VÒNG ĐỜI (CHU KỲ ĐẦU THAI) & TUỔI ĐỜI TÍNH THEO THÂN MỆNH NAM HOẶC NỮ

Loading

CẤU TRÚC BA GIAI ĐOẠN CỦA MỘT ĐẦU THAI
Một đầu thai có 12 giai đoạn
– 3 chu kỳ 9 giai đoạn (đầu, cuối và giữa đầu thai)
– 3 chuyển vận 3 giai đoạn (đầu, cuối và giữa các đầu thai)
– 12 giai đoạn = 3 chu kỳ x 3 giai đoạn +3 chuyển vận
Cấu trúc đầu thai cụ thể như sau
– Đầu đời (Thai – Dưỡng – Trường Sinh) : Nhập hồn (chủ Mệnh) vào xác (hiện Thân), tính Mộc, cho đến khí đạt ngưỡng Mộc dục
– Chuyển vận nửa đầu đời (Mộc dục) : Ngưỡng cao nhất của việc hồn nhập xác.
– Giữa đời (Quan đới – Lâm quan – Đế Vượng) : Thân Mệnh song hành, đạt thái cực và hợp nhất ở Đế Vượng
– Chuyển vận nửa cuối đời (Suy) : Suy là trạng thái thác xuống từ đỉnh cao Đế Vượng, bắt đầu phân tách giữa Thân và Mệnh,
– Cuối đời (Bệnh – Tử – Mộ) : Tách hồn (chủ Mệnh) ra khỏi xác (hiện Thân), tinh Kim, cho đến khi đạt ngưỡng Tuyệt
– Chuyển vận từ đầu thai này sang đầu thai khác : Tuyệt
3 giai đoạn và 3 bước chuyển giai đoạn của đầu thai tạo nên nhịp điệu chính của một đầu thai. Cuộc đời của con người hay cuộc đời của con thiêu thân hay cuộc đời của một hành tinh, cấu trúc cũng đều chia làm ba giai đoạn như vậy. Đầu thai có thể dài hoặc ngắn, tuỳ giống loài nhưng nhịp điệu cơ bản này là không đổi.
NHỊP ĐIỆU DÀI NGẮN CỦA MỖI GIAI ĐOẠN ĐẦU THAI
Nhịp điệu của mỗi giai đoạn và mỗi chu kỳ đầu thai được gọi là tuổi đời, hay ngắn gọn là tuổi.
Tuỳ giống loài như loài người, loài chim, loài cá…, mà nhịp điệu dài ngắn, thưa mau của mỗi giai đoạn đầu thai là khác nhau. Tuỳ đầu thai của cá thể trong giống loài, mà cả đầu thai và một số giai đoạn của đầu thai sẽ dài ngắn hơn so với mức trung bình của giống loài đó.
3 giai đoạn đầu thai được dân gian gọi là
– Tuổi trẻ – Tuổi trung niên – Tuổi già
hoặc
– Tuổi thanh xuân (xuân xanh) – Tuổi trung niên – Tuổi xế chiều, xế bóng
Trong tuổi trẻ (Thai – Dưỡng – Trường sinh – Mộc dục) có các giai đoạn thai nhi, sơ sinh, trẻ thơ, trẻ nhỏ, trẻ con, trai trẻ, gái trẻ, người trẻ. Trong tuổi trung niên (Quan Đới – Lâm Quan – Đế Vượng) có trung tuổi, luống tuổi. Trong tuổi già (Suy – Bệnh – Tử) có người già, ông già, bà già, lão già, cụ già.
Trẻ thì bé dại thơ ngây,
Già thì lẫn lộn biết ngày nào khôn
Trẻ thì “trẻ người non dạ” hay “trẻ trâu”, trung niên thì “vững lòng”, “vững dạ” và già thì già cả, già lão, già lẩm cẩm, già bệnh, già chết.
Tuổi thanh xuân gồm Dưỡng – Trường Sinh – Mộc dục, với Mộc dục chính là thời kỳ rực rỡ nhất của Thanh xuân, ứng cây nở hoa. Ba giai đoạn này thuộc bộ sinh là Dưỡng sinh – Trường sinh – Mộc dục (sinh dục). Trung niên gồm Quan Đới – Lâm Quan – Đế Vượng là tuổi cây kết quả, cây cho hạt, cây đứng bóng, cây cao bóng cả. Tuổi xế chiều, xế bóng là tuổi cây không phủ bóng được lên chính thân cây, gốc rễ cây, người xế bóng không còn phủ bóng lên vợ chồng, con cái được nữa.
