![]()
TÊN
Tên Chăm : Yang Po Inư Nagar hay Yang Pô Ana Garcòn gọi là Po ANagar
– Po, pu, pom̐ : Thượng đế, Đấng tối cao, Đấng Tạo Hóa, Đấng Duy Nhất, Đức Chúa Trời, đôi khi là Vua
– Yang là Giàng, là Thần, đôi khi là Vua, là Thượng Đế
– Inư, Ana trong tiếng Chăm, Eđê, Jarai theo âm cổ gốc có nghĩa là Mẹ, Cái
– Nagar : quốc gia, có thể liên quan đến thần rắn Nagar của người Khmer, Hindu
– Yang Po Ina Nagar: là danh hiệu của nữ thần Bhagavati – Parvati (phu nhân Đấng Shiva), tức Yang Pu Ina Nagar (Thánh Mẫu Vương Quốc).
Tên Việt
– Mẹ xứ sở
– Bà chúa Xứ
– Chúa Xứ Nương Nương
– Chúa Xứ Thánh Mẫu
Các tên Việt khác hầu hết thiếu so với tên gốc Chăm, chỉ là tên một hoá thân của bà chúa Xứ mà thôi
– Thiên Y A Na, Thiên Y Thánh Mẫu : Ana là Mẫu, Mẹ; Yang là Giàng, Thiên, Y là rắn lưỡng nghi Naga. Thiên Y A Na theo truyền thuyết của người Việt không phải bà chúa Xứ, mà là một giáng thế, một hoá thân, một hiện thân cụ thể trên trần gian của bà chúa Xứ, liên quan đến người Việt. Thiên Y A Na là chìa khoá dành cho người Việt, để gặp được bà chúa Xứ đích thực của người Chăm. Thiên Y A Na tương tự như Quán Âm Thị Kính, Quán Âm Tống Tử … chỉ là một hoá thân của mẹ Quán Thế Âm, ứng với một thế cụ thể của mẹ Quán Âm gốc.
– Chúa Hồng, Bà Hồng, Cô Hồng, Hồng nhân phổ tế linh ứng thượng đẳng thần.
– Chúa Ngọc, Chúa Ngọc Thánh Phi, Chúa Ngọc nương nương : Tên gọi này thiếu phần khí, là Chúa Tiên
– Chúa Tiên : Chúa gọi này chưa đủ, cần có thêm Chúa Ngọc
– Chúa Động : Chúa Động là chưa đủ, vì Bà chúa Xứ có trạng thái mở trời và tĩnh
– Bà Đen : Bà Đen cũng không đủ vì thiếu bà Trắng, hay chúa Tiên
– Chúa Nước : Chúa Nước là chưa đủ, phải là chúa Đất Nước, nghĩa là có thêm bà Đen
– Chúa Trầm Hương : Trầm liên quan đến đất, Hương liên quan trời
– Chúa Xứ Nguyên Nhung là thần phù hộ nông dân trong một ấp, dưới cấp chúa Xứ của cả một vùng, một tiểu vương quốc như Pô Nogar Dara (chúa xứ Khánh Hoà, Phan Rang), Rarai Anaih (chúa xứ Phan Rang) và Pô Bia Tikuk
TRUYỀN THUYẾT CHĂM
Nữ thần Poh Nagar do bọt nước biển và ánh mây trời sinh ra ngoài biển khơi. Một hôm, nước biển dâng cao đưa bà vào bến sông Ea Dran (sông Lau, sông Tre, cù Giang hay sông Cái Nha Trang) ở Kauthara (Cù Huân). Sấm trời và gió hương liền nổi dậy báo cho muôn loài biết tin bà giáng thế. Tức thì, nước trên nguồn dồn lại thành sông chảy xuống đón mừng bà, và núi cũng hạ mình thấp xuống để đón rước bà.
Khi bà bước lên bờ, thì cây cong xuống để tỏ lòng thần phục, chim muông kéo đến chầu hai bên đường, và hoa cỏ cũng xinh tươi rực rỡ hơn để điểm hương cho mỗi bước chân bà đi. Rồi nữ thần Poh Nagar dùng phép hóa ra cung điện nguy nga, hóa ra trầm hương cùng lúa bắp…
Bà có đến 97 ông. Nhưng trong số đó, chỉ ông Pô Yan Amo là có uy quyền hơn cả. (Lưu ý : 97 ông chồng với ông Po Yan Amo là chồng chính, là ông Tứ tượng, tạo nên khoá Chăm 100)
Bà có 38 người con gái, tất cả đều hóa thân thành nữ thần, trong đó có ba người được người Chăm chọn làm thần bảo vệ đất đai và còn thờ phụng cho tới ngày nay: Po Nagar Dara – nữ thần Kauthara (Khánh Hòa); Po Rarai Anaih – nữ thần Panduranga (Phan Rang) và Po Bia Tikuk – nữ thần Manthit (Phan Thiết).
TRUYỀN THUYẾT VIỆT
Đến khi đất Kauthara thuộc về người Việt, thì nữ thần Poh Nagar cũng trở thành vị thánh mẫu của người Việt với tên gọi là Thiên Y A Na và sự tích của bà cũng được Việt hóa.
