![]()
KHÔNG THỂ BUÔNG BỎ KHI CÒN ĐÓNG VAI
Khi chưa chính thức đi dạy thiền chữa lành, tôi đã chứng kiến mẹ của một người bạn rơi vào tuyệt vọng khi bạn tôi mất vì bị ung thư. Người mẹ đã đưa con đi chữa trị khắp nơi, theo cả tây y và các thầy tâm linh. Có lúc tưởng như bệnh của con đã chuyển biến, khiến người mẹ nuôi hy vọng. Cuối cùng, khi người con chết, người mẹ hoàn toàn sụp đổ. Trước, trong và sau đám tang, bác gào thét cả ngày và đêm, đòi chết, đòi đền tội, đòi trả nghiệp thay cho con … Chồng khuyên bảo bác nghỉ ngơi, bác mắng lại. Cháu bác, con của người con gái đã mất của bác còn nhỏ, rất cần chăm sóc, nhưng bác không quan tâm.
Tôi dẫn thiền cho bác, vào cảnh bác lái xe ngoài đường, bác gào lên đòi đâm chết người đi đường, vì theo bác, chính vì tội lỗi của bác mà con bác đã phải chết đề đền tội cho bác, nên bác muốn cái tiền kiếp mở ra là một tiền kiếp mà bác đã gây ra tội ác.
Tôi dừng thiền khi hiểu ra được tâm lý của bác : Khi thấy mình không bảo vệ được con, không cứu được con khỏi cái chết, bác cho rằng mình là thủ phạm, bác cho rằng bác có tội lỗi, bác cho rằng bác có nghiệp quả, mà con bác phải chịu thay cho bác, bác muốn tự trừng phạt bản thân, nhưng vì bác đang sống với gia đình, nên hành động của bác trở thành sự trừng phạt chung cả gia đình và trừng phạt những người ngăn không cho bác thực hành công lý tự hành hạ tinh thần và thân thể của mình kiểu này
Có lẽ cái bác cần thời gian để được sống một mình, sống với chính mình, không cần ai quan tâm, ai giúp đỡ, ai chăm sóc, mà bác cũng chẳng cần giúp đỡ, quan tâm, chăm sóc ai.
Tôi thấy trên đời này không ai có thể chống lại được hiện thực, chân lý, Trời, Phật, Thượng đế và cái chết, cũng không ai có thể chữa lành được cho những người muốn chống lại những thứ lớn lao đến như vậy.
Chấp nhận sự thật như nó chính là và buông xuôi tưởng như dễ hơn rất nhiều so với chống đối, vì chống đối thì cần một đối tượng, còn buông xuôi lại chả cần có đối tượng nào cả, chỉ cần tự mình buông mà thôi. Chính vì thế buông xuôi trở nên cực kỳ khó khăn với nhưng người luôn luôn đóng vai – cha mẹ vĩ đại, vợ chồng vĩ đại, con cái vĩ đại, thày trò vĩ đại, huynh đệ vĩ đại, vua tôi vĩ đại, hoặc là một hình mẫu chính nhân quân tử, một hình mẫu phụ nữ đích thực … cho người khác công nhận, người khác ngưỡng mộ, người khác nhìn vào.
Việc gồng lên để đóng các vai vĩ đại và hình mẫu làm cho một người không còn có thể đơn giản chỉ là chính mình, không bao giờ đơn giản tự làm gì đó cho chính mình, mà họ luôn luôn phải là cái gì đó của ai đó, làm cái gì đó cho ai đó, họ cùng cái người cùng đóng vai này sẽ liên tục vào vai nạn nhân – thủ phạm, đúng – sai, công – tội trong mối quan hệ này.
