33 HOÁ THÂN CỦA MẸ QUÁN ÂM

Loading

BA BA HOÁ THÂN CỦA MẸ QUÁN ÂM
Quán Thế Âm là Đấng Quán Chiếu Âm Thanh Của Thế Gian.
Theo các tài liệu Phật giáo, Bồ Tát Quán Thế Âm có 33 ứng thân và mỗi ứng thân của Ngài đều mang những câu chuyện và ý nghĩa riêng.
1.Dương Liễu Quán Âm – Hóa thân Phật.
2. Long Đầu Quán Âm– Hóa thân Bích Chi Phật (cũng có thuyết nói là hóa thân Rồng hoặc Thiên Long).
3. Trì Kinh Quán Âm– Hóa thân Thanh Văn.
4. Viên Quang Quán Âm– Hóa thân Phạm Vương.
5. Du Hí Quán Âm– Hóa thân Đế Thích.
6. Bạch Y Quán Âm– Hóa thân Tự Tại Thiên (cũng có thuyết nói là hóa thân Tỳ kheo hoặc Tỳ kheo ni).
7. Liên Ngọa Quán Âm– Hóa thân Thiên Đại Tướng Quân (cũng có thuyết nói là hóa thân Tiểu Vương).
8. Long Kiến Quán Âm– Hóa thân Đại Tự Tại Thiên.
9. Thi Dược Quán Âm– Hóa thân Tỳ Sa Môn.
10. Ngư Lam Quán Âm– Hóa thân Tiểu Vương.
11. Đức Vương Quán Âm– Hóa thân Trưởng Giả (cũng có thuyết nói là hóa thân Phạm Vương).
12. Thủy Nguyệt Quán Âm– Hóa thân Cư Sĩ (cũng có thuyết nói là hóa thân Bích Chi Phật).
13. Nhất Diệp Quán Âm– Hóa thân Quan Lại.
14. Thanh Cảnh Quán Âm– Hóa thân Bà La Môn (cũng có thuyết nói là hóa thân Phật).
15. Uy Đức Quán Âm– Hóa thân Tỳ Kheo (cũng có thuyết nói là hóa thân Thiên Đại Tướng Quân).
16. Diên Mệnh Quán Âm– Hóa thân Tỳ Kheo Ni.
17. Chúng Bảo Quán Âm– Hóa thân Ưu Bà Tắc (cũng có thuyết nói là hóa thân Trưởng Giả).
18. Nham Hộ Quán Âm– Hóa thân Ưu Bà Di.
19. Năng Tĩnh Quán Âm– Hóa thân Trưởng Giả Phụ Nữ.
20. A Nậu Quán Âm– Hóa thân Cư Sĩ Phụ Nữ.
21. A Ma Đề Quán Âm– Hóa thân Quan Lại Phụ Nữ (cũng có thuyết nói là hóa thân Tỳ Sa Môn).
22. Diệp Y Quán Âm– Hóa thân Bà La Môn Phụ Nữ (cũng có thuyết nói là hóa thân Đế Thích).
23. Lưu Ly Quán Âm– Hóa thân Đồng Nam (cũng có thuyết nói là hóa thân Tự Tại Thiên).
24. Đa La Tôn Quán Âm– Hóa thân Đồng Nữ.
25. Cáp Lị Quán Âm– Hóa thân Trời (cũng có thuyết nói là hóa thân Bồ Tát).
26. Lục Thời Quán Âm– Hóa thân Rồng (cũng có thuyết nói là hóa thân Cư Sĩ).
27. Phổ Bi Quán Âm– Hóa thân Dạ Xoa (cũng có thuyết nói là hóa thân Đại Tự Tại Thiên).
28. Mã Lang Phụ Quán Âm– Hóa thân Càn Thát Bà (cũng có thuyết nói là hóa thân Phụ Nữ).
29. Hợp Chưởng Quán Âm– Hóa thân A Tu La(cũng có thuyết nói là hóa thân Bà La Môn).
30. Nhất Như Quán Âm– Hóa thân Ca Lâu La.
31. Bất Nhị Quán Âm– Hóa thân Khẩn Na La (cũng có thuyết nói là hóa thân Chấp Kim Cang Thần).
32. Trì Liên Quán Âm– Hóa thân Ma Hầu La Già (cũng có thuyết nói là hóa thân Đồng Nam, Đồng Nữ).
33. Sái Thủy Quán Âm– Hóa thân Chấp Kim Cang Thần.
—o—o—o—
1. DƯƠNG LIỄU QUÁN ÂM
Dương Liễu Quán Âm được coi là pháp tướng hay hoá thân thứ nhất của đức Quán Âm trong bộ ba mươi ba hoá thân của ngài.
Dương Liễu Quán Âm còn có tên là Dược Vương Quan Âm.