Văn bia viết về Thiên Y A Na tại tháp Po Nagar, Nha Trang do Phan Thanh Giản soạn ngày 20 tháng 5 năm Tự Đức thứ 9 (1857)- bản dịch của Quách Tấn – ông bà Lê Vinh tạc năm 1970
Xưa kia tại núi Đại An (nay là Đại Điền), có hai vợ chồng tiều phu già không con, trồng rẫy dưa. Dưa chín, thường bị hái trộm. Rình rập, một đêm ông lão bắt được thủ phạm. Khi biết được kẻ hái là một cô gái nhỏ xinh đẹp nhưng mồ côi, ông liền mang về nuôi. Không ngờ, cô gái ấy vốn là tiên nữ, vì lý do nào đó, phải giáng trần!
Một hôm, mưa lụt lớn, cảnh vật tiêu điều, khiến tiên nữ thêm nhớ cảnh tiên xưa. Cho nên, cô lấy đá và hoa lá tạo thành một hòn giả sơn (hòn non bộ). Cho rằng việc làm đó không thích hợp đối với một phụ nữ, nên người cha nuôi có nặng lời quở mắng. Vì vậy, nhân thấy một khúc kì nam đang trôi dạt, cô bèn biến thân vào khúc cây ấy, để xuôi ra biển cả rồi tấp vào bờ biển nước Trung Hoa.
Mùi hương từ khúc kì nam lan tỏa khắp nơi, khiến nhiều người đến xem, nhưng không một ai nhấc lên nổi. Thái tử nước ấy, nghe tin đồn tìm đến, rồi nhẹ nhàng vác khúc gỗ kia mang về cung. Đêm nọ, Thái tử thấy có bóng người lạ ẩn hiện từ khúc cây kì nam. Rình rập mấy đêm, thì chàng bắt được. Nghe cô gái xinh đẹp tự xưng mình là Thiên Y A Na và khi nghe chuyện của nàng xong, ngay hôm sau, Thái tử đã tâu với vua cha cho phép cưới nàng làm vợ. Sống với Thái tử, Thiên Y A Na sinh được một trai đặt tên là Tri và một gái đặt tên là Quí.
Một hôm, Thiên Y A Na nhớ cảnh cũ người xưa, bèn dắt hai con nhập vào khúc kì nam, vượt biển trở về cố quốc. Khi biết cha mẹ nuôi đã mất, bà cho xây đắp mồ mả, cho sửa sang lại nhà cửa để có chỗ thờ phụng hai ông bà. Thấy dân chúng ở Đại An hãy còn thật thà, chất phác; bà liền đem những gì học được ở quê chồng, như phép tắc, lễ nghi ra chỉ dạy và dạy cả những việc như cày cấy, kéo sợi dệt vải… để người dân quê mình biết cách mưu sinh.
Ít lâu sau, một con chim hạc từ trên mây cao bay xuống, rước bà và hai con về cõi tiên. Nhớ ơn đức, nhân dân địa phương cùng nhau xây tháp, tạc tượng phụng thờ.
Khi đến Đại An, không tin Thiên Y A Na và hai con đã rời bỏ cõi tục, bộ hạ của Thái tử đã tra khảo người dân rất dữ, vì ngỡ họ cố tình che giấu mẹ con bà. Bị oan ức và đau đớn, nhiều người dân đã thắp hương cúng vái bà. Liền đó, một trận cuồng phong nổi dậy, cát chạy đá bay…và toàn bộ những người đến từ phương Bắc đều bị cát vùi thây, thuyền bè của họ cũng bị đá đánh chìm hết…
Theo lời người xưa truyền lại, thì những cụm đá ở trước cửa tháp Bà (tức tháp Po Nagar ở Nha Trang), giữa cửa sông Cù, là những viên đá đã đánh đắm cả đoàn thuyền vừa kể.
Sự tích này đã được Kinh lược Phan Thanh Giản chép lại thành bài ký, khắc lên bia đá, dựng sau tháp Bà ở Nha Trang vào năm Tự Đức thứ 9 (1856).
Ngoài ra, vào năm 1925, bác sĩ Sallet chép lời người dân địa phương kể lại, thêm thắt vài chi tiết, đề có một sự tích nữa, tóm gọn như sau:
Một Thái tử Trung Hoa qua Việt Nam tìm vợ, gặp khúc trầm to, muốn đưa lên thuyền, nên cho lính chặt ra làm ba khúc. Tức thì, giông bão nổi lên làm đắm thuyền. Khúc trầm trôi ngược vào sông, tấp vào khu vườn ở làng Bình Thủy (Phan Rí). Do được báo mộng, chủ vườn thức dậy, thì thấy khúc trầm to có ghi chữ Thiên Y (Thiên Y A Na) và hai khúc trầm nhỏ (hai đứa con), và ông đã đem lên cất miếu thờ. Lâu ngày, gỗ trầm hóa đá.
