![]()
CÁC DÂN TỘC
Tây Nguyên là nơi sinh sống của hơn 50 dân tộc
– Ngữ hệ Nam Đảo: Gia Rai (đông nhất), Ê Đê, Rhade, Chu Ru, Raglai, Chăm,
– – – Churu (Chu Ru, Chơ Ru, Kru, Thượng) : tập trung chủ yếu tại tỉnh Lâm Đồng (đặc biệt là huyện Đơn Dương, Đức Trọng) và một số ít ở Ninh Thuận, Bình Thuận. Nổi tiếng với nghề làm ruộng và chăn nuôi. Văn hóa đặc trưng là mẫu hệ, nổi bật với lễ hội “bắt chồng”. Có quan hệ rất sâu sắc với người Chăm và người Cơ Ho.
– – – Ra Glay : Ở: Người Ra Glai ở trong vùng núi và thung lũng có độ cao từ 500-1000m, tập trung ở các huyện Ninh Sơn (Ninh Thuận), Bắc Bình (Bình Thuận) và một số nơi thuộc Phú Yên, Khánh Hoà, Lâm Ðồng. Trước đây, họ ở nhà sàn. Hiện nay, nhà đất đã khá phổ biến. Những căn nhà thường có dạng hình vuông, chỉ rộng chừng 12-14m2. Một vài nhà lớn hơn, có hình chữ nhật. Kỹ thuật lắp ghép rất đơn sơ, chủ yếu sử dụng chạc cây và dây buộc. Mái lợp bằng tranh hoặc lá mây. Vách được che bằng phên đan hay sử dụng đất trát. Sinh đẻ: Trước và sau khi sinh nở, phụ nữ Ra Glai kiêng một số thức ăn, không nói tên một vài loài thú và tránh làm những công việc nặng nhọc. Họ được chồng dựng cho một căn nhà nhỏ ở bìa rừng để sinh đẻ. Họ đẻ ngồi và tự mình giải quyết các công việc khi sinh. Một số nơi, sản phụ được sự giúp đỡ của một người đàn bà giàu kinh nghiệm. Khi sinh xong, người mẹ bế con về nhà và khoảng 7 ngày sau họ tiếp tục làm các công việc như bình thường.
– – – Gia Rai (Jrai/Jarai) : Tập trung đông nhất ở Gia Lai. Là dân tộc thiểu số đông nhất ở Tây Nguyên. Người Gia Rai, còn gọi là Jarai (Jrai) hay Ană Krai (con của rồng), hay Ană Pô Grei, Anak Drai hay Jarai-từ gốc: con cái của Ga Rai, người Gia Rai, Gia Lai theo phiên âm tiếng Việt), có các nhóm phương ngữ Jrai Chor, Jrai Mơthur, Jrai Hdrung, Jrai Tơbuan, Jrai Arap. Người Gia Rai là một nhánh lớn của tộc người Rang Đê cổ (Rang Đê gồm hai dân tộc Êđê và Gia Rai ngày nay) được ghi chép khá nhiều trong các bia ký Chăm Pa, sự tấn công của đế quốc Mông Cổ, sau này là nam tiến của người Việt đã đẩy bộ phận người Chăm Pa lên vùng bình nguyên Cheo Reo, hòa hợp với người Êđê cổ tạo ra nhóm tộc người tự gọi là Ană Jrai Hơbai, tức con cái của Gia Rai. Trong văn hóa và tính cách của người Gia Rai có nhiều yếu tố Chăm Pa trung đại hơn so với người Êđê vốn chịu ảnh hưởng đứt gãy của yếu tố Lâm Ấp Chăm Pa cổ đại. Người Gia Rai còn giữ được yếu tố ngôn ngữ Rang Đê cổ đó là ngôn ngữ đa âm hơn so với người Êđê. Vua Nước, Vua Lửa, Vua Gió và nhà nước Jrai liên quan đến người Jrai.
– – – Ê Đê: Tập trung chủ yếu ở Đắk Lắk. Người Êđê (tiếng Êđê: Anak Rađê, Anak Đê, Đê-Ga, người Raday (Rhade).
– – – Người Rang Đê hay Đêgar, theo tiếng Phạn Ấn Độ là Radaya, là một khối tộc người nói tiếng Ê Đê, Jarai thuộc Ngữ tộc Malay-Polynesia. Người Rang Đê được cho là tổ tiên của người Ê Đê và Jarai, đã được ghi chép khá nhiều trong các bia ký Chăm Pa. Danh xưng tộc người RangĐê, Radaya ngày nay vẫn là danh xưng mà người Chăm vẫn còn dùng để gọi 2 tộc người Êđê và Jarai vốn có nguồn gốc chung từ nhóm tộc người Rang Đê cổ hay còn gọi bằng tiếng Phạn là người Radaya. Theo phỏng đoán, rất có thể sự tấn công của đế quốc Mông Cổ, sau này là Nam Tiến của người Việt đã đẩy bộ phận người Chăm Pa lên vùng bình nguyên Cheo Reo hòa hợp với người Rang Đê cổ tạo ra tình trạng phân li nhóm tộc người thành Êđê (Rhade) Và Jarai sau thế kỷ 15, thời kỳ này còn gọi là thời kỳ Phara có nghĩa là chia li, chia rời. Người Jarai sau khi Chămpa thất thủ Vijya đã hình thành nên nhà nước Nam Bàn sơ khai.
– – – Chăm
Truyền thuyết của người Êđê kể lại rằng: Một người thủ lĩnh (Krung) từ Ấn Độ tên là Radaya (Y-Đê) đến xứ sở của công chúa mẹ Xứ Sở tên là Nagar (H-Gar). Radaya đã chinh phục được xứ sở của Nagar sau đó kết hôn với công chúa mẹ Xứ sở Nagar được phong làm Krung. Con cháu hậu duệ của họ được gọi là Anak Kudaya Nagar sau này rút gọn âm lại thành Anak Đê Gar có nghĩa là con cháu của thủ lĩnh Ấn Độ Kudaya (Y-Đê) với Công Chúa xứ sở Nagar (H-Gar).
– Ngữ hệ Nam Á (nhóm Môn-Khmer): Các dân tộc thuộc nhóm ngôn ngữ Môn-Khmer (21 dân tộc) trong đó Khu vực miền Bắc (5 dân tộc): Khơ Mú, Mảng, Kháng, Xinh Mun, Ơ Đu (chủ yếu ở Tây Bắc); Khu vực Trường Sơn – Tây Nguyên: Ba Na, Brâu, Bru-Vân Kiều, Co, Cơ Ho, Cơ Tu, Giẻ-Triêng, Hrê, Mạ, M’Nông, Rơ Măm, Tà Ôi, Xơ Đăng, Xtiêng.; Khu vực Đồng bằng sông Cửu Long: Người Khmer.
– – – Ba Na: Tập trung nhiều ở Gia Lai, Kon Tum. Là dân tộc đông dân nhất trong nhóm Môn Khmer ở Tây Nguyên. Bana nghĩ là người ở núi.
– – – B’Râu: Dân tộc rất ít người ở Kon Tum.
– – – Rơ Măm: Dân tộc rất ít người ở Kon Tum.
– – – Giẻ Triêng: Cư trú ở Kon Tum.