Khi đã quá quen sống đóng vai, đến mức chẳng cần biết chính mình là ai, khi đã quá nghiện sống vì người khác, nhưng lại chẳng biết người khác là ai, một người không còn biết phải làm gì khi cái người khác ấy lại một mình ra đi vào cõi chết, bỏ lại mình loay hoay không biết diễn vai thế nào. Lúc này, họ sẽ một mình đóng vai thủ phạm vĩ đại hoặc nạn nhân vĩ đại, như trong trường hợp tôi kể. Đây là thế cục sớm muộn cũng sẽ xảy ra, bằng cách này hoặc bằng cách khác, cho những người cả đêm cả ngày, cả cuộc đời sống trong các vai diễn.
Đạo Phật là con đường buông bỏ những ám ảnh đóng vai quá đà, vì xuất thế và trung đạo là bản chất của đạo Phật.
KHÔNG CHẤP NHẬN MỘT CÁI CHẾT, NÊN TRẢ GIÁ BẰNG NHIỀU CÁI CHẾT
Một người mẹ sẽ khó chấp nhận cái chết của con mình nhất, vì vai người mẹ chính là sinh con và dưỡng nuôi con.
Tôi đã theo đuổi một ca chữa lành của một cây dòng họ hơn 10 năm với rất nhiều bệnh tật và ác mộng tà thuật, để rồi phát hiện ra rằng, gốc nghiệp của cây dòng họ này là tôi, người trong một kiếp sống đã nguyện làm tất cả để đứa con sơ sinh có số chết của mình không phải chết. Kết quả, đứa con tôi kiếp đó không chết được thật vì khi hồn đưa trẻ chưa kịp ra khỏi thân thì một cái hồn khác đã nhảy vào chiếm lấy cái thân này và từ đó bắt đầu một chuỗi ác mộng trên cây dòng họ. Cuối cùng, tôi nhận ra được cách duy nhất để cứu được cái cây dòng họ này là nguyện tử và nguyện tuyệt tự tất cả các nhánh của cây dòng họ này.
Nghĩa là để cứu một đứa bé sơ sinh có số chết không bị chết, cả trăm người trên các nhánh cây dòng họ này, qua 5 đời mà dính líu đến máu nhiễm độc của đứa trẻ sơ sinh không thể chết này phải chết, để chặn đứng cái tinh thần chiếm thân kia có thể di chuyển trên cây dòng họ theo đường máu, mà đã bị nhân ra như dịch bệnh sau khi máu của đứa trẻ không chết này bị nhiễm độc.
Bài học của một người không chấp nhận một cái chết bình thường của con mình là phải chấp nhận cái chết thê thảm của hàng trăm con cháu mình và cái chết thê thảm của chính mình trên cây dòng họ này để chữa lại sự cố chấp tranh đấu với cái chết ngu dại ngày xưa. Một cái giá quá đắt cho sự u mê và tham cầu.
Có thể vì nghiệp quả này mà trên con đường chữa lành, tôi có xu hướng chấp nhận cái chết, trân trọng cái chết, và liên tục buông xuôi khi thấy quá nhiều sân hận, tham cầu, chống đối dưới cái tên được gọi là chữa lành. Lựa con này của tôi hoàn toàn không phù hợp với xu thế chung về chữa lành ngoài xã hội, mà rất thiên về đấu tranh chống lại bệnh tật, còn nước còn tát, nỗ lực hết lòng, cố gắng hết sức, trăm sự nhờ thầy, có bệnh vái tứ phượng, quyết không từ bỏ ….
Một lần nữa tôi thấy mình hợp với sự buông bỏ của Phật giáo.
TỨ DIỆU ĐẾ
Sau khi lăn lộn với những ca chữa lành, mà chả thấy lành đâu, chỉ thấy toàn tranh đấu bệnh tật và sợ hãi cái chết, tôi nhận ra rằng nên đi theo Tứ diệu đế của đức Phật mà buông bỏ tham sân si với chữa lành.
