BẠC LIÊU LÀ XỨ CƠ CẦU

Loading

CƠ CẦU LÀ GÌ ?
“Cơ cầu” nghĩa là “cơ” và “cầu”
– “Cơ” có nhiều nghĩa
– – – cơ xương
– – – cơ thể : bản thể bằng cơ, bằng xương thịt
– – – cơ chế : chế độ, chế tài cơ bản
– – – cơ bản : bản cơ, là nền tảng, mà luôn đi cùng xương, là cấu trúc khung
– – – cơ nghiệp : sự nghiệp, duyên nghiệp của cơ, là trạng thái vận hành sẵn có của cơ mà đi cùng xương
– – – cơ hội : nơi các cơ hội nhau thì vận động linh hoạt da dạng
– – – cơ may : nơi các cơ giao nhau, thì hanh thông, may mắn
– – – cơ hàn : cơ bi lạnh cơ lại, gắn chết cứng vào nhau, không vận động được, chết cứng
– – – cơ cực : cơ đến giới hạn cùng cực, không vận động được, vất vả, bế tắc
– – – cơ duyên : cơ có duyên tương tác và kết nối âm dương
– – – cơ cầu : cơ có sự bắc cầu và kết nối âm dương
– – – cơ : cái thúng
– – – cơ : bao tên, bao đựng tên đi cùng cái cung
– – – Âu Cơ
– “Cầu” có nhiều nghĩa
– – – cây cầu bắc qua sông
– – – bắc cầu,
– – – làm cầu,
– – – xây cầu
– – – sửa cầu
– – – sập cầu
– – – gẫy cầu
– – – cầu thân
– – – cầu hiền
– – – cầu con
– – – cầu xin
– – – cầu cạnh
– – – cầu phúc
– – – cầu chúc
– – – cung cầu
– – – mong cầu
– – – sở cầu
– – – nguyện cầu
– – – hình cầu
– – – quả cầu
– – – nhãn cầu
– – – áo cầu : áo măc cho người thợ rèn để bảo vệ thân thể
– – – sông Cầu
Cầu được ước thấy
Sở cầu như ý
“Cơ cầu” có hai nghĩa chính
“Cơ cầu” là cơ cực, cơ đi từ cực này sang cực khác, đẩy từ vận hành này sang vận hành khác, dắt dây từ sự việc này sang sự việc khác, truyền từ đời này sang đời khác.
– “cơ” là “cơ cực”,
– “cầu” là “bắc cầu”
“Cơ cầu” là truyền thừa, kế tục, nối tiếp về thân thể, nhà cửa, đất đai, cơ nghiệp, đặc biệt công việc chân tay, công việc làm nông, công việc buôn bán, .. địa vị, đối xứng với truyền thừa, kế tục nối tiếp về dòng máu, dòng họ, danh hiệu, tước vị, tinh thần, khí phách.
– “cơ” là “cơ nghiệp”,
– “cầu” là “bắc cầu”.
“Cơ cầu” là nghề nghiệp truyền từ đời trước đến đời sau, con cái trong nhà tập việc mềm dễ rồi mới làm việc cứng nặng
– Cơ : bao tên, con người làm cung trước học làm bao tên;
– Cầu : áo cầu, con thợ rèn trước tập may áo cầu;
hoặc
“Cơ cầu” : dùng để chỉ việc con cháu nối nghiệp ông cha để lại, hay con cháu bao giờ cũng mang trong dòng máu sự di truyền của ông cha. Trong Kinh Lễ có câu: Lương cung chi tử, tất học vi cơ, lương dã chi tử, tất học vi cầu, nghĩa là: con người thợ làm cung tên giỏi đương nhiên theo học nghề của cha, tuy không khéo léo về nghề làm cung, nhưng sẽ đem áp dụng cái lối uốn tre, vót tre để làm cái thúng, con người thợ hàn tuy không khéo léo bằng cha, nhưng cũng biết chắp vá các loại da để làm áo cầu.
– cơ là thúng,
– cầu là áo cầu
Đại từ điển tiếng Việt do Nguyễn Như Ý chủ biên (Nxb Văn hóa – Thông tin, 1999, tr. 464) thì ghi nhận đến hai chữ cơ cầu: cơ cầu 1 là “khắt khe, nghiệt ngã” và cơ cầu 2 là “khổ cực, lao đao” nhưng không cho thí dụ.