Trong các hoá thân, Dương Liễu Quán Âm được coi là hóa thân Phật, so với các hoá thân khác là Thiên Vương, Trưởng Giả, Cư Sỹ, Tỳ kheo, Đồng nữ …
Hoá thân này có nhiều miêu tả không thống nhất. Có bức vẽ Quán Âm đứng chính diện trên núi đá, có bức vẽ Quán Âm ngồi nghiêng trên mây. Có bức vẽ Quán Âm diện bạch y, có bức Quán âm mặc y đỏ. Sự không thống nhất trong các mô tả Dương Liêu Quán Âm là bình thường, vì các hoá thân này là hoá chuyển của thanh âm, là hình âm, chứ không có tính định hình.
Tay phải (tay thuận) Quán Âm cầm cành dương liễu, thả xuôi xuống hay giơ cao lưng chừng, tay trái của Quán âm kiết ấn mở hoặc cầm bình nước. Dương liễu mềm mại ở bên tay thuận biểu trưng cho hạnh liễu hay đức nhu thuận, ôn hòa của Quán Thế Âm Bồ tát, mà thuận theo nguyện vọng của chúng sinh mà thị hiện (dương/giương), cũng giống như cành dương liễu thuận theo gió bay phất phới.
Khác hẳn với các hoá thân khác, hoá thân này mẹ Quán Âm không ngồi trên đá, trên rồng … mà ở trung tâm một mình, trong trạng thái lơ lửng, trong mây nước.
Đây không phải là hoá thân duy nhất mà Quán Âm cầm cành dương liễu hoặc ngồi bên cành dương liễu, nhưng đây là hoá thân duy nhất có tên là Dương Liễu Quán Âm, nghĩa là Dương Liễu là tinh thần, là thanh âm của hoá thân này.
LIỄU TRONG TRUYỆN KIỀU
– Tơ liễu
Dưới cầu nước chảy trong veo
Bên câu tơ liễu bóng chiều thướt tha
Chừng xuân tơ liễu còn xanh
Nghĩ sao cho thoát khỏi vành ái ân
Lơ thơ tơ liễu buông mành,
Con oanh học nói trên cành mỉa mai.
Làn thu thủy, nét xuân sơn,
Hoa ghen thua thắm, liễu hờn kém xanh.
LIỄU TRONG CA DAO
– Tơ liễu
Gió đẩy đưa cành tơ liễu yếu
Cảm thương nàng trọn hiếu trọn tình
Tay anh bưng chén kiểu, tơ liễu con rồng,
Tuổi em còn nhỏ, chưa chồng, anh thương.
– Tuổi em còn nhỏ, anh đừng đợi đừng chờ,
Để cha với mẹ được nhờ đôi năm
– Thân liễu, thân bồ liễu, vóc liễu : Bồ liễu là một từ Hán Việt chỉ loài cây thủy dương (liễu nước), thường rụng lá sớm khi đông về, được dùng trong văn chương xưa để ẩn dụ cho phái nữ với sự yếu đuối, chân yếu tay mềm hoặc vẻ đẹp mong manh. Trong quan niệm cũ, “bồ liễu” hay “liễu bồ” biểu trưng cho phận liễu yếu đào tơ.
Liễu yếu đào tơ
Dẫu như thân liễu yếu xìu
Dẫu cho bão tố không xiêu tấc lòng
Vóc bồ liễu e dè gió bụi
Đóa anh đào sợ hãi nắng sương
Em biết đâu là khách đài chương
Ngỡi nhơn giữ được, bực thường vậy chăng
– Ép liễu
Ép liễu nài hoa
– Lá liễu
Những người con mắt lá răm
Lông mày lá liễu, đáng trăm quan tiền
Tay bưng chén kiểu lá liễu năm bông
Anh thấy em còn nhỏ nên gắng công đợi chờ
Bới tóc cánh tiên, bỏ vòng lá liễu
Thấy miệng em cười trời biểu anh thương
Chuyện chi anh biểu em thề
Cầm dao lá liễu dựa kề tóc mai
Tóc mai sợi vắn sợi dài
Lấy nhau chẳng đặng, thương hoài ngàn năm
– Liễu giao cành
