NHO GIÁO : TU THÂN, TỀ GIA, TRỊ QUỐC, BÌNH THIÊN HẠ

Loading

PHÁP LÀM NGƯỜI
Trước kia tôi nghĩ “Tu thân, tề gia, trị quốc, bình thiên hạ” là một triết lý giáo dục của Nho giáo, mà cá nhân tôi thấy quá hợp lý, quá thực tiễn, không cần chứng minh hay lý giải gì cả.
Sau rất nhiều vấp váp với bản thân và với gia đình, khi đến với thiền, tôi xác định tập trung vào hai mục tiêu là bản thân và gia đình, cụ thể tự thấu hiểu, tự chịu trách nhiệm và tự phát triển bản thân và gia đình; còn trị quốc đã có chính phủ, đúng sai phải trái của chính phủ không đến lượt mình bàn và bình thiên hạ là việc của thánh nhân, mà cũng không đến lượt mình lo. Tôi cho rằng, khi một người phát triển vững vàng hai cấp thân và gia rồi, tự nhiên họ sẽ trị quốc và bình thiên hạ được theo cách của bản thân mình và theo hoàn cảnh của gia đình mình.
Sau bao nhiêu năm cuộc đời, tôi mới nhận ra đây không chỉ là một triết lý giáo dục của riêng Nho giáo, mà là một “pháp” trong nhân học.
“Tu thân, tề gia, trị quốc, bình thiên hạ” là một lộ trình sống tự nhiên của con người như là “sinh lão bệnh tử”. Nếu “sinh lão bệnh tử” là một chu kỳ sống của thân, thì “tu thân, tề gia, trị quốc, bình thiên hạ” là một chu kỳ vận hành của tâm, mà có thể lặp lại nhiều lần với thời gian dài ngắn khác nhau trong cả cuộc đời.
Phương Tây cũng có các mô hình tương tự, ví dụ tháp nhu cầu Maslow đề xuất năm 1943, mà chia các mong muốn của con người thành năm tầng từ thấp đến cao
– Tầng 1 (Sinh lý): Ăn, uống, ngủ, nghỉ, quần áo và các yếu tố duy trì sự sống.
– Tầng 2 (An toàn): Sự ổn định việc làm, sức khỏe, tài chính, an toàn thân thể và nơi ở.
– Tầng 3 (Xã hội) : Tình cảm, gia đình, bạn bè, nhu cầu thuộc về một tổ chức hoặc cộng đồng.
– Tầng 4 (Được tôn trọng): Lòng tự trọng, sự quý mến, uy tín và sự công nhận từ người khác.
– Tầng 5 (Thể hiện bản thân): Sáng tạo, phát triển tiềm năng cá nhân và đạt được những hoài bão riêng.
Khi con người đáp ứng được nhu cầu cơ bản của tầng thấp, họ sẽ tự động có các nhu cầu ở tầng cao hơn. Sau khi thoả mãn nhu cầu ở tầng cao nhất, họ lại quay vòng tháp nhu cầu này lần nữa, nghĩa là từ 1 sang 5, rồi lại từ 5 sang 1 cho vòng tiếp theo, với các nhu cầu của vòng sau thường sang chảnh hơn vòng trước, ví dụ vòng 1 của tầng 1 là ăn no, mặc đủ, vòng 2 của tầng 1 là ăn ngon, mặc đẹp.
Số đông chỉ có động lực hời hợt và mất cân bằng ở một tầng nào đó, mà mất động lực, bỏ bê, thất bại ở các tầng khác. Dân gian gọi sự vận hành tiến lên của tháp nhu cầu này, thiên về vẽ vời thêm nhiều hình thức hơn là đi sâu hơn vào bản chất, là “phú quý sinh lễ nghĩa”.
Một người giỏi so với số đông có thể duy trì động lực sống sâu sắc và hài hoà ở tất cả các tầng. Nghĩa là động lực sống của họ cao hơn gấp nhiều lần những người khác, với nội động lực và ngoại động lực là khá cân bằng.
“Tu thân, tề gia, trị quốc, bình thiên hạ” có thể hiểu đơn giản là một tháp động lực mà có thể quay vòng, tạo nên một mô hình xoáy trôn ốc cao dần và rộng dần, chứ không chỉ là con đường phát triển một chiều từ thấp lên cao.