Lại truyền tụng thêm một câu chuyện khác, theo nhà văn Sơn Nam, đó là ngày xưa “có một phú thương người Hoa thử mua hoặc đánh tráo khúc trầm, đưa lên ghe chở về Tàu, thì giông tố liền nổi lên, khiến thuyền phải quay về chỗ cũ”.
Tuy nhiên, hai sự tích ghi sau, ít được phổ biến.
THÁP & TƯỢNG BÀ PONAGAR
Tháp Bà Ponagar là ngôi đền Chăm Pa nằm trên đỉnh một ngọn đồi nhỏ cao khoảng 10-12 mét so với mực nước biển, ở cửa sông Cái (sông Nha Trang) tại phường Bắc Nha Trang, tỉnh Khánh Hòa cách trung tâm phường Nha Trang khoảng 2 km về phía bắc. Tên gọi “Tháp Po Nagar” được dùng để chỉ chung cả công trình kiến trúc này, nhưng thực ra nó là tên của ngọn tháp lớn nhất cao khoảng 23 mét.
Năm 784 vị vua Satyavarman Isvaraloka quyết định xây trung tâm tín ngưỡng Ấn Giáo có đền đài hùng tráng để thờ thần Shiva và phu nhân Bhagavati. Nữ thần Bhagavati được tôn chức là Yang Pu Kauthara, tức là Thánh Mẫu của tiểu vương quốc Kauthara (Nha Trang). Năm 918, vua Indravarman III quyết định tạc hình tượng bằng vàng của nữ thần Bhagavati để thờ phượng và tôn vinh nữ thần Bhagavati từ Yang Pu Kauthara (Thánh Mẫu Nha Trang) trở thành Yang Pu Ina Nagar (Thánh Mẫu Vương Quốc) mà người Cham hôm nay gọi là Po Ina Nagar. Bức tượng vàng này sau bị quân Khmer đánh vào đất Chămpa cướp đi mất, phải thay bằng tượng đá.
Ngôi đền này được xây dựng trong thời kỳ đạo Hindu (Ấn Độ giáo) đang cường thịnh khi Chăm Pa trong giai đoạn có tên gọi là Hoàn Vương quốc, và tượng nữ thần có hình dạng của Uma, vợ của Shiva, nữ thần Bảo Tồn.
Trong kalan Po Nagar (tức Tháp Bà), tượng nữ thần Poh Nagar (tức Thiên Y A Na) được đặt trong chính điện, trên một cái bệ có vòi luôn quay về hướng Bắc gọi là Snana-droni. Bệ này dùng để thoát nước khi làm lễ tắm tượng, vì dưới chân bệ có một đường thoát nước bằng đá gọi là Soma-sutre xuyên qua tường tháp ra ngoài. Nữ thần ngồi xếp bằng trên đài sen hai lớp cánh. Sau lưng tượng là một phiến đá lớn hình lá đề chạm kĩ cả hai mặt.
GS. Trần Quốc Vượng cho biết, tuy là tượng nữ thần Mẹ của vương quốc, nhưng vì đặt trên một bệ Yoni nên tượng được thể hiện với dạng Uma (tức vừa là vợ & vừa là một cách thể hiện của thần Shiva). Với bốn đôi tay cầm các linh vật khác nhau (bên trong cái Uma) và đôi tay thứ 5 để xuôi trên đầu gối, bàn tay trái úp, bàn tay phải mở rộng, vuông góc với cổ tay trong một thế mudra: an ủi – ban phát. Vậy, có thể hiểu toàn bộ đài thờ này tượng trưng cho cặp Linga – Yoni. Điều đáng lưu ý nữa là tượng nữ thần được thể hiện rất khác với các Uma trinh nữ. Vì tượng có bộ ngực lớn, căng, nhưng hơi sệ; trên làn da bụng có những nếp nhăn của một người nữ đã nhiều lần sinh nở. Rất tiếc, hiện nay pho tượng đã được khoác xiêm y, mũ miện sặc sỡ, làm che khuất những đường nét và vóc dáng tràn trề sinh lạc mà mềm mại, dịu dàng của Bà Mẹ xứ sở.
Việc người Việt mặc y vào tượng Chăm là sai, vì người Việt thờ tượng theo kiểu chiêm bái, tượng ở vị trí tâm, mặc áo vào thì tượng vẫn là tâm, còn người chăm thờ bà chúa xứ theo kiểu chiêm ngưỡng, với Mẹ xứ sở đại diện cho biên lớn nhất, biên cuối cùng, mẫu số chung của xứ sở Chăm (đối xứng với Trần), người dân Chăm, đất nước Chăm, phong tục nghi lễ Chăm … ở bên trong bà, được bà bao bọc che chở nuôi dưỡng, nên không thể có một lớp áo bên ngoài bà. Cái duy nhất có thể phủ bên ngoài bà chúa Xứ chính là nước tắm tượng, nhưng nước tắm tượng không phải là áo, mà đại diện cho một chu kỳ làm mới biên xứ sở, giống như chu kỳ thay da, đổi thịt vậy.
Nguồn :
– Thiên Y A Na
– Tháp Po Nagar
– Từ Po và Yang trong tiếng Cham

