nghỉ làm để chăm sóc mình. Bệnh nặng quá rồi thì phải dừng lại cả cuộc đời, chấp nhận cái chết. Tất cả những căn bệnh còn lại, giữa thái cực của nhẹ và nặng, chúng ta sẽ mang nó trên thân thể mình, chúng ta sẽ sống với nó suốt cả cuộc đời mình, để đau với nó và để trường thành với nó. Tất cả những căn bệnh còn lại, chúng ta sẽ mang nó đến trường và trường học cần đủ rộng để không chỉ đón nhận học sinh mà đón nhận các căn bệnh thân thể của học sinh.
Làm người, ai mà không có tâm bệnh. Khi tâm mạnh, một kỹ thuật chúng ta làm là huyền thuật, khi tâm bệnh, cũng kỹ thuật ấy lại thành tà thuật.
Cơ bản tâm bệnh và tà thuật khó quan sát hơn rất nhiều so với thân bệnh, nhưng tâm bệnh và bệnh thân là cặp đôi của nhau. Xét nghiệm hay thăm khám là kỹ thuật dành cho việc phát hiện và đánh giá thân bệnh, như thiền hay tâm lý học là kỹ thuật đặc trưng dành cho việc phát hiện và đánh giá tâm bệnh.
Tà tâm hiện diện bên trong tất cả chúng ta, tà thuật ẩn hiện trong mỗi hành vi của chúng ta, y như bệnh tật ẩn hiện trong cơ thể vật lý, biểu hiện ra trong mỗi tư thế và vận động của thân thể. Có những cấp thân bệnh từ nặng đến nhẹ, thì cũng có từng ấy cấp tâm bệnh từ nặng đến nhẹ.
Tà tâm nhẹ, ví dụ như một nhận thức nhầm lẫn về một cái cây sẽ tự cập nhật khi chúng ta thực sự gặp cái cây đó trong đời. Tà tâm nặng hơn, cần nhiều trải nghiệm và nhiều nhận thức hơn để vượt qua, ví dụ sinh con ra mới hiểu lòng cha mẹ. Tà tâm nặng quá thì cần thiền sâu hơn để hiểu, và một con đường hành động, một hành nguyện đủ lớn để chữa. Tà tâm nặng nữa ví dụ lao theo thày bà bỏ bê gia đình hoặc bị lừa tiền bạc, tài sản thì hại chính mình rồi hại cả người thân. Tà tâm nặng nhất cũng giống như thân bệnh nặng nhất đều dẫn đến cái chết.
Chết là thời điểm cả thân bệnh và tâm bệnh cùng đạt ngưỡng. Tất cả đều chết vì cả thân bệnh và tâm bệnh đạt ngưỡng. Không ai chỉ chết vì tâm bệnh hoặc chỉ chết vì thân bệnh. Người tự tử vì thất tình hay thất bại, chết vì tâm bệnh quá lớn đến mực tự gây cho mình thân bệnh chí mạng để kết thúc cuộc đời. Người chết trong lúc đang vật lộn với các kỹ thuật điều trị bệnh của y bác sỹ, không có thời gian bình yên về với gia đình là người mà tâm không đủ sức mạnh tinh thần dẫn đường cho thân, tâm chỉ còn đắm chìm vào việc làm sao cho thân sống được thêm.
Khi một người chết, họ từ bỏ thân thể của mình, nhưng mang theo bài học của tất cả những căn bệnh mà họ đã vượt qua và không vượt qua sang các kiếp sau … để mắc bệnh tiếp và học tiếp.
Khi một người chết, họ mang nguyên tâm bệnh của mình thành ma hoặc mang tâm thần, tiên, thánh, chúa, phật của mình mà hoá thành những vị ấy.
Như đã nói một người còn sống, họ mang tất cả thân bệnh ở cấp độ chưa phát bệnh nặng đến trường. Tương tự, khi một người còn sống làm người, mọi tâm bệnh cũng như mọi tiềm năng vĩ đại của tâm sẽ đều được mang đến trường học làm người.