– – – Xơ Đăng: Cư trú chủ yếu ở Kon Tum.
– – – M’nông: Cư trú chủ yếu ở Đắk Nông, Đắk Lắk.
– – – Mạ: Cư trú chủ yếu ở Lâm Đồng, Đắk Nông.
– – – Cơ Ho: Tập trung đông ở Lâm Đồng.
Trong hệ thống tín ngưỡng của người Ba na, sự sống hiển hiện như một thể thống nhất và là sự sắp đặt từ bàn tay của các vị thần linh (yang). Trong đó, Bok Kei Dei và Yă Kuh Keh là cặp đôi thần linh tối cao -là người sáng tạo ra tất cả và coi sóc con người, mùa màng. Ngoài ra, họ còn thờ thần Rừng (yang Bri), thần Đất (yang The), thần Đá (yang Tmo), thần Núi (yang Kông),…
– Các dân tộc thiểu số di cư (chủ yếu từ phía Bắc) : Nùng, Tày, H’Mông, Thái, Dao, Cao Lan, Ngái.
Nguồn
– Cộng đồng người Thượng trên cao nguyên miền Trung
– Nhà Tây Sơn và Cao nguyên Trung phần
CHẾ ĐỘ MẪU HỆ
Hầu hết các dân tộc thiểu số bản địa vùng Tây Nguyên theo chế độ mẫu hệ
– Ngữ hệ Nam Đảo : Tất cả các dân tộc thuộc ngữ hệ Nam Đảo (Gia Rai (đông nhất), Ê Đê, Rhade, Chu Ru, Raglai, Chăm) đều theo Mẫu hệ
– Ngữ hệ Môn-Khơme : Churu, Mạ, M’nông, Bana, Koho, Rmăm
Người Cơ Ho : Trong xã hội truyền thống của người Cơ Ho đã tồn tại hai hình thức gia đình theo chế độ mẫu hệ: gia đình lớn và gia đình nhỏ. Người phụ nữ đúng vai trò chủ động trong hôn nhân, sau hôn lễ, người đàn ông về nhà vợ ở (nếu gặp trường hợp gia đình hiếm muộn thì người phụ nữ vẫn có thể ở nhà chồng), con cái tính dòng họ theo mẹ, con gái là người thừa kế.
Đặc điểm mẫu hệ Tây Nguyên
– Con cái theo họ mẹ.
– Quyền thừa kế tài sản (đặc biệt là nhà cửa, đất đai) ưu tiên truyền cho người con gái.
– Người phụ nữ chủ động trong hôn nhân. Bắt chồng.
– Trai đi lấy vợ và sau khi cưới thường về nhà vợ ở (cư trú bên vợ).
– Người phụ nữ được tôn trọng, giữ vai trò quan trọng trong việc quản lý, chia bôi lương thực, thực phẩm và các công việc nội bộ gia đình
Dù theo chế độ mẫu hệ, nhưng trong xã hội Bana cổ và Tây Nguyên nói chung, các chức sắc cao nhất trong buôn làng như già làng, trưởng bản vẫn thường là người đàn ông (cậu hoặc anh trai mẹ). Đây là mô hình “mẫu hệ” nhưng vẫn có “phụ quyền” (nam quyền), khác với chế độ mẫu quyền (phụ nữ nắm quyền lực chính trị hoàn toàn).
CHẾ ĐỘ BÌNH ĐẲNG NAM NỮ – NGƯỜI SÊ ĐĂNG
Người Xơ Đăng, Xê Đăng, Sedang cư trú tập trung ở tỉnh phía bắc Tây Nguyên, tâp trung ở Kontum, ít hơn Gia Lai, Đaklak và các tỉnh giáp với ba tỉnh này về phía biển, tập trung ở Quảng Ngãi và Quảng Nam.
Các nhóm người
– Người Xơ Teng hay Xơ Đeng là nhánh lớn nhất của dân tộc Sê Đăng, ngôn ngữ là tiếng Xơ Teng. Họ cư trú ở huyện Ngọc Hồi, Đắk Tô, Đắk Hà và Tu Mơ Rông.
– Người Hà Lăng hay Selang là một nhánh của dân tộc Sê Đăng, dân số khoảng 20,000 người, ngôn ngữ là tiếng Hà Lăng. Họ cư trú chính ở huyện Tu Mơ Rông và huyện Đăk Glei, Kon Tum.
– Người Mơ Nâm nói tiếng Mơ Nâm, là một nhánh của dân tộc Sê Đăng, họ chủ yếu cư trú tại huyện miền núi Kon Plong, tỉnh Kon Tum.
– Người Ca Dong nói tiếng Ca Dong, sinh sống lâu đời tại vùng chân núi Ngọc Lĩnh ở hai huyện Nam và Bắc Trà My thuộc tỉnh Quảng Nam và huyện Sơn Tây tỉnh Quảng Ngãi.
– Người Sơ Drá hay S’drá nói tiếng Sơ Drá, sinh sống ở Kon Tum hiện nay có khoảng 17,424 người, sống tập trung ở các xã Đăk Ui, Ngọk Réo (huyện Đăk Hà) và Đăk Kôi, Đăk Tờ Lùng (huyện Kon Rẫy).
– Ngoài ra còn có nhóm Kon H’ring sinh sống tại phía Tây Nam thành phố Kon Tum.
– Nhóm Ta Kua (Kơ Tua) tại Tu Mơ Rông và Nam Trà My, Quảng Nam.
Tiếng Xơ Đăng là ngôn ngữ thuộc Nhóm ngôn ngữ Môn-Khmer của ngữ hệ Nam Á.
Người Xơ Đăng có quan hệ gần gũi với người Giẻ Triêng, người Co, người Hrê và người Ba Na.
Người Xơ Đăng (hay Xê Đăng) ở Tây Nguyên không theo chế độ mẫu hệ rõ rệt như các dân tộc bản địa Tây Nguyên khác
– Tên của người Xơ Đăng không có họ kèm theo, nhưng có từ chỉ định giới tính: nam là A, nữ là Y (ví dụ như là A nhong, Y huong)
– Tục “bắt chồng” và “bắt vợ”: Khác với các dân tộc mẫu hệ chỉ con gái đi bắt chồng, con trai Xơ Đăng có thể “bắt vợ” (lấy vợ về nhà mình) và con gái cũng có thể “bắt chồng” (lấy chồng về nhà mình).
– Cư trú luân chuyển ở nhà chồng hoặc nhà vợ: Sau lễ cưới, đôi vợ chồng ở luân chuyển với từng gia đình mỗi bên ít năm, rất ít trường hợp ở hẳn một bên.. Sau khi kết hôn, đôi vợ chồng có thể ở nhà vợ (cư trú bên vợ) hoặc ở nhà chồng (cư trú bên chồng), tùy thuộc vào thỏa thuận của hai bên gia đình.
– Người Xơ Đăng có sự đối xử bình đẳng giữa nam và nữ, không phân biệt giữa con riêng và con chung, con đẻ và con nuôi, con của mình và con của anh em họ. Quan hệ làng bản khá đoàn kết, có tục kết nghĩa với người cùng tuổi hoặc cùng tên. Con cháu cùng họ không được phép kết hôn với nhau.