Thái Tử Tất Đạt Đa (sau này trở thành Đức Phật Thích Ca Mâu Ni) từ bỏ chức vị Thái tử và rời bỏ gia đình hoàng gia và lối sống xa hoa để trở thành tu sĩ và bắt đầu cuộc hành trình đi tầm sư học đạo. Ngài đã bỏ ra năm năm tầm sư học đạo, sáu năm khổ hạnh rừng già, thực tập các phương pháp khổ tu theo kiểu Bà-la-môn đương thời là trừng phạt thân thể (danta) từ hạn chế ăn uống hoạt động đến hành hạ thân xác như tự đánh đập, tắm nước bùn, tắm phân bò để “sinh thiên” (svarga) mong kết quà thống nhất hiệp thông với thượng đế Brahma. Kiểu khổ tu này làm cho thân thể Đức Phật suy kiệt, thậm chí suýt chết mà không đem lại kết quả nào. Đức Phật đã từ bỏ lối tu này vì nhận ra rằng đó chỉ là pháp tu hình tướng, ép xác khổ hành dè nén dục vọng thân xác nên chưa thể đưa hành giả đến giải thoát (mokṣa). Đức Phật nhận bát cháo sữa từ nàng Sujata để hồi phục sức khỏe. Ngài chọn con đường Trung đạo — tránh xa hai cực đoan là hưởng thụ dục lạc và hành hạ thể xác.
Sau khi ngồi thiền và đắc đạo dưới gốc cây bồ đề, ngài đã có buổi giảng về Tứ Diệu Đế cho 5 anh em Kiều Trần Như.
Tứ Diệu Đế hay “bốn sự thật của những bậc thánh nhân” là
1. Khổ đế (dukkha) – sự không thỏa mãn, sự đau đớn, sự duy trì không bền vững
2. Tập đế (samudaya) – nguồn gốc, sự sanh khởi hay là “nguyên nhân” của Khổ (dukkha) khởi cùng với Ái (taṇhā).
3. Diệt đế (nirodha) – sự đoạn diệt, sự chấm dứt : Khổ có thể được chấm dứt hoặc được ngăn chặn bằng sự từ bỏ hoặc cắt đứt mối quan hệ với Ái
4. Đạo đế (magga) bát chánh đạo là con đường dẫn đến sự từ bỏ, sự đoạn diệt Ái (tanha) và sự giải thoát khỏi Khổ (dukkha).
Ở góc độ nào đó, việc luỵện tập khổ hạnh có thể là một truyền thống trong xã hội Ấn Độ cổ đại, mà theo đuổi những nguyên lý khá giống với Tứ diệu đế, và được kế thừa trong đạo Phật với hạnh đầu đà
Tứ Diệu Đế áp dụng trong chữa lành với hạnh đầu đà
1. Khổ đế : Không chấp nhận Sinh lão bệnh tử, chỉ muốn trẻ mãi, khoẻ mãi, vui vẻ mãi và sống lâu mãi.
2. Tập đế (samudaya) : Nguyên nhân khổ là sự Tham sân si này của mình, chứ không phải là Sinh lão bệnh tử, mà là chân lý cuộc đời
3. Diệt đế (nirodha) : Buông bỏ Tham sân si (không chống Tham sân si, chấp nhận Sinh lão bệnh tử (không chống Sinh lão bệnh tử)
4. Đạo đế (magga) : Hạnh đầu đà
Ngược lại với “Hạnh đầu đà”, cuồng si chữa lành với người sơ cơ cũng có thể rất nguy hiểm khi trực tiếp phá vỡ Tứ diệu đế
1. Không chấp nhận Sinh lão bệnh tử
2. Kích động Tham sân si : Tham (tham sống) sân (sợ chết), hận (hận bệnh và hận tất cả những gì được cho là nguyên nhân gây ra bệnh), si (si chữa bệnh, chữa lành)
3. Chống Sinh lão bệnh tử
4. “Đạo” chữa lành : Kích động tham sân si, kích động u mê bằng việc chống lại chân lý của sự sống, đưa con người vào bể khổ dính mắc, thay vì giúp con người tự giải thoát như con đường trung đạo của Phật giáo.