Lúc sống nợ nhiều bài học làm người quá sẽ được làm ma để học tiếp cho đến lúc siêu thoát, tái đầu thai làm người tiếp, đến trường học làm người tiếp. Đi qua nhiều bài học làm người thành công sẽ tự thành thần, tiên, thánh, chúa, phật, mà thực chất là quay về cái gốc trước khi đầu thai nhưng đã trưởng thành hơn sau một tiến trình làm người.
GIÁO DỤC : SUỐT MỘT ĐỜI NGƯỜI
Ngày xưa tôi không ưa Khổng Tử, bởi vì tôi không ưa Tam tòng Tứ đức. Thực ra tôi chẳng hiểu chút nào về Khổng Tử và triết lý giáo dục của ông, tôi đơn giản ghét bị phán xét theo quy chuẩn, trong đó có quy chuẩn được dán nhãn Nho giáo. Một ngày tôi nhận ra, nếu một người đi trên con đường giáo dục đủ lâu bền, cuối cùng người ấy sẽ chạm đến triết lý giáo dục mà Khổng Tử và những nhà giáo dục chân chính đã đưa ra : DẠY LÀM NGƯỜi & DẠY MỌI NGƯỜI.
Ai đã chấp nhận bản chất của giáo dục là dạy làm người, sớm muốn cũng sẽ chấp nhận rằng giáo dục dành cho tất cả mọi người, ở mọi lứa tuổi.
Ai đã chấp nhận bản chất của giáo dục là dạy làm người, sớm muốn cũng sẽ chấp nhận rằng giáo dục xuất phát từ gia đình, nơi con người được sinh ra.
Giáo dục đích thực không loại trừ các đối tượng, không có điểm bắt đầu, không có điểm kết thúc, và không có hình thức cứng nhắc cố định, mà đi theo suốt cả cuộc đời và đi xuyên qua những cuộc đời, thích nghi với mọi hoàn cảnh.
Giáo dục bắt đầu từ lúc sinh ra đến lúc chết đi.
Giáo dục bắt đầu từ trong thai kỳ đến khi xuống mộ.
Giáo dục bắt đầu từ trong gia đình, từ ông bà, cha mẹ, con cháu, ra đến xã hội.
Giáo dục bắt đầu từ khi văn minh bắt đầu và vẫn tiếp tục ngay cả khi văn minh kết thúc, giáo dục cùng với lịch sử đầu thai của mỗi người và lịch sử các văn minh của nhân loại. Công nguyên nếu có kết thúc thì giáo dục công nguyên cũng kết thúc, nhưng giáo dục vẫn sẽ còn.
GIÁO DỤC : TA LÀ NGƯỜI LỚN HAY TRẺ NHỎ ?
Cha mẹ thường nghĩ là mình học xong rồi, giờ mình sẽ tìm một hệ thống, một phương pháp, một trường học tốt nhất và phù hợp nhất cho con mình. Một số cha mẹ còn tự nguyện học để trở thành giáo viên hoặc mở trường. Bao nhiêu công sức gian nan.
Cha mẹ và cô giáo có biết đâu, không thể nhìn vào tuổi đời để nói rằng một người đã trưởng thành. Hầu hết cha mẹ hiện nay chưa hề dứt căn, nghĩa là khía cạnh tinh thần chưa vượt được ngưỡng tuổi 13 của cổ nhân, cho nên cơ bản không thể hiểu được và làm theo được những bậc thánh nhân về giáo dục như Khổng Tử của phương Đông hay Steiner của phương Tây.
Đọc Kinh Phật, tu theo đạo Phật, chẳng có nghĩa là hiểu được đạo Phật hay đạt được điều gì đó bền vững nhờ đạo Phật, học thánh nhân, đi theo thánh nhân không có nghĩa là hiểu và làm được giáo dục như thánh nhân. Cái này về nguyên tắc mỗi chúng ta hiểu được và chấp nhận được hết, nhưng về thực hành giáo dục thì chưa chắc.