Các phong tực đặc trưng
– Cưa răng : Trai gái lớn lên, sau khi đã cưa răng theo phong tục (ngày nay ít người còn theo phong tục này), được tìm hiểu, yêu nhau.
– Lễ đâm trâu : Trâu là con vật rất đặc trưng của người Sêđăng. Người Xơ Đăng làm rẫy là chính. Nhóm Mơ-nâm làm ruộng nước nhưng không cày bừa mà lại dùng sức trâu, sức người để giẫm nát đất.
Nhà ở :
– Sống quần cư thành làng, già làng là người quan trọng nhất
– Nhà rông
Địa táng ở nghĩa địa chung
Nghề nghiệp
– Trồng lúa : Người Xơ Đăng làm rẫy là chính. Nhóm Mơ-nâm làm ruộng nước nhưng không cày bừa mà lại dùng sức trâu, sức người để giẫm nát đất.
– Chăn nuôi : Họ chăn nuôi gia súc, gia cầm, săn bắn, hái lượm, đánh bắt cá,
– Đan lát, dệt,
– Nhóm Tơ-dra có nghề rèn từ quặng sắt rất phát triển và nổi tiếng.
NGÔN NGỮ – NGƯỜI BANAR
Tây Nguyên có 2 nhóm ngôn ngữ bản địa chính là Môn-Khmer & Nam Đảo. Trong đó ngữ hệ Môn Khmer lại chia thành các nhóm ngôn ngữ sau
1. Nhóm Khmer
Ở Việt Nam, nhóm này có hai ngôn ngữ thuộc các dân tộc thiểu số là:
Tiếng Khmer (Nam Bộ)
Tiếng Rơmăm (Sa Thầy – Kon Tum)
Cả hai tiếng này cũng có mặt ở Campuchia và Lào
2. Nhóm Bahnar
Đây là nhóm ngôn ngữ thuộc nhánh Mon-Khmer có nhiều ngôn ngữ thành phần nhất ở Việt Nam. Ngôn ngữ các dân tộc thiểu số ở Việt Nam thuộc nhóm Bahnar được chia thành hai tiểu nhóm là:
2.1. Tiểu nhóm Bahnar Nam, gồm:
1. Tiếng Kơ Ho 3. Tiếng Xtiêng
2. Tiếng Mnông 4. Tiếng Mạ 5. Tiếng Chơ Ro
Cư dân nói các tiếng này cư trú ở các tỉnh Nam cao nguyên Trung Bộ và vùng Đông Nam Bộ, và họ cũng có mặt ở lãnh thổ Campuchia. Lãnh thổ của tiểu nhóm này bị lãnh thổ của các cư dân nói tiếng Nam Đảo xen kẽ khiến nó tách rời với lãnh thổ của tiểu nhóm Bahnar Bắc.
2.2. Tiểu nhóm Bahnar Bắc, gồm:
1. Tiếng Ba Na 3. Tiếng Hrê 5. Tiếng Co
2. Tiếng Xơ Đăng 4. Tiếng Gié Triêng 6. Tiếng Brâu
Các ngôn ngữ này phân bố trên lãnh thổ các tỉnh phía Bắc cao nguyên Trung Bộ, Lào và Campuchia. Trong các ngôn ngữ này, tiếng Ba Na có số người nói đông nhất (136.859 người – năm 1989), và tiếng Brâu có số người nói ít nhất (231 người).
3. Nhóm Katu
Ở về phía Bắc nhóm Bahnar, nhóm Katu có các ngôn ngữ sau là ngôn ngữ các dân tộc thiểu số ở Việt Nam:
1. Tiếng Bru-Vân Kiều 2. Tiếng Cơ Tu 3. Tiếng Tà Ôi
TÊN HỌ
Thuở xa xưa, nhiều tộc người tại chỗ ở khu vực Trường Sơn – Tây Nguyên không có họ.
Thời nhà Nguyễn, theo TS. Nguyễn Đăng Vũ, dựa vào các suất tráng đinh khi lập danh bộ trong mỗi làng xã, đặt cho người Hrê, Ca Dong họ Đinh.
Các tộc người khác như Bâhnar, Xê Đăng cũng không có họ, nhưng để phân biệt nam thì thêm chữ A (A Huy, A Lâm…), nữ thêm chữ Y (Y Đai, Y Nhok…) trước tên.
Người Kơ Ho, nữ thêm Ka (Ka Thiếu, Ka Mai…), nam thêm K’ (K’Wẻ, K’Bôt…). Tuy nhiên, một số nhóm địa phương Kơ Ho cũng có họ như Kra Zan, Păng Ting… Tương tự vậy, có nhóm địa phương M’nông Gar mang họ N’Tơr, Bing… Một số vùng M’nông Preh gọi tên kèm theo bon (buôn) hoặc tên mẹ (Giang bon Snar, Thịnh bon Jok Ju, Tiang kon Mai…). Căn cứ vào cách gọi theo tên mẹ, mà người M’nông nhóm Preh còn có gia phả bằng văn vần (kuach jao) để không kết hôn cùng một dòng họ.
Người Êđê có hai dòng họ chính là Niê và Mlô, mỗi dòng có thêm các dòng phụ chỉ để khác đi khi tách khỏi một cộng đồng (Niê Siêng, Êban…) nhưng vẫn thống nhất trong tất cả các nhóm địa phương để phân biệt giới tính trước tên như: con trai thêm Y (Y Ngông Niê Kdăm, Y Wang Mlô Dun Du…) và nữ thêm H’ (H’Nghia Êban, H’Blum Buôn Yă). Người Êđê Bih có thêm các họ Buôn Krông, Kmăn (Y Tuyn Kmăn, H’Jam Buôn Krông…), đều đặt họ ở phía sau giới tính và tên gọi.
Tương tự, người J’rai ngoài những dòng chính là Nay (Nay Phin, Nay Der, Nay Loét, Nay H’Wil…), Ksor (Ksor Ní, Ksor Phước…), Kpă (Kpă Toan, Kpă Nguyên…), Siu (Siu Pơi, Siu Thanh…), Rchom (Rchom Jơn, Rchom Tih…) thì còn có các nhánh R’o, Ra Lan, Rma… (các dòng họ Êđê, J’rai tách ra đều có sự tích) cũng dùng Y và H’ để phân biệt giới tính.
Khi đạo Cơ đốc xâm nhập vào Tây Nguyên, các vùng đã chuyển đổi tín ngưỡng có thêm tên Thánh như Mari Thoai, Giôdep Thanh…
Năm 1954, những học sinh từ Tây Nguyên tập kết ra Bắc, khi lập hộ khẩu ở Trường Cán bộ dân tộc miền Nam, công an nhất quyết ai cũng phải có họ. Vì vậy cán bộ, học sinh thích theo họ ai thì tự đặt cho mình và đăng ký như thế. Nên mới có bạn tôi người Hrê nhưng mang họ của người Êđê là Knơng Y Hia, bạn Bâhnar mang họ Siu (Siu Phích, Siu Ơch…) của người J’rai…
Khi lập sổ bộ ở miền Nam, chính quyền Ngô Đình Diệm của Việt Nam Cộng hòa thấy người M’nông vùng Gia Nghĩa không có họ, lại thấy hay cắm lông chim trên vành khăn đội đầu nên đặt cho họ Điểu (Điểu Kâo, Điểu Glung, Điểu Náp…).