– Tu thân là quản trị và phát triển bản thân, với động lực tự thân, chứ không phải để chứng minh cho người khác, tức nhiên quản trị và phát triển bản thân phải đặt trong các quan hệ gia đình và xã hội
– Tề gia là quản trị và phát triển gia đình, bằng nội lực gia đình chứ không phải để thể hiện cho họ hàng và xã hội, tức nhiên một gia đình chỉ có thể phát triển thực sự trong lòng dòng họ và xã hội. Tề gia đích thực là làm sao mỗi cá nhân trong gia đình cũng tu thân ngay trong chính gia đình.
– Trị quốc là quản trị và phát triển đất nước, với nội lực của đất nước, tức nhiên quản trị và phát triển đất nước phải đi cùng với việc hợp tác và bảo vệ đất nước khỏi các cường quốc láng giềng và năm châu. Trị quốc đích thực là làm sao mỗi cá nhân trong quốc đều có tu thân, mỗi gia đình trong quốc đều có tề gia.
– Bình thiên hạ là bình định thiên hạ, là trung bình thiên hạ, là thấu hiểu thiên hạ, là cân bằng thiên hạ, là bao trùm thiên hạ mà vẫn ở giữa thiên hạ. Các hạnh nguyện của Bồ tát như hạnh nguyện của mẹ Quán âm thể hiện cực kỳ rõ trạng thái bình thiên hạ này.
Thực tế là có vô số cấp độ và vô số cách tích hợp của “Tu thân, tề gia, trị quốc, bình thiên hạ”.
“Tu thân, tề gia, trị quốc, bình thiên hạ” có kiểu này và kiểu khác, ví dụ với trị quốc
– Có nhiều người “việc nhà thì nhác, việc chú bác thì siêng”, tề gia chưa xong, tự mình không trị quốc, nhưng rất hăng say với các vấn đề tầm quốc gia đại sự, tầm chính phủ.
– Để vận dụng Nho giáo vào phép trị nước của vua, thì trị quốc được diễn giải là ra làm quan phục vụ cho vua, rồi vua lãnh đạo quan trong việc trị quốc.
– Nếu trị quốc là cấp vương và cấp vua, thì bình thiên hạ ít nhất phải ở cấp thiên tử (một số người coi thiên tử, vương và vua mà khác xa nhau là một).
– Quốc gia trong trị quốc là địa vị, cấu trúc xã hội/tự nhiên và công việc mà mình chịu trách nhiệm trong xã hội, ví dụ công việc, công ty, nhóm xã hội, dự án xã hội.
Một người theo Nho giáo có thể đặt trị quốc dưới vua hay dưới chính phủ, nhưng Khổng Tử mà định vị bản thân thấp và hẹp như thế thì ông đã không tên là Khổng Tử, thì ông đã không đặt ra cấp “bình thiên hạ” trên cấp “trị quốc”, thì ông đã không bôn ba khắp nơi, chẳng ở lại với bất kỳ ông vua nào cả, thì ông đã chẳng hoài niệm về thời kỳ của Chu Công và Chu Văn Vương.
Trong pháp làm người này, vua chỉ là một người trị quốc theo cách của vua, nên hầu như chả ông vua nào muốn theo Khổng tử mà chỉ muốn dùng đạo của Khổng tử để hướng người dân theo vua, nghĩa là vua muốn đặt thiên hạ và cả Khổng tử dưới vua. Khổng tử là Khổng tử, vua là vua và người trong thiên hạ theo Khổng tử hay theo vua thực ra chỉ theo pháp làm người của chính mình.
CHÚNG TA ĐANG Ở ĐÂU TRONG PHÁP LÀM NGƯỜI ?
Một số vấn đề đưa ra trong lớp lý thuyết quá vĩ mô hoặc có vẻ trên mây gió, vì tôi cho rằng lớp lý thuyết dạy nhận thức cơ bản, một dạng “pháp” mà phải đúng cho mọi trường hợp, nên thành ra nghe nghe rất chung chung và xa xôi. Trong lớp thực hành, mọi người lại bị lôi tuột xuống những vấn đề cụ thể của bản thân mình và các quan hệ gia đình cơ bản của mình.