Đại Nam quấc âm tự vị của Huỳnh Tịnh Của (Thư viện Huệ Quang thuộc Trung tâm dịch thuật Hán Nôm Huệ Quang thực hiện ảnh ấn lại, Nxb Tổng hợp TP. Hồ Chí Minh, 2018, tome I, tr. 179) giải thích: Cơ cầu. Nghề nghiệp tiên nhơn, cũng nói là nhiệp (sic) cơ cầu. Con người làm cung trước học làm bao tên; con thợ rèn trước tập may áo cầu; tập việc mềm dễ rồi mới làm việc cứng nặng”.
Hán Việt tự điển của Thiều Chửu (Nxb TP.Hồ Chí Minh, 2004, tr.599 ) giải thích: “Cơ cừu ?? – nối được nghiệp trước”. Hán Việt từ điển của Đào Duy Anh (Trường Thi, Sài Gòn, 1957, tr.126) giải thích chi tiết hơn, nhưng chỉ xin trích câu đầu: “Cơ là thúng, cầu là áo cầu – Con cháu hay nối nghiệp cha ông gọi là cơ cầu…”.
Từ điển Việt Hán của nhóm tác giả Trung Quốc Hà Thành, Trịnh Ngọa Long, Chu Phúc Đan và Vương Đức Luân (Nxb Đà Nẵng in lại, 2002, tr. 550) đọc đúng âm Ky cừu và dịch sang chữ Hán…
Thành ngữ điển tích danh nhân từ điển của Trịnh Vân Thanh (Sài Gòn, 1966, quyển 1, tr. 115 – 116) ghi nhận cả hai nghĩa của chữ Cơ cầu: “Cơ: cái thúng; Cầu: áo cầu.
Trong Kinh Lễ có câu: Lương cung chi tử, tất học vi cơ, lương dã chi tử, tất học vi cầu, nghĩa là: con người thợ làm cung tên giỏi đương nhiên theo học nghề của cha, tuy không khéo léo về nghề làm cung, nhưng sẽ đem áp dụng cái lối uốn tre, vót tre để làm cái thúng, con người thợ hàn tuy không khéo léo bằng cha, nhưng cũng biết chắp vá các loại da để làm áo cầu.
Theo nghĩa bóng, cơ cầu dùng để chỉ việc con cháu nối nghiệp ông cha để lại, hay con cháu bao giờ cũng mang trong dòng máu sự di truyền của ông cha.
Trong Tự tình khúc Cao Bá Nhạ có viết: Hay ra lại rạng cơ cầu. Cơ cầu còn có nghĩa là: bày vẽ thêm ra cảnh éo le cay nghiệt.
Trong bài hát nói Cuộc phong trần Cao Bá Quát có viết: Ngất ngưỡng thay con tạo khéo cơ cầu/ Muốn đại thụ hẳn dìm cho lúng túng”.
Tóm lại, cơ cầu có hai nghĩa: một là khổ cực, khó khăn, vất vả, lao đao, khắc nghiệt, nghiệt ngã; hai là lập nghiệp, nối nghiệp cha ông. Đối với nghĩa thứ nhất, có câu ca dao: Người dại như củ bồ nâu/ Đến khi khốn khó cơ cầu phải ăn.
Ngó lơ cá thịt đi, ăn loại rau dại mùa hè này, đêm đặt lưng xuống, giấc ngủ “tự tìm về nhà”
Đối với nghĩa thứ hai, ngoài các thí dụ đã trích dẫn trên, còn thấy xuất hiện trong Hồng Đức quốc âm: Việc cũ cơ cầu hay nói/ Được danh thơm rạng tổ tông môn. Cơ cầu với nghĩa là nối nghiệp chính là cách đọc khác của Ky cừu mà chữ Hán…
Chữ Cơ cầu/cơ cừu/Ky cừu là một điển tích được lấy từ một câu trong chương Học ký của sách Lễ ký.
Cuốn Tứ thư Ngũ kinh (bản chữ Hán, Trung Hoa thư cục xuất bản, Bắc Kinh, 2008, tr. 380) chép câu đó như sau: “Lương dã chi tử tất học vi cừu/ Lương cung chi tử tất học vi ky”. Ông Trịnh Vân Thanh tầm nguyên đúng nhưng trật tự hai vế trong câu bị đảo ngược.
ĂN NÓI CƠ CẦU
Nói “cơ cầu” là nói bắc cầu từ việc này sang việc khác, toàn những việc cơ cực.