Từ năm 1969 đến nay, đông đảo người Cor ở Trà Bồng, người Vân Kiều ở Quảng Bình, người Pa Cô ở Thừa Thiên – Huế đổi thành họ Hồ (theo họ Chủ tịch Hồ Chí Minh), người Hrê ở Ba Tơ, Sê Đăng ở Kon Tum đổi thành họ Phạm (theo họ Thủ tướng Phạm Văn Đồng).
Sau năm 1975, một lần nữa lập hộ khẩu, cơ quan công quyền buộc tất cả phụ nữ M’nông ở Đắk Nông phải thêm chữ Thị để phân biệt giới tính (Thị Mai, Thị Bạch…).
Bên cạnh đó, do các cuộc hôn nhân ngoài tộc người ngày càng nhiều, nên con cái tộc người Tây Nguyên có thêm các họ của người miền xuôi như Nguyễn, Trần (Nguyễn Thị Sửu – Kê Sửu, Trần Y Kiều Diễm – Diễm Mlô…). Sau này, bố mẹ có sự hiểu biết hơn, trân trọng dòng họ mình hơn, các cháu mang cả hai họ (Vi Hoàng Niê kdăm, Nguyễn Phong Lan Mlô Dun Du…), thật là những cái tên đẹp mà vẫn định được ra nguồn gốc.
Chỉ sơ sơ vài điều như vậy, để thấy cách làm khiên cưỡng cũng như không theo một quy củ nào của việc áp đặt hay tự thân hình thành các “dòng họ” mới của người Tây Nguyên.
Tách ra một sự việc nhỏ, để muốn nói đến một điều lớn hơn: Văn hóa cổ truyền của mỗi tộc người là nét đẹp tiêu biểu, đặc trưng của vùng đất và con người nơi ấy, cần luôn được trân trọng và bảo tồn. Đừng nên vì bất cứ ý tưởng cá nhân nào, thiếu sự hiểu biết về văn hóa của vùng đất, mà áp đặt sự đổi thay không phù hợp với truyền thống, tạo nên những sự dở khóc dở cười khi thực hiện những thủ tục hành chính. Huống hồ tên, họ không chỉ là định danh của một con người, mà còn là tiêu chí để hiểu biết về gia đình, dòng họ, thậm chí là nguồn cội.
VUA NƯỚC (THUỶ XÁ) – VUA LỬA (HOẢ XÁ) – VUA GIÓ
– Vua (Patao)
Vua Nước (Patao Ea/Ya/Ia) ở xứ sở Nước (Thuỷ Xá), vua Lửa (Patao Apui) ở xứ sở Lửa (Hoả Xá), vua gió (Patao Angin) ở xứ sở Gió là các thủ lĩnh tinh thần của người Jrai – Eđê nói riêng và các bộ tộc Tây Nguyên nói chung.
“Người Jrai chỉ gọi họ là Ơi (ông). Nhưng nhiều nước khác lại quen gọi sai họ thành Pơtao (vua), như người Khmer gọi họ là Samdet, Lào gọi Sadet, Pháp gọi Roi, Anh gọi King, VN xưa gọi là Hỏa Xá, Thủy Xám nay gọi là Vua Lửa, Vua Nước, Vua Gió”.
– Xứ (Xá)
Thủy Xá – Hỏa Xá (chữ Hán: 水舍 – 火舍, tiếng Lào: ກະສັດໄຟ – ກະສັດນ້ໍາ, tiếng Khmer: ស្តេចភ្លើង – ស្តេចទឹក។, tiếng Gia Rai: P’tao Ia – P’tao Apui, tiếng Ê Đê: M’tao Êa – M’tao Pui) là tên gọi trong sử ký của triều Nguyễn để chỉ tiểu quốc Jrai của người Jrai – Eđê trên cao nguyên Pleiku từ thế kỷ 15 đến cuối thế kỷ 19. Ngoài ra, còn 1 vị Pơtao ít được biết đến nữa là Pơtao (Gió), với Xứ gió của ông.
Thủy Xá và Hỏa Xá là hai tiểu quốc chồng chập lên nhau về không gian, nhưng tách rời nhau về thủ lĩnh, không giống các tiểu quốc Chămpa, tách rời nhau về không gian, và chung mẹ xứ sở là bà Po Nagar.
Nước Nam Bàn-Champa tách ra khỏi Chămpa thời Lê Thánh Tông 1471, sau này là hai nước Thủy Xá (Patao Ea) và Hỏa Xá (Patao Apui), ngày nay là đất các tỉnh Kon Tum, Gia Lai, Daklak.
– Quan hệ với các triều đình người Việt
Mặc dù rất mộc mạc, nhưng vua Nước, vua Lửa có ảnh hưởng rất rộng trong các tộc người Jrai, Bahnar, Ê đê, Mơ Nông… trong hàng trăm năm và thường xuyên giao hảo với nhiều triều đại của người Khơ Me, người Lào, người Chăm, người Việt…
Theo ghi chép của Lê Quý Đôn trong Phủ biên tạp lục: “Hai vị Thủy Vương và Hỏa Vương nước Nam Bàn, nước này có 50 làng lệ thuộc, trong đó có núi Bà Nam. Núi rất cao và lớn, làm trấn sơn cho một phương Thủy Vương ở về phía đông núi Bà Nam, còn Hỏa Vương ở về phía tây núi, có địa phận riêng và làm nhà gác bằng gỗ để ở, bộ hạ có đến mấy trăm người. Khi vua đi đâu thường cưỡi voi, có hơn chục người tùy tùng đi theo, đến làng nào thì đánh ba hồi chuông, dân làng đều ra, họ làm một cái lều tranh cho vua ở (vì kiêng không vào nhà dân). Họ dâng lên vua những thứ như: nồi đồng, tấm vải trắng, hoặc một cây mía, một nải chuối chẳng hạn. Vua cứ việc nhận lấy các lễ vật ấy không nề hà gì. Thu nhận lễ vật cũng không ghi chép gì, xong thì nhà vua đi. Hai Vương nước da ngâm đen nhưng vợ và thiếp thì người nào cũng có nhan sắc đẹp đẽ, họ đều bận xiêm áo của Champa.”
Theo tài liệu của triều Nguyễn, con cháu của họ Nguyễn vào Quảng Bình lập nghiệp, giữa thế kỷ 16 chúa Nguyễn vẫn có quan hệ với Patao Apui (vua Lửa), cứ vài năm một lần Patao Apui lại cho người về triều đình cống sản vật. Chúa Nguyễn cũng đã phong cho Patao Apui một chức tam phẩm võ quan. Khi nhà Nguyễn lên ngôi vẫn tiếp tục quan hệ. “Vua Minh Mạng thứ 12 (1851) cho sứ bộ Thủy Xá (vua Nước) đến kinh đô dâng cống và đồng thời tặng Thủy Xá: gấm nhà Tống 2 cây, vũ đoạn 2 tấm, trừu sa 2 xấp … cho sứ thần: bạch kim mười lạng, trừu sa lam một đoạn, quế sa ta hai tấm …”
Năm Minh Mạng thứ 15, nhà vua còn tặng cho vua Thủy Xá: “Một bộ đồ uống trà bằng sứ, một bộ đồ uống rượu bằng pha lê, một cái hộp bằng pha lê vẽ chỉ vàng, có cả đĩa, một hộp bằng pha lê in bóng, hai tượng người bằng mã não đỏ…”. Còn quan lại tỉnh Phú Yên vâng lệnh triều Nguyễn đã tặng cho vua Hỏa Xá “một chiếc độc bình bằng bạc để sau này đựng tro thiêu xác Hỏa Xá”.