Thông thường lớp thực hành của tôi luôn đi sát lớp lý thuyết, mặc dù một lớp có vẻ tít cao trên bầu trời và một lớp có vẻ thấp tít dưới chân. Thậm chí nhiều lần, tôi còn khai giảng hai lớp này cùng lúc với cùng số buổi. Hầu hết học sinh lớp thực hành cũng học bên lớp lý thuyết luôn. Một số học sinh thường thắc mắc tôi sẽ mở lớp lý thực hành gì, ví dụ cho lớp lý thuyết Kiều chẳng hạn.
Vì sự đối xứng âm dương quá sắc nét giữa lớp thực hành và lớp lý thuyết, một số học sinh mới sẽ thấy sốc (học sinh cũ thì thấy rất bình thường). Một số người nghe lý thuyết thì rất ổn, nhưng vào thực hành thấy rất chán. Lý do sau này tôi phát hiện ra là vì cuộc đời của họ đang ở trạng thái “trị quốc, bình thiên hạ” mà chỉ hợp với lớp lý thuyết. Một số người nghe lý thuyết thì rất khó hiểu, nhưng thực hành lại thấy dễ hiểu quá, vì họ đang ở thế “tu thân, tề gia”.
Thông thường, các buổi thực hành đầu tiên sẽ chỉ luôn ra một vấn đề về “thân” và “gia” cho học sinh mới, chẳng cần biết họ thiền được hay không thiền được, chẳng cần biết họ thiền đúng hay thiền sai, vì dù chuyện gì xảy ra thì một người luôn là chính mình, luôn thể hiện chính mình.
Việc học sinh mới chấp nhận và thấu hiểu vấn đề này qua một tiến trình của lớp học thường là 12 buổi sẽ là phép thử chính xác nhất rằng thiền chữa lành có phù hợp với họ không.
Một số học sinh cũ của tôi hỏi tôi rằng có phải tôi đang “test” học sinh mới. Thực ra tôi chẳng làm gì cả, tôi không có năng lực chọn nội dung thiền cho học sinh, tôi cũng không có năng lực thiền thay cho học sinh, tôi thậm chí còn không trực tiếp dạy một số học sinh mới bắt đầu học với học sinh cũ của tôi, học sinh của tôi luôn tự thiền và họ là ai thì kết quả sẽ cho ra như vậy. Có chăng nếu bài học không rõ, tôi sẽ phân tích thêm cho học sinh hiểu thôi. Tôi sẽ luôn thuận theo phản ứng của học sinh : học sinh tiếp tục thiền, học sinh rời bỏ lớp đi tiếp chu trình của tháp nhu cầu của mình một vài vòng nữa rồi mới quay lại với lớp hoặc là họ chẳng bao giờ quay lại với lớp nữa dù có đi bao nhiêu vòng của tháp nhu cầu.
Những người gắn bó với lớp thực hành, thường là những người có trăn trở sâu sắc với bản thân và gia đình, như trường hợp của chính tôi, thì dù đang ở bất kỳ giai đoạn nào của cuộc đời, thực hành luôn chạm được vào họ và họ sẽ gắn bó với thực hành. Thường thì sau một thời gian thực hành, một người sẽ cảm thấy cần hiểu rộng hơn cả lý thuyết nữa, vì “tu thân, tề gia” là một hành trình đoạn trường dài dằng dặc tính bằng cả cuộc đời.
Một số học sinh của tôi đang ở cấp “trị quốc, bình thiên hạ” lại thích nghi ngay với lớp thực hành khi họ chấp nhận và tích hợp các vấn đề “tu thân, tề gia” mở ra sâu hơn trong lớp thực hành với cấp “trị quốc, bình thiên hạ” còn rất nông mà họ ở đang ở đó. Người sâu chuỗi ngay lập tức được bốn cấp này bằng cả lý thuyết và thực hành thường rất giỏi trong cả thiền và đời.
MẤT CẤU TRÚC GỐC PHÁP LÀM NGƯỜI (MẠT PHÁP)
Trong quá trình dạy thiền chữa lành, tôi phát hiện ra tháp động lực của một số người mất tầng, mà nguy hiểm nhất là các tầng gốc làm nên và nuôi dưỡng con người họ : tu thân và tề gia.
Những người mất thân, thường có gia kéo lại, những học sinh mất gia, thường có thân kéo lại.