Nín đi thì dại
Nói lại cơ cầu
Anh dạo chơi mười tám nước chư hầu
Không ai ăn nói cơ cầu như em
“Dạo chơi Mười tám nước chư hầu” nghĩa là dạo chơi khắp thiên hạ, khắp các xứ sở. “Mười tám nước chư hầu” có thể là
– Liên minh 18 chư hầu trong Tam Quốc Diễn Nghĩa : Khi Đổng Trác chuyên quyền và phế lập vua, 18 trấn chư hầu đã tụ họp lập thành liên minh nhằm thảo phạt Đổng Trác (chiến dịch bắt đầu năm 190 Công Nguyên). Minh chủ: Viên Thiệu (Thái thú Bột Hải).
Các thành viên tiêu biểu: Tào Tháo, Tôn Kiên, Lưu Bị (cùng Quan Vũ, Trương Phi), Viên Thuật, Công Tôn Toản, Mã Đằng, Khổng Dung,… Kết cục: Dù có thế lực đông đảo, liên minh lục đục nội bộ, nhiều tướng tài bỏ mạng (như Hoa Hùng chém liên tiếp tướng của chư hầu trước khi bị Quan Vũ giết), cuối cùng liên minh tan rã mà không thể tiêu diệt hoàn toàn Đổng Trác.
– 18 nước chư hầu do Tây Sở Bá Vương Hạng Vũ phân phong sau khi nhà Tần sụp đổ (năm 206 trước Công Nguyên).
– Quân mười tám nước chư hầu (Cổ tích Thạch Sanh) : Trong câu chuyện cổ tích dân gian Việt Nam, đây là các đội quân do các hoàng tử của các nước chư hầu lân bang cầm đầu, kéo sang đánh nước ta để trả thù việc công chúa từng từ hôn họ. Không dùng vũ lực hay gươm giáo, Thạch Sanh đã đánh cây đàn thần khiến cho quân sĩ mười tám nước bủn rủn tay chân, không còn nhuệ khí chiến đấu và phải xin hàng. Sau khi quân giặc đầu hàng, Thạch Sanh đã bày “niêu cơm thần” nhỏ bé nhưng ăn mãi không vắt kiệt để thết đãi hàng vạn quân sĩ nước ngoài. Hành động nhân văn này đã cảm hóa các hoàng tử và quân lính, khiến họ tâm phục khẩu phục và rút quân về nước.
“Tri ngã giả dị ngã diệc,
Bất tại ngã, ngã hà cầu”
Em tưởng câu ý hiệp tình đầu,
Phụ tình thì anh giận, chớ nói cơ cầu lại e
– “Tri ngã giả dị, ngã diệc” : Người hiểu ta thì ít, người trái ý ta thì nhiều”
– “Bất tại ngã, ngã hà cầu” : Đều không ở chỗ ta, đều không do ta quyết định được, thì ta cầu làm gì
Đạo nào cao bằng đạo can trường,
Chồng mà xa vợ đoạn trường trời ơi.
Bấy lâu nay mình một ngả tui một nơi,
Ngày nay gặp mặt giải vơi cơn sầu.
Trống tam canh vội đổ trên lầu,
Mình có chồng rồi tôi nói cơ cầu làm chi.
Miệng thế gian ngôn dực trường phi,
Còn lo phụ mẫu sao bất thành không ai.
Bữa này mười một mai là mười hai,
Mình tui ở lại với ai bây giờ?
BỒ NÂU CƠ CẦU
Cơ cầu : Khổ đau về thân thể, về vật chất.
Mưa khắp đâu đâu
Bồ Nâu cơ cầu, trời chửa mưa cho
Bồ nâu là con vật hoặc loài cây củ mang tính đất, cơ cầu là một trạng thái của thân thể, của vật chất, của đất.
Người khôn như miếng thịt gà
Tuy rằng ăn ít nhưng mà ngon lâu
Người dại như củ bồ nâu
Đến khi khốn khó cơ cầu phải ăn
CƠ CẦU CHỒNG CON
Mặt tái mà mép có râu
Gái thì vất vả, cơ cầu chồng con
Bài này nói về tướng người con gái da mặt tái và mép có râu, thì bản thân vất vả mà cơ cực sang cho cả chồng và con.