Ghi chép của sử sách người Việt qua bộ Phủ biên tạp lục của Lê Quý Đôn vào năm 1776, khi ông làm quan hiệp trấn ở Thuận Hóa, những ghi chép của Lê Quý Đôn cho thấy từ thế kỷ 17, các vị tiểu vương người Jarai đã triều cống chính quyền Đàng Trong thường xuyên.
Tới thế kỷ 19, khi soạn bộ Đại Nam thực lục, nhà Nguyễn đã có những thông tin về tiểu vương Nam Bàn-Champa với những đồ cống của họ với nhà Nguyễn.
Henri Maitre,viên sĩ quan và là nhà nghiên cứu người Pháp trong công trình Les Jungles Moi (Rừng người Thượng) đã có những ghi chép chi tiết về sinh hoạt và đời sống của bộ tộc cũng như các vị tiểu vương ở đây, từ những nghiên cứu ông đã gọi đây là tiểu quốc Jarai, mà trong sử Việt có nhắc tới là nước Nam Bàn.
– Vua lửa
Theo tương truyền các vị Vua Hỏa Xá là hiện thân của Thần Gươm Y Thih (nhân vật trong các truyền thuyết của người Rhade và Jarai). Một tài liệu khác ghi là 21 “đời vua” tiểu quốc Jarai, là người kế tục giữ gươm thần do Y Thih để lại. Có ý kiến khác cho rằng gươm thần của các Patao thực ra là các bảo vật truyền ngôi của hoàng gia Champa sau khi Lê Thánh Tông tiêu diệt thành Vijaya-Degar (thành Đồ Bàn, Chà Bàn ở Bình Định).
Sơ đồ phân cấp của Vua lửa : Thượng Đế (Yang Po Allah) —> Thần gươm (Y Thih) —> Vua lửa (Patao Apui) —> Người Jarai/Chăm/Kinh
Các vị vua này cũng truyền từ đời này sang đời khác, sống ở làng Plei Ơi (xã Ayun Hạ, huyện Phú Thiện, tỉnh Gia Lai) để gìn giữ thanh gươm thần cất giấu trên núi Chư Tao Yang. Ở đó còn có ao Ơi Y, nơi vua lửa tắm trâu hàng ngày.
Quyền hạn của những ông vua này chỉ được thể hiện trong lễ hội cầu mưa. Lúc đó, Pơtao Apui sẽ dùng gươm thần làm cầu nối giữa người Jrai với thần linh để những vị thần trên trời có thể nghe thấy ước muốn của họ mà ban mưa cho dân bản.
Sự tích : Năm ấy, hạn hán kéo dài, sông Pa, sông A Yun cạn kiệt, cây rừng không mọc nổi, muông thú bỏ đi. Người Jrai đói khát phải lấy cây mục chấm mật ong ăn qua ngày, lấy hạt cây le nấu ăn thay gạo. Trước tình thế đó, hai anh em T’Dia và T’Diêng lấy một hòn đá ở miệng núi lửa Hàm Rồng để rèn thành một cây gươm là Pơ Tao A Pui. Và họ đưa ra lời nguyền: “Ai có được thanh gươm sẽ có thể hô phong hoán vũ”. Tuy nhiên, sau khi rèn xong, thanh gươm cứ đỏ rực, không chịu nguội; nhúng vào ghè, ghè cạn; nhúng xuống suối, suối khô; nhúng xuống sông, sông hết nước. Cuối cùng, người ta đem thanh gươm nhúng vào máu của nô lệ. Điều kỳ lạ là nó nguội ngay lập tức, và anh em T’Dia, T’Diêng vứt gươm xuống sông. Hay tin, các bộ tộc người trong khu vực đều xuống sông lặn tìm thanh gươm. Người Jrai tìm thấy lưỡi gươm, người Lào thấy được chuôi gươm, còn người Kinh giữ vỏ gươm.
Theo truyền thuyết, “gươm thần” của người Jrai được nhiều dân tộc công nhận. Người giao tiếp được với gươm thần Pơ Tao A Pui được gọi là Vua Lửa Pơtao. Với người Jrai, gươm thần cũng là bảo vật gia truyền.
Theo lời kể của ông Rơ Lan Hieo, thanh “gươm thần” dài chừng 1 mét (kể cá cán), có màu đen (nhiều người cho là đồng ngả màu). Cất giấu cùng “gươm thần” trước đây còn có hai thanh gươm phụ và hai chiếc gậy đều có màu trắng, được xem như “người hầu cận” của “gươm thần”.
Vài chục năm gần đây, người dân từ các nơi khác đến lập nghiệp khá đông, cho nên nhiều vật dụng giấu kèm với gươm thần đã bị mất. Chính vì thế, năm 2009, ông Rơ Lan Hieo – phụ tá của Vua Lửa – đã thực hiện nghi lễ di dời “gươm thần” từ núi Chư Tao Yang về cất giấu kỹ ở một nơi đặc biệt mà ngoại trừ Vua Lửa và phụ tá, không ai được đặt chân đến, kể cả một số người có trách nhiệm của huyện Phú Thiện.
“Người xưa truyền lại rằng, nếu ai cố tình nhìn “gươm thần” mà chưa được phép của Vua Lửa thì sẽ bị phát điên, hoặc có tai họa giáng xuống đầu. Có lẽ nhờ vậy mà thanh gươm còn được lưu giữ đến ngày nay”, ông Rơ Lan Hieo nói.
Các đời vua lửa : Theo tài liệu của Ts. Nguyễn Thị Kim Vân (Sở Văn hóa – Thông tin tỉnh Gia Lai) thống kê được 15 đời vua, còn khoảng 6 đời vua nữa chưa tìm ra. 15 đời “vua” đã được thống kê gồm có:
1. Ksor Chlơi (Kasor Cheley – ꨆꨧꨯꩉ ꨍꨮꨤꨮꩈ). Vua lửa đầu tiên được giao nhiệm vụ giữ thanh gươm thần, nhưng Ngài cương quyết từ chối vì khi trở thành vua (Patao) thì phải thực hiện một chế độ kiêng cữ rất nghiêm ngặt (không được ăn thịt bò, ếch nhái, loại lưỡng cư, heo, và lòng của những động vật nuôi trong nhà,…). Do ông từ chối nên bị cộng đồng trừng phạt.
2. R’cam Tơrul (Recam terul- ꨣꨮꨌꩌ ꨓꨮꨣꨭꩊ).
3. R’cam Anur (Recam Anur – ꨣꨮꨌꩌ ꨀꨗꨭꩉ): Ngài là người đầu tiên thực hiện các nghi lễ cúng thần gươm và soạn ra bài cúng cầu mưa. Khi Anur qua đời, thanh gươm thần được trao cho con trai (người họ Siu).