Khó cực kỳ là những người mất động lực phát triển ở cả thân và gia, ví dụ
– Một số người có thân quá yếu và gia cũng quá yếu, nên vô cảm với cả hai thứ này, rảnh tay tập trung hết vào “trị quốc, bình thiên hạ”
– Một số người thấy “tu thân”, “tề gia” của mình siêu ổn, nên đương nhiên không có động lực nào để tập trung vào hai lĩnh vực này.
– Một số người thấy “tu thân”, “tề gia” quá chán, quá hẹp, quá tầm thường, không có động lực cụ thể và sâu sắc nào để tập trung vào.
– Một số người chẳng nghĩ ra được một hành động đáng thể nào để “tu thân”, “tề gia” trong khi có một kho sáng kiến và kế hoạch cho trị quốc và bình thiên hạ, có thể vì tu thân và tề gia thì phải tự làm, tự chịu, và cũng chẳng dễ dàng gì, còn trị quốc và bình thiên hạ thì có thể nói xuông
– Một số người thấy “thân” và “gia” có một số vấn đề nhưng, quá tầm thường so với các vấn đề vĩ đại và nóng bỏng của cấp “trị quốc, bình thiên hạ”
– Một số người còn cho rằng động lực để phát triển bản thân và gia đình chính là nhảy luôn lên cấp “trị quốc, bình thiên hạ”.
Ví dụ một người chưa hiểu căn bản về bản thân, gia đình và dòng họ, đã đưa ra các nghiên cứu và kết luận chuyên sâu về thần linh và dân tộc. Nếu người này chỉ dừng lại ở mức độ phù hợp để đáp ứng sự phát triển của tháp nhu cầu rồi lại quay về phát triển bản thân và gia đình hơn nữa thì không sao cả, vì tiến trình này rất bình thường, rất phổ biến, rất tự nhiên, rất tốt đẹp. Nhưng nếu người này lại coi đây là sự nghiệp cuộc đời, là giá trị và sự đóng góp của bản thân cho quốc gia và thiên hạ, thì rõ ràng người này đang trồng một cái cây với ngọn quá cao và rườm rà mà gốc thì quá yếu, nên một là cây đổ, hai là động lực rồi cũng mất đi.
Tự nhận ra trách nhiệm và điểm dừng ở thân và gia thì dễ hơn so với tự nhận ra vai trò và điểm dừng phù hợp ở cấp trị quốc và bình thiên hạ, mà dường như quá mênh mông. Nếu mắc lỗi trị quốc và bình thiên hạ ở mức độ thực hành thì có thể phải trả giá luôn bằng tính mạng hoặc thành công trở thành trùm, nhưng nếu những lỗi thuần tuý về tư duy, thì khó ai trong quốc gia và thiên hạ chỉ ra cho được. Quay đầu là bờ, nhưng ai sẽ quay đầu khi tưởng như đã tung hoành giữa biển rộng, trời cao. Câu hỏi này chỉ có “chữ tâm mới đáng bằng ba chữ tài” quyết định được.
MẤT CẤU TRÚC NGỌN PHÁP LÀM NGƯỜI
Tôi quan sát được hiện tượng mất ngọn pháp làm người đầu tiên ở những người mắc bệnh nan y như ung thư, máu trắng … lao đầu vào các tổ chức tà đạo dẫn dắt họ hiến dâng đời mình, vứt bỏ gia đình mình hoặc kéo cả gia đình mình vào sự nghiệp dâng hiến cho minh sư, cho đạo tổ, cho Phật, Chúa, Tiên, Thánh, cho chân thiện mỹ, cho cứu giúp nhân loại….
Ví dụ một người chỉ tập trung tất cả vào bản thân và những gì trực tiếp gắn với bản thân họ trong đó có gia đình, rồi một ngày họ mắc bệnh ung thư, họ lao ra đi khắp đất nước, họ kiếm tìm khắp thiên hạ phương thuốc trị bệnh. Người này được dẫn dắt vào một tổ chức tâm linh, dạy cho họ về nghiệp quả, về đạo, về cách dâng hiến bản thân … Rất ít cơ hội sống tiếp, mất hết động lực tự thân để sống tiếp, họ lao thẳng vào cấp trị quốc, bình thiên hạ để dâng hiến bản thân. Tổ chức cho họ động lực, tổ chức chỉ cho họ cách thức, tổ chức liên kết họ với nhau. Thông thường động lực vay mượn này sẽ đỡ được họ lúc ban đầu, nhưng bài học ở đâu thì lời giải phải tìm ở đó.