HÀ TIỆN MỚI GIẦU, CƠ CẦU MỚI CÓ
Hà tiện mới giàu, cơ cầu mới có
Hà tiện mới giầu, cơ cực từ việc này sang việc khác mới có hoặc cơ cầu là đời sau mới có
CƠ CẦU VỀ SAU
Anh chẳng ham sang trọng
Anh chẳng vọng sang giàu
Nhưng mà em xét lại câu:
Đồng thanh tương ứng, đồng khí tương cầu
Vậy nên em bỏ thảm bỏ sầu
Đành cam chịu cực, hơn cơ cầu về sau
“Đành cam chịu cực, hơn câu cầu về sau” : Hiện tại chiu đựng cơ cực cùng anh, mong về sau hơn nhau về truyền thừa cho con cháu các thế hệ sau
Em một khuyên anh bớt thảm
Hai khuyên đó giảm sầu
Ba khuyên anh bớt buồn rầu
Hãy kiếm nơi cầm sắt, nối cơ cầu về sau
“Hãy kiếm nơi cầm sắt, nối cơ cầu về sau” : Tìm người kết hôn dài lâu, để có các thệ hệ sau nối nghiệp.
CƠ CẦU : ĐAU KHỔ VỀ TÌNH CẢM
Cá bóng đi tu,
Cá thu nó khóc
Cá lóc nó rầu,
Lụy rơi hột hột, cơ cầu lắm em
Bài này nằm trong một bộ ca dao
Ai làm cá bóng đi tu,
Ai làm nước mắt cá thu buồn rầu.
Phải chi ngoài biển có cầu,
Em ra em vớt đoạn sầu cho anh.
hoặc
Cá bóng đi tu,
Cá thu nó khóc,
Cá lóc nó sầu,
Phải chi ngoài biển có cầu,
Anh ra đến đó giải sầu cho vui.
hoặc
Cá bóng đi tu,
Cá thu nó khóc,
Cá lóc nó rầu,
Cành đào lá liễu phất phơ,
Lấy ai thì lấy, đợi chờ uổng công.
hoặc
Cá bóng đi tu,
Cá thu nó khóc,
Cá lóc nó rầu,
Phải chi anh có phép màu,
Hóa ra con cá trắng lội hầu bên em.
CƠ CẦU ĐA ĐOAN
Trái lòn bon trong tròn ngoài héo
Anh nhớ em ruột héo gan xàu
Đó đây cách trở vì đâu
Trách sao con tạo cơ cầu đa đoan
BẠC LIÊU LÀ XỨ CƠ CẦU
Bạc Liêu là xứ cơ cầu
Dưới sông cá chốt, Triều Châu trên bờ
Bạc Liêu là xứ cơ cầu : Cơ cầu là truyền thừa đất đai, nối dài cơ nghiệp theo các thế hệ.
Dưới sông cá chốt : Cá chốt là một loài cá có rất nhiều ở các tỉnh miền Tây Nam Bộ, thịt có màu vàng óng hoặc trắng, dai và thơm, được chế biến thành rất nhiều món ngon hoặc để làm mắm. Cá chốt có ngạnh nhọn, đâm phải sẽ gây đau nhức. Tên gọi loài cá này bắt nguồn từ tiếng Khmer trey kanchos. “Nước mắn cá chốt” cũng là một nghiệp truyền từ cha đến con.
Triều Châu trên bờ : Có người bào Triều Châu là người Triều Châu tỉnh Quảng Đông sang Bạc Liêu lập nghiệp. Nhưng giải thích này là vô lý trong ngữ cảnh của bài cau dao.
Triều Châu có thể là Trần Châu, nghĩa là vùng đất mà trai gái sống trên cùng mảnh đất xuyên đời yêu nhau và lấy nhau.
Triều Châu có thể là Trần Châu, chỉ việc hôn nhân xuyên đời, hay tình duyên xuyên đời. Thời xưa ở huyện Phong thuộc Từ Châu bên Trung Quốc có thôn Châu Trần, trong thôn chỉ có hai dòng họ là họ Châu và họ Trần, đời đời kết hôn với nhau.
Ai lên tôi gửi lại lời,
Trước kia có gặp những người thế đâu.
Ví dù anh có sở cầu,
Để em kết nghĩa Trần Châu muôn đời
(ca dao)
Thật là tài tử giai nhân,
Châu Trần còn có Châu Trần nào hơn.
(Truyện Kiều)
Triều Châu có thể là châu thành hay châu thổ tạo nên bởi thuỷ triều của sông và biển. Đồng bằng sông Cửu Long có đặc điểm là tỉnh nào cũng có Châu Thành, tỉnh nào cũng là châu thổ sông Cửu Long.
Ở đâu là xứ cơ cầu
Đất cào lên muối làm giàu như chơi
Trả lời : xứ Bạc Liêu.
Nghề làm muối là cơ nghiệp cha truyền con nối ở vùng đất Bạc Liêu.
Chia sẻ:
Scroll to Top