4. Siu Bom (Siw Bom – ꨧꨪꨥ ꨝꨯꩌ).
5. Siu Djua (Siw Jua – ꨧꨪꨥ ꨎꨶ).
6. Siu Nhong (Siw Nyong – ꨧꨪꨥ ꨐꨯꩂ): Ngài là người đặt nền móng cho sự hình thành vùng lãnh thổ riêng của Patao Apui. Đầu tiên Ngài cũng từ chối không nhận nhiệm vụ giữ thanh gươm thần, nhưng được dân làng thuyết phục ngài mới chấp thuận và được chính thức trở thành Patao Apui (vua Lửa của tiểu quốc Jarai).
7. Siu Blong (Siw Blong – ꨧꨪꨥ ꨝꨵꨯꩂ).
8. Siu Blet (Siw Blet – ꨧꨪꨥ ꨝꨵꨮꩅ): Ngài là vua (Patao) có công rất lớn trong việc thiết lập quan hệ với nước láng giềng như Việt Nam, Kampuchea,… Hàng năm Ngài đều cử người mang quà đi tiến cống vua nước Việt Nam và nhận quà của vua nước Việt Nam.
9. Siu Ji (Siw Ji – ꨧꨪꨥ ꨎꨪ). Ngài là vị vua (Patao) đầu tiên đã rời làng về địa khu mới làng Plei Ơi (Palei Ey) ngày nay.
10. Siu Y (Siw i- ꨧꨪꨥ ꨁ).
11. Siu At (Siw At – ꨧꨪꨥ ꨀꩅ)(1855? – 1907). Ngài là một vị thủ lĩnh Jarai dũng cảm bảo vệ mước Nam Bàn. Ngài có một người giúp việc trung thành là Ama Ju. Trong một lần đến sông Hinh (Phú Yên) không may con voi của ông bị đứt xích, phá rẫy của người Kinh. Những người Kinh đã bắt cả voi và người đưa về sông Cầu để Công sứ Pháp ở Phú Yên là Blainville xét xử. Viên quan người Pháp thả Ama Ju về với yêu cầu được gặp vua lửa. Đến ngày hẹn, Siu At cho mở tiệc đón khách như phong tục của người Jarai. Viên quan Pháp muốn được xem thanh gươm thần nhưng vua Siu At đã từ chối.
12. Siu Tuk (Siw Tuk – ꨧꨪꨥ ꨓꨭꩀ): Sau khi Siu At qua đời, Siu Tuk lên thay.
13. Siu Nhot (Siw Nyot – ꨧꨪꨥ ꨐꨯꩅ) (1971 – 1986). Ngài được Hội đồng các thân hào nhân sĩ các sắc tộc cùng Hội đồng tỉnh Kon Tum thời Việt Nam Cộng Hòa bầu ra ngày vào ngay 20 tháng 10 năm 1971. Thời Siu Nhot, bà con các dân tộc thường mang gạo, gà, rựu Cần,… để cúng, để cầu mưa thuận gió hòa, mừng lúa mới, lễ đâm trâu, và nhiều lễ nghi khác. Khi ông “vi hành”, người dân không ai được nhìn mặt vua vì Ngài là hiện thân của vị thần Y Thih. Theo Pgs. Phan An (1990) cùng các đồng sự ở Viện Khoa học Xã hội Thành phố Hồ Chí Minh, sau khi đến thăm Vua Lửa ở Plei Ơi đã mô tả ông là một người Jarai “già cả, gầy gò, đóng khố, ở trần” (…) nhưng không nghĩ ông ấy (tức Vua Lửa) là một vị vua.
14. Siu Luyn (Siw Luin – ꨧꨪꨥ ꨤꨶꨪꩆ) (1986 – 1999). Ngài là cháu họ, kế ngôi sau khi vua Siu Nhot qua đời. Nhà cửa đơn giản, sống nghèo khổ – gần như là một thường dân. Theo Pgs. Phan An (1990) khi cùng đoàn làm phim “Vua Lửa ở Tây Nguyên” đến Plei Ơi thì gặp Siu Luyn và mô tả vua đã già, đóng khố,…
15. Rahlan Hieo (Ralan Hiew – ꨣꨤꩆ ꨨꨳꨮꨥ)(1999 – 2015). Ngài vốn là người giúp việc cho vua Siu Luyn lên làm vua sau khi người tiền nhiệm vừa mất. Rahlan Hieo là người duy nhất có thể điều khiển “gươm thần”, “hô mưa gọi gió”. Đầu năm 2015, “vua” thoái vị, đề nghị người họ Siu lên kế vị nhưng không thành. Bà Siu Bian (Sinh năm 1958, cháu của vua lửa thứ 14 Siu Luyn) chia sẽ, lý do chúng tôi (họ Siu) không nhận “vì không biết điều khiển gươm, không biết thần chú gọi mưa. Hơn nữa, bây giờ nguồn nước cung cấp cho ruộng đầy đủ do đó bà con cũng chẳng còn phải lo hạn hán như xưa”.
– Vua nước
Làng Plei Tao (xã Ia Phang, huyện Chư Pưh, tỉnh Gia Lai) là quê hương duy nhất của các đời Vua Nước ở Tây Nguyên. Các đời vua đều chăm lo tổ chức cúng tế, cầu trời đất ban cho mưa thuận gió hòa, muôn loài phát triển, đời sống của người dân ấm no, hạnh phúc. Bởi vậy, đồng bào Jrai nơi đây luôn tôn kính và nhớ ơn các vị Vua Nước.
Theo truyền thuyết về Vua Nước rằng, Yang Ju H’mang và Yang Cưk (Yang Câk – thần núi) giao chiến, Ya Ea (Ya Ia hay Ya Aia) đứng ra can thiệp, được Thượng đế (Yang, Pô Allah) tin cậy giao cho việc cai quản dân làng. Yang Ea ở tận trời cao, muốn cai quản tốt dân làng Yang Ea xin Thượng đế dựng một cấp trung gian nữa là Vua Nước (Patao Ia, Patao Ea hay Patao Aia) để cai quản thế gian. Vương miện đầu tiên được trao cho người Cham, sau này là người Jarai (Jrai) thuộc dòng R’cam (Rơ Châm) đã giành được vương miện. Chính vì vậy, người Cham ở trên địa khu Tây Nguyên đã nhiều lần đến đòi giành lại vương miện.
Sơ đồ phân cấp của Vua nước : Thượng Đế (Yang Po Allah) —> Thần nước (Yang Ea) —> Vua nước (Patao Ea) —> Người Chăm/Người Jarai
Patao Ea là đại diện trần gian liên hệ với thần linh ở cõi trần, Vua được thần dân trong làng góp tiền làm nhà, và cung phụng Vua. Vua chỉ làm mỗi việc cai quản và cầu trời cho mưa thuận gió hòa, mọi người khỏe mạnh, làm ăn phát đạt.