Về phía học sinh, học sinh hoặc phải học kiều nhồi nhét kiến thức và kỹ năng, hoặc phải học những thứ của thánh nhân mà cha mẹ thiết tha, nhưng chưa chắc đã hợp với văn hoá bản địa và hiện thực đời sống. Nghĩa là trẻ nhỏ mà phải học kiểu người trưởng thành, người quốc tế, người lão thành, người đắc đạo rồi.
Giáo dục trở thành cuộc chơi của người lớn tâm trẻ nhỏ dạy cho trẻ nhỏ bắt buộc phải lớn gấp. Lúc này khái niệm giáo dục trẻ em đã sai từ việc nhận thức ai là trẻ em, ai là người lớn, và ai là thày, ai là trò.
Quay lại với đạo Nho, mà nói rằng “tu thân, tề gia, trị quốc, bình thiên hạ”, có thể thấy vấn đề với giáo dục là các bậc cha mẹ chưa tu thân xong, đã phải lập gia đình và có con nên tề gia cũng chưa xong, đã đắm chìm cả thân thể và gia đình mình vào những triết lý giáo dục của các thánh nhân cỡ trị quốc, bình thiên hạ từ những nền văn hoá xa xôi mà họ không có năng lực thấu hiểu, tích hợp khi mà văn hoá gốc và các thánh nhân của chính đất nước và dân tộc của mình, họ còn không vững.
Nếu đã xác định giáo dục là để làm người, giáo dục là dành cho đại chúng, thì chúng ta phải giải bài toán của cả đại chúng này như thế nào ?
Khi dạy thiền Vipassana, tôi bắt đầu vấp váp với khái niệm chúng ta thực sự bao nhiêu tuổi, tuổi thân, tuổi đời và tuổi mệnh. Cơ bản thiền Vipassana chỉ dành cho người lớn, không dành trẻ nhỏ và cả những người còn thiếu hụt hoặc lệch lạc trong các trải nghiệm cuộc đời, mà cần lớn thêm về tuổi và trải nghiệm thêm về đời. Thiền cơ bản chỉ hợp với người đạt được một ngưỡng tuổi đời nào và tuổi tâm nào đó. Tôi nhận thấy những học sinh có vấp váp gia đình con cái thông thường sẽ có tâm thiền vững vàng hơn học sinh thiếu các trải nghiệm dạng này, nghĩa là các học sinh này với các trải nghiệm gia đình đủ sâu và đủ đa dạng sẽ có tuổi đời, tuổi tâm lớn hơn. Không nên và không thể đến với thiền quá sớm, có những người nên vấp váp thêm vài năm, rất nhiều trong đời, nếu lúc này vẫn còn đủ lực quay lại với thiền, thì tâm thiền sẽ vững, đường thiền sẽ dài lâu hơn. Thiền cốt lõi dành cho người của Tăng đoàn, mà chỉ có đức Phật mới biết biết tường rằng họ thật sự là ai, bởi là một nhóm người lớn khá trưởng thành về tuổi đời và tuổi tu đạo so với số đông, nhưng đạo Phật về hình thức bên ngoài như tất cả các tôn giáo khác là dành cho tất cả đại chúng và phải hướng về việc cứu giúp toàn bộ đại chúng.
Tôi cho rằng đức Phật với tầm nhìn xuyên luân hồi, với dự báo về Mạt Pháp đã thấy trước điều và đã mở sẵn ra một con đường đạo Phật đủ rộng để chứa tất cả vấn nạn của nhân gian bên trong những ngôi chùa và bên trong giới tu sĩ, nhưng vẫn duy trì và phát triển trong hơn hai nghìn năm qua một nòng cốt tăng đoàn âm thần sống giữa đám đông. Đó chính là Trung đạo.
GIÁO DỤC : NHO HỌC KHỔNG TỬ & NHÂN HỌC STEINER
Một ngày đẹp trời tôi nhận ra Khổng Tử, một thánh nhân giáo dục của phương Đông đã xây dựng một bộ kinh để học những cái căn bản của đạo làm người, Steiner một bậc thánh nhân giáo dục khác của phương Tây thời hiện đại hơn cũng xây một hệ thống triết lý và thực hành Nhân học y như vậy.