VÒNG ĐỜI CỦA NAM
Vòng đời của Nam tính theo tuổi dương của Thân từ lúc sinh, với mỗi 7 năm thì đổi một chu kỳ Mệnh
– Thai (12 hoặc -1) : 1 tuổi mụ (9 tháng 10 ngày là tuổi mang thai của mẹ, không được tính thành tuổi thai của con)
– Dưỡng (11 hoặc 0) : 0-7 (7×1) tuổi thày
Sinh là bước chuyển giữa Thai và Dưỡng, tạo nên giai đoạn đầu của Dưỡng là Sơ Sinh
– Trường sinh (1) : 7-14 (7×2) tuổi
Dứt căn là bước chuyển kết thúc Trường sinh, thường tính là 12 tuổi thân chung cho nam và nữ, và 13 tuổi mệnh nam. Đây là khởi đầu cuộc đời của một con người như một chủ thể độc lập, nên vòng Trường sinh cho nam tính từ tuổi Mệnh này.
– Mộc Dục (2) : 14-21 (7×3) tuổi
Dạy thì là khởi đầu của Mộc dục, đối xứng với Dứt căn là bước kết thúc của Trường sinh. Dạy thì thường tính là 14 tuổi nam, vì nam thường được coi là dạy thì muộn hơn nữ, nhưng dứt căn ở nam lại trước nữ, khiến cho có sự đứt đoan rõ ràng giữ Dứt căn và Mộc dục ở nam so với nữ.
– Quan Đới (3) : 21-28 (7×4) tuổi
– Lâm Quan (4) : 28-35 (7×5) tuổi
– Đế Vượng (5) : 35-42 (7×6) tuổi
– Suy (6) : 42-49 (7×7) tuổi
– Bệnh (7) : 49-56 (7×8) tuổi
– Tử (😎 : 56-63 (7×9) tuổi
– Mộ (9) : 63-70 (7×10) tuổi, nếu chưa chết hoặc chuyển hoá trong mộ nếu đã chết, chiêu mộ Rốn, Ối, Nhau, Bào về cùng
– Tuyệt (10) : 70-77 (7×10 + 7×1) tuổi hoặc linh hồn lên bàn thiết kế đầu thai để tổng kết đầu thai cũ, thiết kế đầu thai mới
Đây là cách tính tuổi cho nam (Thân nam Mệnh nam).
Chu kỳ tuổi nam tính theo Thiên can. Thiên mệnh bắt đầu tính từ Trường sinh đến Tuyệt gồm 10 giai đoạn (10 can x 7 năm/chu kỳ = 70 tuổi xưa nay hiếm) nên gọi là vòng Trường sinh. Thai và Dưỡng là hai giai đoạn trước Trường sinh mà người con trai còn phụ thuộc vào sự dưỡng dục của Cha mẹ, đặc biệt của mẹ (gọi là tuổi Sơ sinh Mẫu giáo, chưa có Thiên mệnh riêng, Thiên tính riêng).
VÒNG ĐỜI CỦA NỮ
Vòng đời của Nữ tính theo tuổi mụ của Thân từ lúc trong thai, với mỗi 6 năm thì đổi một chu kỳ Mệnh
– Thai (1) : 1 tuổi (tuổi mụ)
– Dưỡng (2) : 1-6 (6×1) tuổi (cộng 1 nếu tính tuổi mụ)
Sinh là bước chuyển giữa Thai và Dưỡng. Sau sinh là giai đoạn đầu của Dưỡng. Trong giai đoạn này có 1 loạt nghi lễ vòng đời, là lễ chôn nhau cắt rốn, lễ 1 ngày tuổi, lễ đặt tên, lễ bà mụ, lễ dạ đề, lễ thôi nôi, lễ căn 6 tuổi
– Trường sinh (3) : 6-12 (6×2) tuổi
Dứt căn là bước chuyển kết thúc Trường sinh, thường tính là 12 tuổi
– Mộc Dục (4) : 12-18 (6×3) tuổi
Dạy thì là bước sau Dứt căn, thường tính là từ 13 tuổi, 15 là tuổi cập kê và 18 tuổi là dạy thì trọn vẹn.