Các đời vua Nước gồm:
1. R’Cam Kep (Recam Kep – ꨣꨮꨌꩌ ꨆꨮꩇ): 1425-1426.
2. R’Cam Nhơn (Recam Nyen – ꨣꨮꨌꩌ ꨐꨮꩆ): 1501-1571.
3. R’Cam Bring (Recam Brin – ꨣꨮꨌꩌ ꨝꨴꨪꩆ): 1576-1646.
4. R’Cam Dai (Recam Dai – ꨣꨮꨌꩌ ꨕꨰ): 1651-1719.
5. R’Cam Guh (Recam Guh – ꨣꨮꨌꩌ ꨈꨭꩍ): 1724-1795.
6. R’Cam Nhuak (Recam Nyuak – ꨣꨮꨌꩌ ꨐꨶꩀ): 1800- 1870.
7. R’Cam Bo (Recam Bo – ꨣꨮꨌꩌ ꨝꨯ): 1897- 1955.
8. R’Câm Chuch (1993-2014).
Patao Ea đời thứ 7 mất, thi thể của ông được hỏa táng (hỏa thiêu) rất long trọng, theo tục lệ Champa Hindu (Balamon) ở vùng duyên hải miền trung. Trong thời gian này, các làng Tây Nguyên làm hàng ngàn trâu bò để cúng tế Vua về với Buôn Atâo (Thế giới bên kia). Sau đó xác được hỏa táng giữa những điệu xoang huyền bí và những lời hát khóc thương Vua. Sau khi hỏa thiêu xong dân làng lấy tro đựng vào bình bạc và chôn dưới mái nhà mồ cao vút và họ cũng thực hiện chia của cho nhà vua. Nhà mồ theo kiểu mô phỏng nhà rông thu nhỏ trong một khu vực riêng, không cùng với nhà mồ của làng. Chỉ có vợ vua mới được chôn cất gần.
Theo lời kể của các vị cao niên ở Plei Tao, vị Vua Nước đầu tiên ở đây là người Chăm. Ông sống vào cuối thế kỷ XIV. Vị này cao to vạm vỡ, sống đức hạnh, có khả năng dùng sức mạnh như thần để cầu mưa gọi gió, đánh đuổi kẻ ác, thú dữ bảo vệ dân làng. Ông thường truyền dạy những bí kíp và trao quyền cho những người đàn ông ưu tú có bố mang họ Rơ Châm và mẹ mang họ Siu. Theo những lời răn dạy và bí truyền của ông, 8 đời Vua Nước sau ông đều mang dòng họ Rơ Châm, cụ thể là: Rơ Châm Kép (1425-1426), Rơ Châm Nhưn (1501-1571), Rơ Châm Bring (1576-1646), Rơ Châm Dăi (1651-1719), Rơ Châm Guh (1724-1765), Rơ Châm Nhoak (1800-1837), Rơ Châm Bo (1897-1955) và Rơ Châm Chuch (1993-2014).
Các Pơtao Ia ở Plei Tao được truyền qua 9 đời, và đến nay chẳng ai muốn… làm vua. Lý giải về điều này, thầy giáo Kpah Măng, người đang giữ một số kỷ vật của Pơtao Ia nói: “Làm vua cực lắm, lệ đặt ra là không được nhảy múa, uống rượu phải uống với người già hoặc một mình, tối kỵ uống với người trẻ. Vua không được ăn các loại thịt chó, mèo, rắn, trăn, bò. Giờ khác rồi, không ai muốn làm nữa. Rơchâm Chút là đời Pơtao Ia thứ 9 vì làm trái lời ông bà nên có một thời gian bị điên, không được làm nữa. Nó đi khỏi làng, ở làng khác với vợ thứ hai rồi”.
Thầy giáo Kpah Măng còn kể: “Ngày xưa vua đi tới các làng bằng voi. Ngày đó vùng này nhiều voi lắm, buôn bán với người Lào, vì thế mang địa danh Plei Lao – làng người Lào – vì có nhiều người Lào đến giao thương. Kỷ vật còn lại chỉ là một lưỡi gươm hoen gỉ và cái dây có lục lạc đeo ở cổ voi”.
Thanh gươm được thầy Măng cất giữ từ nhiều năm nay, được giấu trong một hang đá ở rặng núi xa Ia Sur. Cứ mỗi năm một đôi lần, thầy lại lên núi xem lại thanh gươm. “Muốn mọi người xem gươm phải cúng heo, gà, rượu”, thầy Măng nói. Theo truyền thuyết, thanh gươm này đã có lần được đưa về làng nhưng nó cứ cựa quậy, rung lên mỗi khi đêm xuống. Căn nhà cũng rung theo. Khi đem gươm lên núi mới yên.
Theo truyền thuyết của Plei Tao, một năm trời hạn nặng, đất khô nứt nẻ, nóng lên như chảo rang. “Yàng ơi! Cứu người thôi!”, nhiều người trong làng gọi to. “Vua nước” bàn với già làng và các người già phải cúng gọi thần nước cứu cả làng đang lả đi vì cơn nóng, cơn đói, cơn khát. Mọi người lục tục đem heo, gà, rượu tới. Lễ vật sẵn sàng. Pơtao Ia làm lễ gọi mưa và chỉ hai ngày sau, cơn mưa lớn đã cứu làng. Còn nhiều giai thoại về Pơtao Ia trong các cộng đồng làng về tài hô mưa gọi gió. Chẳng hạn theo truyền thuyết, trẻ con không được nhìn các Pơtao Ia, nếu không sẽ bị đau bụng. Còn nếu lỡ nhìn, bị đau bụng, cha mẹ chúng phải dắt tới nhà vua, lấy nước miếng của vua xoa vào bụng mới khỏi…
Ngày thường, các Vua Nước trau dồi kiến thức, rèn luyện kỹ năng truyền thụ các bí tích, giữ gìn các đồ tế lễ và tham gia làm nương rẫy, chăn nuôi cùng gia đình, dòng họ. Vào các tháng khô hạn, Vua Nước chuyên tâm vào việc quan sát trời đất. Nếu thấy vùng đất nào quá khô hạn, Vua Nước làm lễ cầu mưa. Vào mùa mưa bão, Vua Nước hành lễ cầu bớt mưa hoặc ngừng mưa bão để bà con làm ăn, muôn loài sinh sôi nảy nở. Lễ cúng tế tùy theo từng sự kiện, từng thời điểm, nhưng thông thường phải có ít nhất 3 ghè rượu, 2 con heo, 5 con gà, 10 ống cơm lam, 15 bó rau rừng… Tất cả các đồ cúng tế phải tươi mới, sạch sẽ, thơm ngon, tuyệt đối không dùng những con vật khác thường, có dị tật, đã sinh nở để cúng tế trời đất và các thần linh.
Hiện nay, Vua Nước đời thứ 7 chỉ còn lại một người con gái tên R’Cam H’ra Nhung (chồng của cô là Kapak Mang) cùng hai người giúp việc là ông Siu Pel và Kapak Khuai (Kapak Khoai).
Tài sản vua để lại chỉ còn lại là một thanh gươm thần cất giấu ở rừng thiêng, chỉ có vua và người giúp việc được biết. Tương truyền là gần rừng tháp Yang Prong (thần lớn), còn trang phục, vật dụng là do con cháu dòng họ R’Cam ở Buôn Som, huyện Ea Heleo, tỉnh Daklak cất giữ đến ngày nay.