Khổng Tử hay Steiner khi đưa ra triết lý giáo dục của mình, rất có thể đã tính trước đạo của mình sẽ phát triển ra sao dưới thời Mạt pháp này rồi, y như là một người trồng cây phải tính trước năng lửa gió mưa bão táp bốn mùa và sâu bọ.
Khi đi học Hán Nôm và thư pháp, tôi biết trước là tôi sẽ là học sinh dốt nát dạng cá biệt, bởi vì cái tôi ám ảnh tôi là cả một tiến trình phát triển của ngôn ngữ viết, ngôn ngữ nói của các dân tộc và tiến trình phát triển của Nho giáo, mà chắc chắn Khổng Tử đã tính trước rồi, còn tôi lại không hiểu, mà chỉ đang cố tưởng tượng ra trong khi viết những chữ thư pháp xấu như nòng nọc.
Tôi tin rằng một vị thánh nhân như Khổng Tử chắc chắn phải xây dựng một tiến trình phát triển của Nho giáo trong tiến trình phát triển chung của ngôn ngữ tượng thanh và tượng hình. Tôi tin rằng một vị thánh nhân như Khổng Tử phải đặt nền giáo dục Nho giáo trong nền giáo dục cá nhân và đại chúng thông qua việc sử dụng ngôn ngữ của các dân tộc nằm trong cả một khu vực rộng lớn trải dài từ Ấn Độ, Tây Tạng qua Đông Nam Á sang Trung Quốc.
Thánh nhân sinh ra ở Trung Quốc không có nghĩa là ông chỉ là người Trung Quốc, hay tầm nhìn và trải nghiệm của ông dính chặt vào mảnh đất Trung Quốc, ông sinh ra vào thời kỳ buổi manh nha của Công Nguyên không có nghĩa là tầm nhìn và trải nghiệm của ông chết cứng ở đầu Công Nguyên, ông viết chữ tượng hình không có nghĩa là ông không mượt mà trong ngôn ngữ nói và văn truyền miệng và không chạm được cái gốc của ngôn ngữ nói chung của nhân loại.
Nếu Nguyễn Du còn làm được như vậy, lẽ nào Khổng Tử lại không. Nếu Homer còn làm được như vậy, lẽ nào Steiner lại không.
Nho giáo đích thực nhất định cũng phải có cội rễ sâu rộng và tiến trình phát triển dài lâu như đạo Lão hay đạo Phật trong bộ Tam giáo đồng nguyên, … chỉ cần chúng ta đủ lòng biết ơn.
Khi tôi phải xem lại toàn bộ tiến trình dạy học của mình và bắt đầu cam kết với giáo dục con người, trong những giấc mơ tôi gặp lại Steiner, và những trải nghiệm của tôi với hệ thống giáo dục này, mà tôi tưởng đã hoàn toàn lãng quên, sau sự kiện tôi từ chối tham gia vào một vụ bóp méo một bài hát dễ thương của thiếu nhi Việt. Tôi lúc đó chưa đủ sức để hiểu được thứ tình yêu thiếu nhi mà không đi cùng, sự trân trọng ngôn ngữ, văn hoá nghệ thuật của dân tộc bản địa mà đã sinh ra đứa trẻ ấy. Giờ thì tôi hiểu hơn một chút rồi.
Tôi lờ mờ hiểu rằng như tất cả các vị tổ sư vào thời Mạt pháp này, Steiner đã tính trước được rằng rất nhanh triết lý giáo dục của ông sẽ không được hiểu đúng, làm đúng, bởi chính những người tôn sùng ông nhất và hy sinh cả cuộc đời mình cho hệ thống giáo dục mang tên ông nhất, và một số trường Steiner mà quá dị biệt, quá ngoại lại, quá bên lề có khả năng bị cả thị trường và xã hội đào thải, nếu như nó không thể tích hợp vào thị trường và xã hội, mà lại đứng trên trời nhìn xuống thị trường và xã hội.
Có lẽ nhân học và giáo dục đại chúng trên khắp nơi trên thế giới dù là Nho học Khổng Tử ở phương Đông hay Steiner ở Phương Tây đều gặp những vấn đề này và vấn đề khác như vậy.