– Quan Đới (5) : 18-24 (6×4)
19 tuổi là bắt đầu Quan đới, giai đoạn thiết lập các quan hệ thân thiết bao gồm quan hệ thân thể, tình dục với người ngoài xã hội, không phải người thân trong gia đình như giai đoạn trước.
– Lâm Quan (6) : 24-30 (6×5) tuổi
– Đế Vượng (7) : 30-36 (6×6) tuổi
– Suy (😎 : 36-42 (6×7) tuổi
– Bệnh (9) : 42-48 (6×8) tuổi
– Tử (10) : 48-54 (6×9) tuổi
– Mộ (11) : 54-60 (6×10) tuổi nếu còn sống hoặc chuyển hoá trong mộ nếu đã chết, chiêu mộ Rốn, Ối, Nhau, Bào về cùng
– Tuyệt (12) : 60-66 (6×11) tuổi hoặc linh hồn lên bàn thiết kế đầu thai để tổng kết đầu thai cũ, thiết kế đầu thai mới
Đây là cách tính tuổi cho nữ (Thân nữ Mệnh nữ). Cuộc đời tính từ Thai đến Tuyệt, theo vòng địa chi 12 con giáp, cũng là chu kỳ của thân gái 12 bến nước, chứ không gọi là vòng Trường sinh.
TUỔI ĐỜI : TUỔI THÂN & TUỔI MỆNH
Tuổi Đời có 2 cầu phần là Thân và Mệnh.
– Tuổi Thân tính theo năm sống của Thân,
– Tuổi Mệnh tính theo các đoạn Mệnh của một đầu thai, có 2 nhịp khác nhau cho nam và nữ
Người Thân nam Mệnh nữ hoặc Thân nữ Mệnh nam, thì tuổi Thân không đổi, nhưng luôn bị lệch tuổi Mệnh một kiều nào đó, dù tính theo Mệnh nữ hay Mệnh nam.
Nhiều người tuổi Thân thì đúng, nhưng tuổi Mệnh không đúng, vì Mệnh không đạt được sự trưởng thành tương ứng với Thân. Ví dụ không dứt căn được thì Tuổi thân có thể đến Quan đới nhưng tuổi đời chưa xong bước Trường sinh.
“Trai hơn 1, gái hơn 2”
Câu này thường được hiểu là “trai lấy vợ hơn vợ 1 tuổi và gái lấy chồng hơn chồng 2 tuổi là hợp lý”. Vấn đề là có 3 dạng tuổi là tuổi Thân, tuổi Mệnh và tuổi Đời, biết hơn 1 hơn 2 là tính theo tuổi nào
“Trai hơn 1” : Tính theo nhịp tuổi Mệnh, tuổi nam có nhịp 7 năm/mệnh, hơn 1 so với tuổi nữ có nhịp 6 năm/mệnh.
Do nhịp mệnh lệch nhau, nên
– trai gái cùng tuổi Thân thì gái hơn trai tuổi Mệnh,
– trai gái cùng tuổi Mệnh thì trai hơn gái tuổi Thân
Ví dụ
– Trai Mộc Dục 14-21 tuổi lấy gái Mộc Dục 12-18, tuổi thì gái trẻ hơn trai ít nhất 2 tuổi Thân
– Trai 21 tuổi (Mộc Dục nam 14-21) lấy gái 21 tuổi (Quan đới nữ 18-24), thì nam đang trẻ hơn nữ ít nhất 1 tuổi Mệnh.
“Lấy chồng từ thuở mười ba
Đến năm mười tám, thiếp đà năm con”
Dân gian cho rằng
– con gái dạy thì sớm hơn con trai,
– con gái sớm bị ế, nhanh bị quá lứa lỡ thì hơn con trai,
– con gái già nhanh hơn con trai,
– chồng thường hơn tuổi vợ
lý do đơn giản vì nhịp tuổi đời của con gái nhanh hơn con trai.
“Một năm một tuổi một già
Ba năm một tuổi chi mà đợi anh”
“Một năm một tuổi một già” là cách tính tuổi Thân. “Ba năm một tuổi” là cách tính tuổi Mệnh, mà liên quan đến lứa, đến thì của một người con gái. “Ba năm một tuổi chi mà đợi anh” là người con gái có lứa có thì, không thể đợi một người con trai mà để lỡ cái thì, lỡ cái mệnh của mình.
