![]()
TỨ DÂN (BỐN DÂN)
“Sĩ nông công thương” được gọi là “tứ dân” hay “bốn dân”
Gặp đời hải yến hà thanh,
Bốn dân trăm họ an lành ấm no.
Nay mừng điển hội cầu nho,
Văn nhân sĩ tử phải lo học hành,
Làm sao cho được công danh,
Bõ công bác mẹ sinh thành ra thân.
Lại bàn đến việc nông dân,
Cày mây cuốc gió, chuyên cần công phu.
Đêm thời cổ phúc nhi du,
Ngày thời kích nhưỡng khang cù vô ngu.
—o—
QUAN HỆ CỦA TỨ DÂN
Nhất sĩ nhì nông
Hết gạo chạy rông
Nhất nông nhì sĩ
Mười người đi buôn không bằng một người lộn đất
Phi thương bất phú
—o—
TỨ DÂN & TỨ ĐỨC
Có sự liên hệ giữa tứ dân “sĩ nông công thương” với tứ đức “công dung ngôn hạnh” như sau
– Sĩ – Ngôn
– Nông – Dung
– Công – Công
– Thương – Hạnh
Cả hai là những thiên hướng nghề nghiệp của nữ và nam, liên quan đến đầu thai gốc, bào thai gốc trong luân hồi đầu thai
– Rốn : Sĩ (rốn dương) – Ngôn (rốn âm)
– Nhau : Nông (nhau dương) – Dung (nhau âm)
– Công : Công (thân dương) – Công (thân âm)
– Thương : Thương (ối dương) – Hạnh (ối âm)
—o—
SĨ
Sĩ nằm trong bộ
– “sĩ nông công thương”
– “thiên tử” 天子, “chư hầu” 諸侯, “đại phu” 大夫, “sĩ” 士 và “thứ nhân” 庶人.
– trước là sĩ sau là khanh tướng
SĨ (theo kỹ năng, chuyên môn, nghề nghiệp)
Học sĩ
Nho sĩ
Văn sĩ
Thi sĩ
Nhạc sĩ
Ca sĩ
Hoạ sĩ
Bác sĩ
Y sĩ
Dược sĩ
Nha sĩ
Nghệ sĩ
Đạo sĩ
Thuật sĩ
Đấu sĩ
Chiến sĩ
Vệ sỹ
Lực sĩ
Giáp sĩ
Binh sĩ
Kiếm sĩ
Duyên mình bắt bén duyên ta
Cũng bằng tiến sĩ đi ba lọng vàng
Nhỏ còn thơ dại biết chi
Lớn rồi đi học, học thì phải siêng
Theo đòi cũng thể bút nghiên
Thua em, kém chị cũng nên hổ mình
Xướng ca vô loài
Cây chi nhánh sắt cội ngà
Hỡi chàng nho sĩ biết là cây chi?
Là cây gì?
SĨ (theo tính chất hoặc tước hiệu)
Bần sĩ
Ẩn sĩ
Hiền sĩ
Nghĩa sĩ
Khanh sĩ
Chí sĩ
Liệt sĩ
Tử sĩ
Dũng sĩ
Tráng sĩ
Danh sĩ
Hiệp sĩ
Quốc sĩ
Nhân sĩ
Nữ sĩ
Kẻ sĩ
Tướng sĩ
Quân sĩ
Tiến sĩ – Thạc sĩ
Thượng sĩ – Trung sĩ – Hạ sĩ
Sĩ phu
Sĩ tử
Sĩ sư : quan coi ngục
Sĩ thứ : con trai thứ chưa lấy vợ
Sĩ quan
Sĩ tốt
Hai tay bưng chén xôi vò
Ăn chay nằm đất cho trò đi thi
Sĩ diện
Sĩ Nhiếp
—o—
NÔNG
Làm nông : trồng cây, nuôi con (săn bắt, hái lượm thuộc về Công nhiều hơn là Nông)
Nông dân
Nông cụ
Nông thôn
Nghề nông
Nông nghiệp
Nông nhàn
Thần Nông
Nhất nước, nhì phân, tam cần, tứ giống
Phân tro không bằng no nước
Không nước không phân
Chuyên cần vô ích
Thứ nhất cày nỏ
Thứ nhì bỏ phân
Ra đi anh có dặn dò
Ruộng sâu cấy trước, ruộng gò cấy sau
Lúa mùa thì cấy cho sâu
Lúa chiêm thì gảy cành dâu mới vừa
Răng bừa tám cái còn thưa
Lưỡi cày tám tấc mới vừa luống to
Muốn cho lúa nẩy, bông to
Cày sâu bừa kĩ, phân tro cho nhiều
—o—
CÔNG
CÔNG (danh từ)
Vô công rồi nghề
Của chồng, công vợ
Người góp công, người góp của
Công cha như núi Thái Sơn
Nghĩa mẹ như nước trong nguồn chảy ra
Một lòng thờ mẹ kính cha
Cho tròn chữa hiếu mới là đạo con
Khó thì hết thảo hết ngay
Công cha cũng bỏ, nghĩa thầy cũng quên
Công tôi gánh gạch xây tường
Biết rằng có được thắp hương chùa này
Chả tin, lên hỏi ông thầy
Gạch này ai gánh, chùa này ai xây?