Có lẽ vị thày nào, vị sư tổ, vị đạo tổ nào cũng là một người cha mà luôn yêu thương tất cả các đứa con của mình.
Cuộc sống là như thế và giáo dục chính là như thế, nó rất chân thật và luôn có tình yêu của cha và mẹ.
Khi mới bắt đầu vào đạo Phật, tôi nhận ra đức Phật cực kỳ thấu hiểu các giá trị của Bà la môn mà được thể hiện rõ nét ở các quốc gia theo đạo Phật nguyên thuỷ, nhưng ông không kế thừa hay phát huy các giá trị truyền thống này dưới cái vỏ Bà la môn, mà ông quay về cái gốc của Bà la môn, mà cũng là cái gốc của các tôn giáo bản địa nói chung, thông qua thiền và từ cái gốc này, ông khai sinh, nói đúng hơn là ông tái sinh ra đạo Phật, mà sẽ phát triển hưng thịnh trong suốt cả Công Nguyên, nhưng lại đỡ cho Bà La Môn giáo tái sinh và tái thích nghi tại chính nơi mà đạo Phật ra đời.
Nếu đứng trên cùng một tư duy này, Nho giáo cùng chữ tượng hình phương bắc sẽ có một tiến trình phát triển y hệt, mà cuối cùng sẽ đỡ ngược lại cho chữ tượng thanh gốc của nó ở phương nam.
Khổng Tử nhất định đã tính trước việc tích hợp Nho giáo với cái gốc xa hơn của các tôn giáo khác, việc tích hợp hình thanh và tâm ý, điểm mạnh của chữ tượng thanh với nhau trong chữ tượng hình. Không Tử nhất định sẽ giữ lấy cái giá trị gốc của giáo dục con người không qua ngôn ngữ nói và viết nói chung, chứ không chấp vào một ngôn ngữ, một đối tượng dân tộc hay vào cái mà chúng ta gọi Nho giáo. Đây chắc chắn là việc ông đã phải tính và phải làm khi đưa ra các nguyên tắc làm người đúng cho cả nhân loại, mà ông nói thẳng băng luôn từ đầu là ông chỉ ghi chép lại bằng chữ tượng hình và sưu tầm vào trong các kinh mà được đặt tên là Nho giáo mà thôi. Điều này chẳng khác gì đức Phật nói về chân lý của vạn vật nói chung, dù chúng ta gọi đó là Phật Pháp.
Chân lý thực tế không phân biệt giáo pháp nhưng bắt buộc phải diễn đạt theo các cách khác nhau khi đi vào một giáo pháp cụ thể, đến với một đối tượng cụ thể, sống trong một không thời gian cụ thể.
Đơn giản là ngay từ đầu mọi thứ đã có chung một gốc và các vị Thánh tổ, Đạo tổ luôn đứng ở cái gốc chung này, để sinh và tái sinh ra Đạo, như nhân loại được sinh ra và tái sinh ra qua các văn minh. “Đạo khả Đạo vô thường Đạo”. Cái thế Đạo quá cao này của các vị Thánh tổ và Đạo tổ là cái mà người thường chúng ta đương nhiên là không đứng nổi mà chỉ cố tưởng tượng ra với lòng biết ơn sâu sắc mà thôi.
Rất có thể Khổng Tử, Mạnh Tử, Trang Tử … vẫn ở ngoài kia, vẫn đang làm về giáo dục, theo những cách thức mà chúng ta nếu quá cố chấp vào hình thức của Nho giáo sẽ không thể thấy được.
Rất có thể Steiner cũng vậy, vẫn ở giữa chúng ta, chúng ta nhất định sẽ găp ông khi chúng ta đi trên con đường giáo dục trẻ em, giáo dục con người, theo cách riêng của mỗi chúng ta, nếu chúng ta hiểu rằng chúng ta phải đi từ gốc và chỉ giữ lấy cái gốc của giáo dục con người mà thôi, và phải tự thích nghi trong hoàn cảnh cụ thể của cuộc đời mình, của cuộc đời học sinh và của cuộc đời giáo viên mà đến với mình.