Có thể nói chữa lành kiểu hội nhóm đám đông những người sơ cơ như hiện nay lành ít dữ nhiều.
CHỮA LÀNH BẰNG PHẬT PHÁP
Trong trường hợp mà tôi đưa ra làm ví dụ, cách tốt nhất là người mẹ tuyệt vọng cuối cùng sẽ thể tự buông bỏ vai diễn quá đà của mình. Cái khó là vào sau sự kiện con gái bác mất, đau thương quá lớn khiến bác chưa thể tự buông bỏ được. Khi bất kỳ người thân nào muốn giúp đỡ, khuyên bảo bác thì họ sẽ lập tức rơi vào một quan hệ đóng vài nào đó với bác như chồng, cha, anh, em, con, cháu, và sẽ trực tiếp kích động lên trạng thái đóng vai của bác.
Một nhà sư đích thực là người ở vị thế tốt nhất để giúp được bác buông bỏ, tức nhiên với điều kiện bác tin tưởng vào Phật pháp và bác có cơ duyên gặp được một vị sư chân chính. Tôi dù là người sử dụng kỹ thuật thiền nguyên thuỷ của Phật giáo, nhưng không phải là người phù hợp với bác. Bác sẽ không bao giờ vào vai Phật tử xuất gia trước mặt tôi, vì với một người nhìn người theo vai như bác, tôi rõ ràng không thể đóng vai một nhà sư.
Câu hỏi là liệu bác có gặp được một nhà sư đích thực trong cái thời Mạt Pháp này ?
Xuất gia của Đạo Phật chính là một lễ xả vai gia đình. Nếu chưa xả được vai gia đình, lại còn thích đóng thêm những vai trò xã hội vĩ đại thì lễ xuất gia là vô hiệu về mặt bản chất mà chỉ tạo ra một người đóng vai chồng chất, trong khi lại không biết mình là ai. Dân chúng hiện nay rất nhiều người ham thích sử dụng các thuật ngữ duyên nghiệp, tham sân si của đạo Phật trong ngữ cảnh bản thân họ đang đóng vai. Đó cũng là vấn đề của đạo Phật trong Mạt Pháp.
Giải pháp tốt nhất của chúng ta nếu muốn tự chữa lành theo con đường Phật Pháp chính là tự mình quy y, tự mình buông bỏ, tự mình hành thiền, tự mình giác ngộ, tự mình giữ đạo.
CHỮA LÀNH VỚI HẠNH ĐẦU ĐÀ
Hạnh đầu đà (dhutanga) là một trong những phương pháp tu khổ hạnh của Phật giáo để tôi luyện thân tâm, trừ bỏ phiền não cấu trần. Người tu theo hạnh đầu đà chấp nhận những khó khăn trong các vấn đề ăn, mặc, ở, đi lại. Đầu đà (dhuta) nguyên nghĩa là “rũ sạch”. Đầu Đà là pháp hạnh chính thống của Phật giáo nguyên thủy và không phải lối tu hành xác mà Đức Phật khước bỏ. Tu hạnh Đầu đà rất gian khổ đòi hỏi hành gỉa ngoài nỗ lực ý chí phi thường còn cần phải có một thân thể kiên cường, cho nên rất ít hành giả có thể tu theo pháp môn này. Cho nên Đức Phật từng tán dương Tôn giả Ca Diếp (Mahākāśyapa) cả đời là một vị tu theo giáo pháp Đầu đà (và sau đó trao truyền “chánh pháp nhãn tạng” cho Ca Diếp như truyền thừa Thiền tông tin tưởng)
Khi sang Myanmar, ở thiền viện Shwe Oo Min, tôi gặp một người có một khối u trong não. Đây là một trong những người rất tập trung hành thiền, không quan tâm đến các việc khác. Lúc đó tôi quan sát khối u trong não người này và khá ngạc nhiên sao người này vẫn có thế đủ sức ngồi đây thiền. Tôi nhận ra người này khi thiền có quán tính thiền định, bằng cách căng thẳng và đè nén cả thân thể và tâm trí. Tôi không biết quán tính có thể phải là một trong những nguyên nhân chính gây ra căn bệnh u não này không, nên có trao đổi với người này rằng người này nên thả lỏng hơn. Người này không quan tâm đến việc tôi nói cái gì. Tôi suy nghĩ có nên nói cho người này rằng khối u quá lớn này trong tương lai gần không thể đè nén được nữa bung ra và khi đó người đó sẽ chết hoặc rơi vào tình trạng hôn mê, không còn ngồi đây thiền được nữa. Nhưng tôi cứng miệng không thể nói được mà tôi biết với tính cách rất cương của người này, mấy lời nói vo ve của tôi chỉ làm phiền sự yên tĩnh cuối đời của người bệnh.