Thật đúng là “Tuổi đời mênh mông quá”.
CÁC MỐC TUỔI ĐỜI
Vòng đời có một số mốc cần lưu ý tính cho cả Thân và Mệnh
– Dứt căn (12 tuổi) là một cột mốc trưởng thành để thành con người độc lập cho cả nữ và nam. Đây là cột mốc quan trọng nhất của Trường Sinh (6-12 tuổi nữ hoặc -7-14 tuổi nam). Chính cột mốc này tạo nên tên vòng Trường sinh, để chỉ vòng đời đầu thai trong Tử Vi.
– “Nam thập tam, nữ thập tứ” : Nam thập tam rơi vào cuối Trường Sinh (7-14 tuổi nam), nữ thập tứ rơi vào đầu Mộc Dục (12-18 tuổi nữ). Đây là độ tuổi dứt căn.
– “Nữ thập tam, nam thập lục” : Nữ thập tam rơi vào đầu Mộc Dục (12-18 tuổi nữ), nam thập lục rơi vào đầu Mộc Dục (14-21 tuổi nam). Đây là độ tuổi dạy thì.
Tuổi dứt căn của nam đi trước, rồi mới đến tuổi dạy thì, trong khi ở nữ thường dạy thì sớm hơn nam và bị chồng chập vào giai đoạn dứt căn.
– Tuổi cập kê của nữ rơi vào Mộc dục “Nữ tử thập hựu ngũ niên nhi kê” 女子十有五年而笄 (Con gái 15 tuổi thì cài trâm)
– Tuổi “niên phương nhược quán” (theo Kinh Lễ là 20 tuổi), sách Từ hải 辭海 “Nữ-tử hứa giá, kê nhi tự chi; kỳ vị hứa giá, nhị thập tắc kê” (Con gái đã hứa gả chồng thì cài trâm và đặt tên chữ; còn con gái chưa hứa gả chồng thì hai mươi tuổi cũng cài trâm). 20 tuổi nữ là Quan đới.
– “17 bẻ gãy sừng trâu” : Câu này dành cho nam, 17 là tuổi Mộc Dục (14-21 tuổi nam)
– “Ba mươi tuổi đàn bà,
Bốn mươi tuổi đàn ông”
Tuổi Đế Vượng ở nữ là 30-36 tuổi và ở nam là 35-42 tuổi.
– “Trai ba mươi hãy đang xoan
Gái ba mươi tuổi đã toan về già”
Trai 30 ở Lâm Quan (28-35 tuổi nam), gái 30 ở Đế Vượng (30-36 tuổi nữ), sau Đế Vượng với nữ là bắt đầu Suy, bắt đầu về già rồi.
– “49 chưa qua 53 chưa tới” dành cho cả nam và nữ. 49-53 rơi vào Tử của nữ (48-54 tuổi nữ). 49 rơi vào Bệnh (49-56 tuổi nam) và 53 rơi vào Tử (56-63 tuổi nam).
– “70 tuổi xưa nay hiếm” dành cho nam, rơi vào Mộ (63-70 tuổi nam)
TUỔI CỦA CÁC VỊ THÁNH NHÂN TRONG LỊCH SỬ & HUYỀN SỬ
– Khương Tử Nha : Sử ký chỉ ghi ông thọ hơn 100 tuổi. Tính từ khi gặp Cơ Xương năm 80 tuổi tới khi qua đời, Khương Tử Nha hoạt động trong khoảng hơn 20 năm cuối thời nhà Thương, giúp thành lập nên nhà Chu. Trước 80 tuổi, ông làm gì cũng thất bại. Như vậy, ông đã ở vòng Trường sinh thứ 2 khi bắt đầu sự nghiệp nhà Chu. Vậy là về Thân thì ông vẫn ở cuối một đời đầu thai, nhưng theo Mệnh thì ông lại ở đoạn đầu của đại vận mới, đại vận thứ hai của cuộc đời mình
– Nhiều tích về các vị thần linh trong đình đền đưa ra thời gian được mẹ mang nặng đẻ đau của họ dài hơn thai kỳ 9 tháng 10 ngày thông thường, ví dụ 10 tháng, 12 tháng, 16 tháng. Nghĩa là bộ cấu trúc Thân và nhịp Mệnh của họ lớn hơn người thường.