Ví dụ một người mẹ hy sinh cả cuộc đời vì con, đến lúc biết con mắc bệnh ung thư, đến lúc bệnh tình của con quá nặng chữa thế nào cũng không khỏi, người mẹ quá đau khổ, người mẹ không chấp nhận, người mẹ cho rằng mình là thủ phạm, người mẹ nguyện tự trừng phạt bản thân, người mẹ nguyện hy sinh tất cả chỉ cần con được sống. Các tổ chức tà đạo đã đợi sẵn, sẽ lại tuyển dụng họ như bán hàng đa cấp vậy.
Nhiều con đường dâng hiến bản thân tràn đầy nhiệt huyết thực ra là con đường đánh mất bản thân, là con đường chà đạp bản thân, là con đường lầm lạc bản thân, là con đường đánh mất bản thân, thì làm sao mà tu thân được nữa. Một người suốt đời chỉ biết có bản thân và người thân, mà lại dâng hiến bản thân kiểu này, thay vì chấp nhân tu thân cùng với thân bệnh thì họ tránh sao được cùng đường tận số.
Một lần mẹ tôi nói với tôi về việc tham gia vào các việc làm tốt đẹp của một tổ chức do một người bạn cùng đi tập thể dục buổi sáng giới thiêu, với bằng chứng là bác đang khỏi bệnh ung thư mà chữa ở đâu cũng không khỏi. Vì đã trải qua nhiều kinh nghiệm được ưu tiên tuyển chọn vào các tổ chức cao quý hết lần này đến lần khác, tôi bảo mẹ tôi rằng mẹ tôi dù nhiều bệnh tật đã sống cả cuộc đời hàng mấy chục năm như vậy rồi, vội vã gì mà mẹ tôi không quan sát và chờ đợi sự kỳ diệu xảy ra với cuộc đời của người bạn này thêm 2, 3 năm nữa, chỉ sợ rằng chính người bạn này lại không chờ đợi nổi mẹ tôi đã vội vã lao đi tuyển dụng thêm nhiều người khác đi vào con đường dâng hiến bản thân, chỉ sợ rằng người bạn này không đủ sức khoẻ và thần chỉ để chờ đợi nổi mẹ tôi được 2, 3 năm. Sau một thời gian không dài, đúng là chẳng còn bóng dáng của người này đâu cả. Có thể sau cơ hội thiêng liêng này, mẹ tôi vẫn thấy dâng hiến bản thân cho gia đình là tự nhiên hơn cả.
MẤT VẬN HÀNH PHÁP LÀM NGƯỜI
Một số người không thấy vấn đề nằm ở mình mà luôn thấy nguyên nhân bên ngoài mình, cấp này là thủ phạm của cấp kia. Ví dụ một người có kiểu tư tưởng gốc “vấn đề của thân có nguyên nhân tại gia, vấn đề của gia có nguyên nhân tại quốc, vấn đề của quốc có nguyên nhân tại thiên hạ”, sẽ nói những câu kiểu như “tôi không thể nào mà hạnh phúc được khi mà còn sống ở trong cái gia đình này, dưới cái chế độ này, ở cái đất nước này, vào cái thời cả nhân loại suy đồi này”.
Khó tương tự là những người chỉ thấy động lực của chính mình ở bên ngoài mình, động lực của cấp này ở cấp khác. Khi một người “lấy động lực của bản thân là gia đình, lấy động lực của gia đình là quốc gia, lấy động lực của quốc gia là thiên hạ”, họ cứ chạy một mạch lên các cấp xa tít, rồi khi các cấp dưới sập, ví dụ bản thân hết động lực, bản thân không thể dựa vào gia đình, lúc này gia đình thành thủ phạm, gia đình hết động lực, quốc gia thành thủ phạm, quốc gia hết động lực, thiên hạ thành thủ phạm. Người ấy có thể nói rằng “tôi lập gia đình với anh là để hạnh phúc, nhưng tôi lại bất hạnh, tất cả là do anh”.