Tới đây cụm liễu giao nhành
Hỏi em kết nghĩa liệu thành hay không?
– Liễu đào : liễu xanh đào đỏ, liễu trời đào đất, liễu dọc đào ngang, liễu dương đào âm, liễu xuyên suốt đào đứt đoan, liễu đơn lẻ, đào tập thể
Đôi bên đông liễu tây đào
Dạ sầu ngao ngán làm sao bây giờ
Bấy lâu đông liễu tây đào
Gió mưa có ướt chút nào hay không?
Em nói nhà em trước liễu sau đào
Muỗi chui không lọt, lẽ nào em có con
Bấy lâu gió dập mưa vùi
Liễu xanh con mắt đào tươi má hồng
Ai làm trúc võ mai sầu
Đào tơ liễu yếu bên cầu vì ai
Bướm xa hoa, bướm khô hoa tẻ
Liễu xa đào, liễu ngẩn đào ngây
Đôi ta tình nặng nghĩa dày
Dù xa nhau đi nữa, cũng ba vạn sáu ngàn ngày mới xa
Bấy lâu nay liễu bắc đào đông
Tự nhiên thiên lí tương phùng là đây
Bây giờ rồng lại kháp mây
Nhờ tay tạo hóa đó đây vuông tròn
Cành đào lá liễu phất phơ
Lấy ai thì lấy đợi chờ làm chi?
Chiều chiều ra chợ Đông Ba
Ngó về hàng bột, trông ra hàng đường
Nhìn mai, ngắm liễu, xem hường
Cô nào đẹp nhất xin nhường cho tôi
Khi xưa thì anh không nói
Bây giờ em lợp ngói anh lại đòi tô vôi
Hai bên thầy mẹ đã khẩu hứa ra rồi
Anh nhủ em buông cây đào liễu, hỏi tội trời ai mang.
Liễu xa đào, đào khô liễu héo
Lựu xa đào, lựu ngã đèo nghiêng
Xa cách ai đêm thảm ngày phiền
Chim trên rừng sầu rũ cá dưới miền khóc than
May mô may, khéo mô khéo
Cơn cỏ héo gặp trộ mưa rào
Mối tình duyên hội ngộ, liễu với đào ta kháp nhau
Em không phải người tham đào, phụ liễu
Em không phải người tham nhiễu, phụ lương
Em không thương anh lắm ruộng nhiều vườn
Thương vì ý ở biết kính nhường mẹ cha
Thân em như tấm lụa đào
Còn nguyên hay đã xé vuông nào cho ai?
– Thân em như tấm lụa đào
Dám đâu xé lẻ vuông nào cho ai
Em vin cành trúc, em dựa cành mai
Đông đào tây liễu biết lấy ai bạn cùng
Em còn ruột héo gan phiền
Sao anh tơ tưởng ngọn đèn khêu cao
Anh ơi đông liễu tây đào
Em như cành trúc lọt vào giàn mai
Xin chàng đừng có nghe ai
Chữ chung em quyết một bài cho xong
Một mai nên đạo vợ chồng
Làm chi đến nỗi má hồng chia đôi
– Liễu mai : Liễu quá khứ, mai tương lai, liễu gắn kết, mai chuyển hoá
Gió đưa liễu yếu, mai oằn
Liễu yếu mặc liễu, mai oằn mặc mai
Trăng lên có chiếc sao chầu
Hỏi thăm đào liễu đã ăn trầu ai chưa?
Chán chường cho chị chưa chồng
Lung lay lá liễu, lạnh lùng lá mai
Chuyện chung tình khăng khắng, cắn lấy hột cơm nhai,
Ngọn rau lang đỡ bữa, liễu với mai đừng lìa.
Liễu đậu nhành mai, mai oằn liễu té,
Anh có vợ rồi, kêu em vô làm bé sao nên
Anh ơi có nhớ thuở cùng thề
Cầm dao lá liễu dựa kề tóc mai
Chữ đề vô đá lâu phai
Nằm đêm nghĩ lại thử ai bạc tình?
Bần thần không biết thương ai,
Thương đào liễu giận, thương mai trúc hờn.
– Chàng ràng chi lắm bướm ơi,
Đậu mô thì đậu một nơi cho thành.
Cành đào lá liễu phất phơ
Đường đi khuất nẻo ai ngờ gặp nhau
Gặp nhau ăn một miếng trầu