– Sự tích Lão Tử ra đời : Trong sự tích thày Lão Tử có nói thày sinh ra khỏi nách mẹ khi đã 72 tuổi, trong khi người thường ra khỏi bụng mẹ mới tính là 1 ngày tuổi, nghĩa là thày Lão Tử đã đi qua 6 vòng Trường sinh thai của 6 Thân Mệnh khác nhau (Thân, Rốn, Ối, Nhau, Bào hình và Bào âm), tạo nên 6×12=72. Nói cách khác thày Lão Tử là một con người trọn vẹn Thân Rốn Ối Nhau, Bào hình, Bào âm. Thông thường trạng thái này chỉ đạt được ở Mộ Tuyệt chứ không phải ở Sinh.
– Sự kiện Phật Thích Ca đản sinh : Thày Thích Ca vừa ra đời đã tự đi bảy bước (là nhịp của một chu kỳ tuổi Mệnh của nam) trên hoa sen, nói “Thiên thượng thiên hạ, duy ngã độc tôn”. Hành động của thày Thích Ca ứng với trẻ vài ba tuổi. Lời nói của thày Thích Ca ứng với Đế Vượng, người ở đỉnh cao cuộc đời.
Lão Tử và Thích Ca là các vị dụ về thần đồng, là những người tuổi Mệnh vượt xa tuổi Thân. Có thể thấy Thần Đồng trước hết là đồng Thân Mệnh ở trạng thái cao nhất của chính mình, như là con của cha Trời mẹ Đất. Thày Lão Tử hay thày Thích Ca vừa ra đời ở trạng thái con người trọn vẹn Thân Mệnh, từ cái gốc đó, họ mới bắt đầu bước trên con đường tu Phật hay tu Tiên, còn người thường chưa xong bước làm người, chả biết cái gốc người, cái Thân và Mệnh của mình ra sao đã tu Phật tu Tiên thì chắc chắn là tu hoang tưởng, vì mất cả gốc Thân lẫn đích Mệnh.
THAI & ĐẾ VƯỢNG : VÒNG ĐỜI TRONG VÒNG ĐỜI
Thai và Đế Vượng là hai giai đoạn đặc biệt trong cuộc đời của một con người, khi mà sự phát triển của Thân và Mệnh, cùng đạt được sự hoà hợp để có thể tạo ra sinh mệnh mới trong thân thể mới.
Đế Vượng
– Với nữ là giai đoạn mang thai và sinh con, vì mang thai là mang một sinh mệnh, mang cả một vòng trường sinh
– Với nam là giai đoạn đỉnh cao sự nghiệp tạo lập ra được một sự nghiệp giống như mang thai và sinh ra được một đứa con tinh thần ví dụ lập quốc hay để lại một tác phẩm để đời
Đế Vượng kiểu nam hay nữ đều cho phép tạo ra một vòng trường trọn vẹn sinh bên trong chính mình, nữ mang thai và sinh con bằng thân thể, nam mang thai và sinh đứa con tinh thần.
Tức nhiên, phụ nữ không phải ai cũng sinh con, đàn ông không phải ai cũng có sự nghiệp để đời, và trong các phụ nữ sinh con, không phải ai cũng tạo ra một sinh mệnh trọn vẹn, trong các đàn ông để lại sự nghiệp để đời, để lại đứa con tinh thần, cũng vẫn kiệt tác truyền đời và những sự nghiệp bình thường mà thôi.
Vòng đời của Thai (cũng là vòng đời của Đế Vượng)
– Tuyệt : Thiết kế bào thai và thiết kế thai kỳ/đầu thai
– Thai : Đầu thai của linh hồn vào hợp tử
– Dưỡng : Vận hành phôi dâu trong vòi trứng
– Mộc dục : Phôi làm tổ trong tử cung
– Quan đới : Hình thành bánh nhau
– Lâm quan : Phát triển bào thai
– Đế vương : Hoàn thành bào thai, xoay ngôi thai
– Suy : Chuẩn bị chuyển dạ
– Bệnh : Chuyển dạ
– Tử : Sinh (vỡ bào, vỡ ối, bong nhau, cắt rốn, em bé ra đời)
– Mộ : Chuyển hoá của thân rốn ối nhau bào sau khi sinh
– Tuyệt : Tổng kết thai kỳ, chuẩn bị cho thai kỳ/đầu thai tiếp theo
Chia sẻ:
Scroll to Top