Rồi thiền viện này, tôi sang thiền viện của thiền sư Ottamathara, nơi có rất nhiều người già, trẻ nhỏ, và hàng năm đều có nhiều người bệnh và người chết ở thiền viện. Thiền sư Ottamathara cho phép bất kỳ gia đình vô gia cư nào, được ở lại thiền viện, nơi họ được cung cấp đồ ăn và chỗ ở, chỉ với điều kiện là họ phải hành thiền. Đó cũng là một trong các lý do tỷ lệ ốm và chết ở thiền viện này rất cao và thiền viện thiếu chỗ ở nghiêm trọng nên phòng ở của thiền sinh khá chật với nhiều giường tầng như phòng bệnh viện. Khi tôi ở thiền viện, có hai ba gia đình vô gia cư đang quây lại trên một cái chiếu, quần áo rách rưới, với vài túi đồ bẩn thỉu ở bên cạnh. Các gia đình này phải trải qua thời gian “thử thách” một tuần ở hành lang tạm bợ này, trước khi được sư thày tiếp nhận chính thức. Họ cứ nằm ngồi ở đây, rảnh thì thiền, không ai dạy họ thiền là như nào cả, không ai giảng pháp cho họ cả, họ cứ cảm thấy thế nào là đúng thì làm như thế. Cơ bản thiền sinh chính thức cũng không được giảng giải gì cả. Khẩu hiệu của thày Ottamathara là “thiền đi”, ai muốn thiền, ai cần thiền, thì cứ thiền đi.
Hồi đó chưa hiểu về hạnh đầu đà là một truyền thống được chấp nhận rộng rãi trong Phật giáo nguyên thuỷ ở Myanmar, nơi truyền thống khất thực hành vẫn được duy trì, tôi sốc rất nặng. Cho đến bây giờ cực kỳ cảm phục sự dũng cảm đến phi thường và tinh thần hành động, tinh thần nhập thế của thiền sư Ottamathara và coi việc gặp gỡ với thiền sư Ottamathara là một sự kiện lớn của cuộc đời tôi.
Sau này, có khi trải qua nhiều ca chữa bệnh ung thư, tôi nghĩ lại về người bệnh có khối u tại não tại thiền viện Shwe Oo Min, thì mới hiểu ra người ấy có thể đã lựa chọn đúng đắn khi hoàn toàn chấp nhận cái chết, buông bỏ tranh đấu với bệnh tật, để dành trọn phần cuối cuộc đời cho hành thiền.
Nếu người này đi theo con đường chạy chữa hao tốn cực kỳ nhiều tiền bạc và công sức phổ biến ngoài xã hội, có thể cũng chẳng sống được lâu hơn, có thể cũng chẳng bớt đau đớn hơn, có thể cũng chẳng bớt mỏi mệt hơn, chỉ là lựa chọn theo thói thường thì ban đầu có vẻ dễ dàng hơn. Dù lựa chọn chạy chữa theo sức ép gia đình xu thế xã hội hay lựa chọn hành thiền một mình, thì đến cuối cùng chết vẫn là một trải nghiệm cá nhân, ai đớn đau chỉ người đó biết và ai cũng đi qua cái chết có một mình.