Còn hơn đám cưới mổ trâu ăn mừng
Chim quyên, chim én, chim phụng, chim nhàn
Bốn con tùng tam tụ ngũ
Ðậu mai, mai rũ, đậu liễu, liễu tàn
Từ ngày anh với em xa cách đôi đàng
Cơm ăn chẳng đặng, bạn vàng có hay
Em đi đâu đào liễu một mình
Để ai nặn khối chung tình trong tâm
Đêm qua vắng khách tri âm
Vắng hoa luống những âm thầm cỗi cây
Đêm đêm ngồi tựa cành cây
Than thân với bóng, bóng rày chẳng có thương ta
Đêm đêm rước bóng lên giường
Ngọn đèn thấp thoáng nửa thương nửa sầu
Anh chơi cho đủ màu hoa
Nhất thì hoa lý, thứ ba hoa lài
Hoa trúc, hoa mai
Hoa đào, hoa liễu
Anh chơi còn thiếu
Hoa thị, hoa hồng
Anh muốn chơi cùng
Chút hoa con gái
Hoa bông, hoa vải
Hoa muống, hoa cà
Nàng lấy được ta
Thì là hoa tốt
– Tùng liễu : tùng dương, liễu âm, tùng cứng chắc, liễu mềm mại, tùng thẳng, liễu cong
– Trước nhà em có cây tùng tán, trả một ngàn không bán
Sau nhà em có cây liễu rũ, nhiều chủ muốn mua
Thân em như trái thơm chua
Kẻ ngang qua chép miệng, người muốn mua không tiền
– Trước nhà em có cây tùng tán ngã ngáng bên đường
Sau nhà em có cây liễu rũ để chim cú đậu đỡ đôi ngày
Thân em như trái thơm chua
Núp trong bụi rậm chờ ngày sóc ăn.
– Liễu ngang : Liễu, đặc biệt dương liễu là loại cây có cấu trúc sợi dọc, liễu ngang là liễu không còn là liễu
Chàng ơi chẳng thấy chàng sang
Bây giờ chữ “liễu” nét ngang mất rồi
– Bấy lâu em vắng đi đâu
Bây giờ thiên đã mọc đầu ra chưa?
– Từ ngày thiếp vắng mặt chàng
Bây giờ liễu đã có ngang ra rồi.
CHIẾT DƯƠNG LIỄU
Chiết dương liễu nguyên là tên một nhạc khúc từ đời Hán, miêu tả khi tiễn biệt nhau, đôi bên đều bẻ cành dương liễu trao cho nhau làm kỷ vật, để luôn nhớ đến nhau và còn gặp lại nhau. Tục lệ này người đời Đường vẫn theo, và tác giả Kiều Tri Chi là người đời Đường sớm nhất làm thơ cho đề tài này.
Khả liên trạc trạc xuân dương liễu,
Phan chiết tương lai tựu tiêm thủ.
Thiếp dung dữ thử đồng thịnh suy,
Hà tất quân ân năng độc cửu?
Dịch nghĩa
Đáng yêu sao dương liễu mùa xuân xanh tươi mơn mởn,
Nhưng sắp bị bẻ trụi tới tận các cành nhỏ nhất.
Dung nhan thiếp giống liễu này cũng có lúc thịnh suy.
Chẳng lẽ ân tình chàng cứ thế mãi không thay đổi gì sao?
DẶM LIỄU
Một điển tích Trung Quốc, theo Hán thư: Ngày xưa ở Trung Quốc các con đường đều trồng liễu, cứ năm dặm có một cái đình gọi là “đoản đình,” cứ mười dặm lại có một “trường đình” là nơi khách bộ hành vào nghỉ chân hay bẻ cành liễu tiễn biệt nhau. Do đó cách nói “dặm liễu” chỉ nơi từ biệt, cũng nói chốn xa xôi, tha hương.
Dứt tình anh mới giơ roi
Đó lui dặm liễu, đây hồi cố hương
CHIM LIỄU – CHIM QUỲNH : Liễu là trục, quỳnh là vòng bao
Con chim liễu nó biểu con chim quỳnh
Biểu to, biểu nhỏ, biểu mình thương tôi
MẪU LIỄU HẠNH
LIỄU NGHỊ TRUYỀN THƯ
—o—o—o—
2. LONG ĐẦU QUÁN ÂM