Công anh tháng đợi năm chờ
Sao em dứt chỉ lìa tơ cho đành?
Công anh đắp đập be bờ
Để ai tháo nước, để lờ anh trôi
Cố công đẽo một cái cày
Đẽo được ba ngày, ra chiếc chìa vôi
Công việc
Công tác
CÔNG (vận hành công)
Tính công
Trả công
Làm công
Thi công
Kể công
Cố công
Nhọc công
Mất công
Phí công
Tốn công
Tiếc công
Tham công tiếc việc
Tốn công vô ích
Tiếc công vun quén cây tùng
Săm soi trên ngọn, gốc sùng không hay
Ba năm bú mớm con thơ
Kể công cha mẹ, biết cơ ngần nào
Dạy rằng chín chữ cù lao
Bể sâu không ví, trời cao không bì
Tiền công
CÔNG (người)
Đốc công
Lao công
Nhân công
CÔNG (người)
Công nhân
Công khanh
Công tử : Công tử bột
Công tước
Lỡ quan, lỡ lính, lỡ làng
Lỡ hàng dân giả, lỡ hàng công khanh
Đẻ con công tử khó nuôi,
Lấy chồng công tử làm tôi một đời
CÔNG (tổ chức)
Công đoàn
Công ty
CÔNG (tính chất)
Công bằng
Công cộng
Công quả
Công ước
Công án
Công danh
Công cán
Công lực
Công sức
Công lao
Công trạng
Công cán
Dã tràng xe cát biển Đông
Nhọc nhằn mà chẳng nên công cán gì
Ban ngày dang nắng, tối lại dầm sương
Công lao tôi khổ mình thương không mình
Chớ lo rằng muộn công danh
Khoa này chẳng đỗ để dành khoa
Vui là vui gượng qua thì
Công danh chưa toại, vui gì mà vui
Trời cao đất rộng thênh thênh
Công danh phú quý còn dành cho ta
Có công mài sắt, diệt tà
Gặp thời lộc sẽ vào ra dồi dào
Công của cũng chẳng là bao
Ra tay tháo vát, thế nào cũng nên
Công nguyên
Ông Công ông Táo
Sông Công
Gò Công
Gò Công anh dũng tuyệt vời
Ông Trương Đám Lá Tối Trời đánh Tây
—o—
THƯƠNG
Thương nằm trong bộ
– ngũ âm “cung, thương, giốc, chủy, vũ”
THƯƠNG (danh từ)
Thương nhân
Thương gia
Thương đoàn
Thương thuyền
Thương điếm
Thương vụ
Thương mại
Thương nghiệp
THƯƠNG (tính từ)
Công thương
Hiệp thương
THƯƠNG (vận hành)
Giao thương
Thương lượng
THƯƠNG (tính từ)
Thương tích
Bị thương
Dưỡng thương
Trấn thương
Thương binh
THƯƠNG (danh từ)
Cái thương : 1 loại vũ khí
THƯƠNG (động từ)
Thương ai đó
Thương cái gì đó
Thương hại
Thương tình
Thương xót
Thương cảm
Thương người như thể thương thân
Thương mình dạ cắt lòng đau
Những thương mà chết, những sầu mà hư!
THƯƠNG (danh từ) : một loại cảm xúc
Tình thương
Lòng thương
THƯƠNG (tính từ)
Bi thương
Dễ thương
THƯƠNG (danh từ)
Thương số (toán học) : kết quả của phép chia, ví dụ sáu chia cho ba, thương số là hai.
Sông Thương
Nhà Thương
Sao Thương
Buôn có bạn,
Bán có phường
Đạo nào vui bằng đạo đi buôn
Xuống biển, lên nguồn, gạo chợ, nước sông
Đi buôn chung vốn chung lời
Chung tiền chung gạo, còn người không chung
Tháng sáu anh đi buôn bè
Tháng bảy tháng tám trở về buôn ngô
Đắt hàng nói quấy nói càng
Ế hàng thì gánh vào làng mà rao
Thuyền dời nhưng bến chẳng dời
Bán buôn là nghĩa muôn đời cùng nhau.
Ăn lãi tùy chốn
Bán vốn tùy nơi
Bán tháo bán đổ
Buôn may bán đắt
Hừng đông vỗ cửa kêu nàng
Sao không mở cửa dọn hàng bán buôn
Đi buôn nhớ phường
Đi đường nhớ lối
Bán hàng nói thách
Làm khách trả rẻ
Nể cô nể dì còn gì là vốn
Thà bán đổ còn hơn xách rổ về không
Người trời thì bán chợ trời
Hễ ai biết của, biết người thì mua
Dò sông dò biển dò người
Biết đâu được bụng lái buôn mà dò
Được mùa buôn vải buôn vóc
Mất mùa buôn thóc buôn gạo
Đi buôn nói ngay bằng đi cày nói dối
Mua bán chợ đen, thân quen nhiều ngách