Ở Myanmar lúc đó, lựa chọn này của người ấy sẽ dàng dàng được chấp nhận, nhưng nếu người này ở Việt Nam giữa gia đình, chắc chắn sẽ không được yên ổn như thế, thế nào gia đình và xã hội cũng gây sức ép bắt người này phải chạy chữa thế này hoặc thế kia, dù người ấy có muốn hay không.
Người bệnh có khối u trong đầu đã lựa chọn tu theo hạnh đầu đà, dù người này không làm đúng theo bộ quy định về hạnh đầu đà được đưa ra trong các kinh sách, nhưng tinh thần của người ấy rõ ràng là như vậy. Người này từ bỏ chữa trị và cả chữa lành, chỉ hành thiền mà thôi.
Nghĩ lại, dù là một nhà chữa lành, mỗi khi bị bệnh tôi cũng chẳng làm gì được hơn người bệnh năm xưa tôi gặp ở thiền viện Shwe Oo Min. 2025 là năm tôi ốm nặng và ốm dài nhất, với trận ốm kéo dài 4 tháng, nhiều hôm tôi phải nằm liệt hoặc chỉ đi lại từ nhà ra sân, rồi lại từ sân vào nhà, ban ngày tôi tự lo ăn uống và ban tối thì thiền 3-4h mỗi ngày. Tôi vẫn thiền chữa lành, nhưng phần thiền chữa lành nằm trong đạo hạnh đầu đà.
Tôi đã từng nghĩ nghĩ tôi không có thân thể mạnh khoẻ, tôi không mạnh về thiền định, tôi chỉ mạnh về thiền quán, tôi thiên về nhu hơn cương, như vậy hạnh đầu đà không hợp với tôi, nhưng khi nghĩ lại về chính trải nghiệm bệnh tật của chính mình, tôi thấy mình cũng vẫn đi theo hạnh đầu đà theo cách riêng của mình. Khi bị bệnh tôi chỉ nghỉ dưỡng và thiền. Thiền giúp bệnh tật thuyên giảm được phần nào đó, nhưng chủ yếu thiền cũng giúp tôi thấu hiểu bệnh tật hơn, để chấp nhận bệnh tật tốt hơn. Hoang tưởng của nhiều người là họ cho rằng việc ngồi thiên giúp chữa bệnh nan y, và đẩy lùi cái chết. Cuối cùng thì tôi đã làm y hệt như người bệnh nhân ung thư não kia.
Tôi cũng không ngờ cuối cùng tôi lại thấy mình giống nhất với một người dường như rất xa lạ và rất ngược với tôi ở thiền viện Shwe Oo Min. Bệnh gì không quan trọng. Ở nhà hay ở thiền viện không quan trọng. Thiền định hay thiền quán không quan trọng. Quan trọng là chúng tôi có cùng tâm thế, chúng ta cùng đi trên con đường của hạnh đầu đà.
Hạnh đầu đà là một con đường chữa lành mà đức Phật Thích Ca đã mở sẵn ra cho các Phật tử và cư sỹ tại gia, thông qua trải nghiệm tu tập của chính mình năm xưa. Chắc chắn hạnh đầu đà đã, đang và sẽ cứu được nhiều người, trong đó có tôi, bệnh nhân u não ở Shwe Oo Min và nhiều người ở thiền viện của thiền sư Ottamathara. Cứu ở đây không phải là cứu khỏi bệnh hay cứu khỏi chết, mà cứu chính mình và người thân khỏi những bể khổ trầm luân của con đường mà đám đông gọi là chữa lành. Ai cuối cùng cũng bệnh, ai cuối cùng cũng chết, vậy chết sao cho để giữ được thế cục của cả cuộc đời và chết sao cho trọn vẹn một con đường tu đạo.