Long Đầu Quán Âm được cho là Quán Thế Âm Bồ tát ngồi kiết già trên lưng rồng hoặc toạ mây đứng trên đầu rồng.

Rồng thường được mô là thanh long hay thiên long màu xanh, ẩn hiện trong mây nước.

Đức Quán Âm cũng mang y màu trắng nước và uốn lượn như sóng nước. Ngài thường được mô tả cầm bình nước hoặc cành dương liễu hoặc cả hai.

LONG ĐẦU – NƯỚC ĐẦU NGUỒN

Rồng là biểu tượng về luồng nước, Long Đầu giống như là đầu nguồn, hay đào nguyên. Long Đầu Quán Âm là thanh âm đầu nguồn, thanh âm nước nguồn, thanh âm gốc, thanh âm của mẹ như ca dao đã nói “Công cha như núi Thái Sơn, Nghĩa mẹ như nước trong nguồn chảy ra”.

Long Đầu Quán Âm là thanh âm gốc, thanh âm đầu nguồn, thanh âm khởi nguồn mà là duy nhất. Long Đầu Quán Âm là mẹ nước nguồn.

Hình tượng tương đương trong đạo Mẫu là Mẫu Thoải. Hình tượng tương đương trong huyền sử Bách Việt là Long Nữ, vợ của Kinh Dương Vương.

RỒNG NHIỀU ĐẦU

Các biểu tượng rồng chia thành các nhóm theo cấu trúc đầu và đuôi như Rồng 3 đầu, rồng 7 đầu, rồng 9 đầu, Rồng 3 đuôi, rồng 7 đuôi, rồng 9 đuôi, hoặc Rồng đầu cắn đuôi. Nếu coi con rồng như một dòng sâu, đầu rồng là các dòng phụ lưu, hợp vào dòng chính, còn đuôi rồng là các dòng chi lưu chia ra khỏi dòng chính.

Long Đầu Quán Âm hoặc cho là hóa thân Bích Chi Phật (cũng có thuyết nói là hóa thân Trời, Rồng hoặc Thiên Long). Chi là phân luồng, phân nhánh, chi lưu. Bích là toàn bích, mà cũng một dạng ngọc cát màu lục. Bích Chi Phật nghĩa là vị Phật hợp nhất các trạng thái đất (bích) và các luồng nước (chi).

RỒNG & TÍNH SONG HÀNH

Có mấy cách hiểu về cặp đôi Rồng & Mẹ Quán Âm.
– Rồng là đối xứng nam của mẹ Quán Âm.
– Rồng là cách vận hành của thanh âm, cách quán âm.
– Rồng là hiện thân của mẹ Quán Âm mà bản chất là vô hình.
– Rồng biểu thị cho uy lực, uy thần của Quan Âm. Thanh Long là thanh thế của đức Quán Âm.

Thế gian được vợ hỏng chồng
Có đâu như rồng mà được cả đôi

ĐẦU RỒNG ĐUÔI RẮN

Đầu rồng đuôi rắn

Rồng rắn lên mây

ĐẦU RỒNG ĐUÔI PHƯỢNG

Rồng giao đầu, phượng lại giao đuôi
Ngày nay tôi hỏi thiệt, mình thương tôi không mình?