THỰC TẾ CỦA “TU THÂN, TỀ GIA, TRỊ QUỐC, BÌNH THIÊN HẠ”
Nếu coi Nho giáo là nhân học, Nho giáo nói về việc một con người sống với chính mình, sống với gia đình, sống trong xã hội bình thường như thế nào, thì thực ra Nho giáo gần gũi với mỗi chúng ta vô cùng, gần gũi hơn hẳn đạo Phật và đạo Lão. Nhiều người đến chùa để nghe sư thày giảng pháp, mà thực ra là nghe sư thày nói về việc một người nên sống trong gia đình và ngoài xã hội thế nào, thế thì pháp này có khác gì Nho giáo được giảng dạy bởi sư chùa.
Chúng ta đâu cần biết tiếng Hán, chúng ta đâu cần biết viết thư pháp để hiểu về Nho giáo, chúng ta chỉ cần kể cuộc sống bình thường của một con người, là chính mình là đã có một câu chuyện sinh động về “tu thân, tề gia, trị quốc, bình thiên hạ”
“Tu thân” dễ mà không dễ vì thân lúc vui, lúc buồn, lúc khoẻ, lúc yếu, lúc ham ăn, lúc chán ăn, lúc chăm, lúc lười; có lúc thân chỉ biết có bản thân, có lúc thân chỉ muốn được người khác yêu, muốn được người khác chăm sóc, có lúc thân lại chỉ muốn được sống vì người khác. Thân người bình thường chứ có phải là thân máy đâu, mà không lúc này lúc khác được cơ chứ.
“Tề gia” dễ mà không dễ, vì nào là kiếm tiền, nào mua đất, nào là xây nhà, nào là nấu cơm, nào là lau nhà quét nhà, nào là yêu vợ chồng mình, nào là sinh con, dạy con, nào là chăm sóc cha mẹ, mỗi người một tính cách, mỗi người một vai trò, …. bao nhiêu công sức, bao nhiêu tiền bạc, bao nhiêu tình cảm, bao nhiêu hy vọng, bao nhiêu thất vọng, bao nhiêu đau khổ và bao nhiêu hạnh phúc mới có được gia đình. Gia đình chỉ có hai vợ chồng không dễ tề, gia đình chỉ có vợ chồng và con cái cũng không dễ tề, gia đình ba bốn thế hệ không dễ tề, gia đình chỉ có cha hoặc mẹ đơn thân không dề tề, gia đình chỉ có mỗi một người cũng không dễ tề, vì quá thiếu động lực cho việc tề gia. Gia đình bây giờ bị tan nát, bị đe doạ bởi đủ mọi yếu tố, có một gia đình hạnh phúc, có một gia đình để được tề đã là một điều quý giá lắm rồi.
“Trị quốc” nói xuông thì dễ mà làm không dễ. Quốc của mình là cái gì, mình có quốc của mình, mình phải tự trị quốc của mình thì pháp làm người của mình mới có ý nghĩa, chứ mình lại đi trị quốc của nhà vua thì một là mình phải phục tùng vua, hai là vua xử chém mình luôn. Thời ngày xưa có vua và thời ngày nay có chính phủ, mình mà ở trong chính phủ, có chắc mình còn tu thân và tề gia được không, mình mà ở ngoài chính phủ, thì mình phải hiểu rõ quốc của mình là cái gì, chứ đừng đánh đồng quốc của mình với quốc của chính phủ. Một ví dụ về trị quốc là quản trị công ty, quản trị sự nghiệp bên ngoài gia đình của mỗi người.
“Bình thiên hạ” nói cũng dễ mà làm không dễ. Có người bảo rằng nếu tất cả đều thương yêu nhau, mình bảo rằng nếu tất cả đều chăm chỉ thì thiên hạ tất bình. Một người còn chưa chắc luôn yêu bản thân, một người còn chưa chắc luôn chăm sóc bản thân. Cái lý thuyết này áp dụng vào bản thân, vào gia đình, vào công ty nhỏ còn khó, chứ đừng nói áp dụng vào thiên hạ. Mình cứ cân bằng các quan hệ với ông bà, cha mẹ, vợ chồng, con cái, họ hàng, sếp, đồng nghiệp, thày, trò, bạn bè … là mình đã giỏi lắm rồi. Động lực “bình thiên hạ” của một người thường liên quan đến mức độ thức tỉnh tâm linh, đến trưởng thành trong các bài học làm người, sự thấu hiểu về bản chất cuộc sống, về luân hồi đầu thai, đến các trải nghiệm liên quan đến các vị Phật, Chúa, các hạnh nguyện tôn giáo và đạo đức tâm linh.