Bà Rơ Châm H’Rú (SN 1960, ở Plei Tao) chỉ vào chồng mình là ông Kpă Măng (SN 1958) chậm rãi nói: “Khi còn khỏe, chồng mình thường phụ giúp Vua Nước Rơ Châm Chuch cúng Yàng và các thần linh. Nay Rơ Châm Chuch không được làm Vua Nước nữa, còn chồng mình bị đau ốm nằm liệt giường, không ai cúng nên dòng họ nhà mình cho ông Rơ Châm Giang mang gia phả và đồ cúng về buôn Sâm (xã Ea Hleo, huyện Ea Hleo, tỉnh Đak Lak)”.
Nghe bà H’Rú nói vậy, ông Kpă Hrai-Trưởng thôn Plei Tao-cho biết: “Ông Kpă Măng trước đây là giáo viên Trường Tiểu học Nguyễn Văn Trỗi (xã Ia Phang). Còn Vua Nước Rơ Châm Chuch (SN 1972, có vợ con ở Plei Tao) nhưng do ông ấy thường xuyên rượu chè bê tha, không chăm chỉ làm ăn, cúng bái nên bị vợ bỏ, bị dân làng không cho làm Vua Nước nữa. Sau đó, Rơ Châm Chuch được người phụ nữ Jrai lớn tuổi bắt làm chồng về ở Plei Thơ Ga, thị trấn Nhơn Hòa, huyện Chư Pưh”.
Không chỉ có Rơ Châm Chuch mà các ông Rơ Châm Phih, Rơ Châm Kil, Rơ Châm Nhin… cũng bị dân làng, dòng họ Rơ Châm phế truất “chức vị” Vua Nước. Có người mới được suy tôn lên làm Vua Nước chưa kịp đứng lên ra mắt gia tộc đã bị phế truất; cũng có người đang hành lễ, thậm chí đã làm lễ cúng tế nhiều lần, nhưng khi phát hiện có sai phạm liền bị phế truất ngay lập tức. Bà Rơ Châm H’Rú bộc bạch: “Theo quy ước, người làm Vua Nước phải to khỏe, không có dị tật, có đôi tay dài, nói năng rõ ràng, ăn ở sạch sẽ, không ăn thịt ếch, nhái. Đặc biệt, họ phải ở xa phụ nữ 1 tháng trước khi cúng Yàng, thường xuyên tắm nước lá cây rừng… Vì quy ước chặt chẽ và giám sát quá nghiêm ngặt nên nhiều người không đáp ứng yêu cầu liền bị dân làng, dòng họ phê phán, phế truất, không cho làm Vua Nước nữa”.
Ông Rơ Châm Tul (hơn 70 tuổi, ở Plei Tao) cho rằng: “Do đời sống vật chất còn khó khăn nên anh em trong dòng họ Rơ Châm phải tập trung làm nương rẫy, rất ít người có điều kiện học tập và làm theo các nghi lễ cúng Yàng và các thần linh. Mặt khác, gần đây, việc cúng tế chỉ mang ý nghĩa tinh thần, chưa thấy linh ứng vào thực tế nên bà con có phần sao nhãng. Bởi vậy, nhiều người không thuộc những bài văn cúng, không nhớ các nghi thức lễ nghĩa… nên cũng không đủ tín nhiệm được làm Vua Nước”.
Trao đổi với chúng tôi về vấn đề này, ông Huỳnh Văn Lên-Trưởng phòng Văn hóa và Thông tin huyện Chư Pưh-cho hay: “Chúng tôi nhiều lần xuống cơ sở thu thập thông tin về Vua Nước nhưng kết quả thu được rất ít. Dù vậy, chúng tôi vẫn luôn tuyên truyền bà con lưu giữ những nghi lễ truyền thống, trang phục thổ cẩm, chén đĩa đựng nước, thanh gươm thần của Vua Nước để làm cơ sở hoàn thiện hồ sơ đề nghị cấp có thẩm quyền hỗ trợ khôi phục bản sắc văn hóa, tiến tới đề nghị cấp trên công nhận nghi lễ cúng tế cầu mưa, ngớt mưa, dừng mưa bão… của Vua Nước là di sản văn hóa phi vật thể giống như các nghi lễ của Vua Lửa (Pơtao Apuih) ở Plei Ơi, xã Ayun Hạ, huyện Phú Thiện”.
– Vua Gió
Làng Măng (Plei Măng) xã Chư A Thai, huyện Phú Thiện, tỉnh Gia Lai là quê hương của các vị Vua gió truyền đời.
Các đời vua Gió, có khoảng 6-8 đời vua trong đó 2 đời cuối cùng
3. Siu Ba : mộ của Siu Ba chỉ là một bãi đất bằng trong một lùm cây khá rậm rạp ở ven làng. “Ơi (chữ người đồng bào gọi ông theo nghĩa tôn trọng – PV) mất trước khi đất nước thống nhất (1975). Khi Ơi mất, cúng nhiều lắm. Gia đình không được giữ mồ mả, phải giao cho làng chăm nom. Vài năm sau từ mộ của Ơi mọc lên một cây non. Nó lớn rất nhanh. Quả ăn được nhưng người làng không dám hái, cứ để rụng, chim tới ăn nhiều”
5. Siu Bam, sinh năm 1920, làm Pơtao Angin từ năm 1969, đã mất từ năm 1988.
6. Siu Pon sinh năm 1930, làm Pơtao Angin từ năm 1991, sau đó từ chức năm 2001
Điều đặc biệt của ngai Vua Gió là không bao giờ truyền ngai Vua cho người ngoài, chỉ truyền trong những người mang dòng họ Siu.
Vua Gió giống Vua Nước, Vua Lửa là đều có gươm thần để làm lễ hô mưa gọi gió, là vua Thần Quyền, giống như thày cúng hay thày mo, không dính dáng gì đến quyền lực thế tục. Trong ký ức các già làng, lễ gọi gió cầu mưa của Pơtao Angin xưa là một tín ngưỡng gần như tuyệt đối với các làng.
Vua Gió, khác với Vua Nước, Vua Lửa là chỉ đi bộ, không cưỡi voi, cũng không dùng bất kỳ phương tiện đi lại nào, nếu không sẽ bị gió cuốn bay đi mất.
Kỷ vật “vua” để lại hiện chỉ còn những vật dụng vẫn dùng trong các nghi lễ gồm 1 chiếc bát và 1 đĩa lớn bằng đồng; 3 chiếc chiêng, 1 bộ lục lạc đồng và 2 ghè cổ. Cũng như Vua nước và Vua lửa, xưa Vua gió còn một thanh kiếm thiêng (dùng để cầu mưa) nhưng hiện đã bị thất lạc.
Nhưng dù suốt đời chỉ đóng vai trò là một ông vua thần quyền thì Pơtao Angin vẫn được người dân các làng rất trọng vọng. Ảnh hưởng của Vua gió ngày xưa bao gồm các huyện A Yun Pa, Phú Thiện, lan đến cả Chư Sê, Krông Pa bây giờ… Đây là Xứ của Gió, tạm gọi là Phong Xá, giống như Hoả Xá, hay Thuỷ Xá,
Nguồn
– Thủy Xá – Hỏa Xá https://vi.wikipedia.org/…/Th%E1%BB%A7y_X%C3%A1_%E2%80… :
– Huyền thoại về vị thần của sự sống
– Huyền thoại về những vị Vua Lửa ở Tây Nguyên
– Chuyện về Vua Nước ở Tây Nguyên
– Huyền thoại về “Vua gió”
– Vua lửa vua nước vua gió