Đầu rồng đuôi phụng cánh tiên
Nửa đêm tỉnh giấc nổi điên la làng
Là con gì? Con gà trống

Đầu rồng, đuôi phụng le te
Mùa đông ấp trứng, mùa hè nở con
Là cây gì? Con gà mái

Song song hai chiếc thuyền tình
Đầu rồng đuôi phượng đóng đinh hai hàng
Một chiếc em chở năm chàng
Hai chiếc em chở mười chàng ra đi
Trách người quân tử lỗi nghì
Ăn trên ngồi trốc chẳng nghĩ gì đến em
Là cái gì? Đôi guốc mộc

LONG VÂN : RỒNG & MÂY

Mẹ Quán Âm đứng trên đầu rồng, cũng có thể ví như mây đậu đầu rồng, nói cách khác là Long Vân.

Rồng mây là một cặp biểu tượng của ca dao.

Mấy khi rồng gặp mây đây
Để rồng than thở với mây vài lời
Nữa mai rồng ngược mây trôi
Biết bao giờ lại nối lời rồng mây

Nhớ chàng như vợ nhớ chồng
Như chim nhớ tổ như rồng nhớ mây
Mấy khi rồng gặp mây đây
Để rồng than thở với mây vài lời
Nữa mai rồng ngược mây xuôi
Biết bao giờ lại nối lời rồng mây

Đó với đây như rồng mây gặp hội
Em khá nghĩ chút tình kẻo tội bớ em!

Tình cờ anh gặp em đây
Như cá gặp nước như mây gặp rồng
Mây gặp rồng mây lồng cuồn cuộn
Cá gặp nước con ngược con xuôi
Chồng Nam vợ Bắc anh ơi
Sao anh chẳng lấy một người như em?

Khi đầu em nói em thương
Bây giờ gánh nặng giữa đường đứt dây
Tưởng là rồng ấp lấy mây
Ai ngờ rồng ấp lấy cây bạch đàn

Cầu Ô gặp lúc long vân
Cá xa mặt biển cận gần chân mây
Tơ hồng xe kéo múi dây
Bầm gan tím ruột không khuây dạ chàng

Nhớ cơn chung chiếu chung giường
Nhớ cơn chung lược, chung gương, chung phòng
Nhớ cơn chung gối, chung mùng
Loan ôm lấy phượng, phượng bồng lấy loan
Nhớ cơn nguyệt đổi sao tàn
Cùng nhau thu cúc xuân lan sánh bày
Liễu đông sánh với đào tây
Nước non chỉ nguyện rồng mây đá vàng

 

—o—o—o—
3. TRÌ KINH QUÁN ÂM
Trì Kinh Quán Âm còn gọi là Thanh Văn Quán Âm.
Thanh Văn (Sravaka) là nghe Phật thuyết pháp được khai ngộ mà xuất gia. “người đáng dùng thân Thanh Văn được độ thoát Ngài liền hiện thân Thanh văn mà vì đó nói pháp”. Trong Phẩm Phổ Môn nói: “Cần phải dùng thân Thanh Văn để hóa độ liền hiện thân Thanh Văn mà giảng pháp”.
An tọa trên tảng đá gồ ghề, tay phải cầm quyển Kinh, tay trái để trên đầu gối là Pháp tướng đặc trưng của Ngài. Tảng đá nằm giữa trời mây và được trời mây bao bọc đại diện cho tâm ở trong bao. Hình tượng Quán Âm an toạ trên tảng đá giảng pháp đại diện cho thanh âm phát ra từ tâm hoả thổ (lửa đất) và đi trong biên thuỷ khí (nước lửa).
Cặp đôi Quán Âm và tảng đá là âm dương vô cực
– Tảng đá tương trưng cho tính trung tâm, Quán Âm tượng tương cho tính bao trùm, bao bọc
– Tảng đá tượng trưng cho tính thổ, Quán Âm đại diện cho tính khí
– Tảng đá tương trưng cho tính vật chất và hình tướng, Quán Âm đại diện cho tính tinh thần và thanh âm.
Nếu như Dương Liễu Quán Âm là âm dương hợp nhất, thì Long Đầu Quán Âm là âm dương song hành và Trì Kinh Quán Âm là âm dương vô cực. Bộ ba hoá thân đầu tiên của Quán Âm tương ứng với Tam Toà Thánh Mẫu của Đạo Mẫu. Dương Liễu Quán Âm ứng với Mẫu Thượng Ngàn. Long Đầu Quán Âm ứng với Mẫu Thoải. Kinh Trì Quán Âm ứng với Mẫu Thượng Thiên.
Chia sẻ:
Scroll to Top