“TU THÂN, TỀ GIA, TRỊ QUỐC, BÌNH THIÊN HẠ” THEO CÁC GIAI ĐOẠN CỦA CUỘC ĐỜI
Với cá nhân tôi, động lực chính của mỗi giai đoạn của cuộc đời như sau
– Từ bé đến lúc đi học đại học, rồi cao học ở nước ngoài, đi làm : “tu thân”
– Từ lúc lấy chồng, nghỉ làm, dành hết thời gian cho gia đình : “tề gia”
– Quay lại với công việc, đạt được các thành công công việc ở vị trí quản lý : “trị quốc”
– Bắt đầu thực hành thiền, có các trải nghiệm tâm linh và tìm hiểu về tâm linh : “bình thiên hạ”
– Nghỉ làm, đầu đi dạy thiền : “bình thiên hạ”, “trị quốc”
– Giai đoạn 10 năm dạy về thân, thiền về thân và chữa lành thân : “tu thân”
– Giai đoạn dạy và hướng dẫn về ngôi nhà, gia đình, làm vườn, cây dòng họ, phong thuỷ, xóm làng : “tu thân”, “tề gia”
– Giai đoạn cùng nhóm học sinh đưa ra các hạnh nguyện : “tu thân, tề gia, trị quốc, bình thiên hạ”
HẠNH NGUYỆN “TU THÂN, TỀ GIA, TRỊ QUỐC, BÌNH THIÊN HẠ”
Phải chăng, mỗi chúng ta nên có cả bốn động lực “Tu thân, tề gia, trị quốc, bình thiên hạ”, để nếu yếu cái này thì còn có cái kia, để lúc khó cái này thì còn thuận cái kia, để chúng ta không mất gốc, mất ngọn trong pháp làm người, để chúng ta có được cả động lực từ bên trong và động lực từ bên ngoài ?
Hạnh nguyện của cư sỹ Phật giáo chính là một con đường để kết hợp cả bốn động lực này, kéo chúng ta đi trên đường đời mà cũng là đường “Tu thân, tề gia, trị quốc, bình thiên hạ”.
Hạnh nguyện luôn liên quan đến việc phát huy động lực mạnh nhất của chúng ta và nâng đỡ động lực kém nhất của chúng ta, mà gắn với bản chất linh hồn và luân hồi đầu thai của chúng ta. Mỗi người chúng ta sẽ mạnh hơn về tu thân, hoặc về tề gia, hoặc về trị quốc, hoặc về bình thiên hạ, và nếu không phát huy được đông lực trong lĩnh vực này chúng ta không thể hoàn thành được sứ mệnh cuộc đời.
Bảng động lực liên quan đến các hạnh nguyện trong các linh vực nghề nghiệp và cấu trúc gốc của đầu thai
– Tu thân : Công (thân dương) – Công (thân âm)
– Tề gia : Nông (nhau dương) – Dung (nhau âm)
– Trị quốc : Sĩ (rốn dương) – Ngôn (rốn âm)
– Bình thiên hạ : Thương (ối dương) – Hạnh (ối âm)
Hạnh nguyện nào cũng rất đoạn trường, nhưng nó sẽ cho chúng ta động lực sống đủ lớn, đủ toàn diện và đủ cân bằng, để chúng ta vững vàng bước trên con đường định mệnh mà chúng ta cần phải đi. Và nếu không có hạnh nguyện, cuộc đời không có cam kết, không có định hướng của chúng ta sẽ vẫn đoạn trường mà khả năng lạc lối, khả năng mất động lực, khả năng không thành công lại quá cao. Nói cách khác không thể có tu, có đạo, có sứ mệnh cuộc đời mà không có hạnh nguyện.
Đó chính là ý nghĩa của hạnh nguyện bước vào Đoạn trường tân thanh của Kiều, khi Kiều chấp nhận làm 10 bài thơ hoạ mà Hội chủ đưa cho. Đây là sự kiện mà Kiều bước vào đoạn trường và động lực chính của đoạn trường là “Bình thiên hạ”.
Chia sẻ:
Scroll to Top