CHẾ MÂN

Loading

VUA CHĂMPA
Chế Mân, Patan Thun. R Cham Man hay Jaya Simhavarman III,
Là vị vua thứ 34 của vương quốc Chiêm Thành (tức là vua thứ 12 của Triều đại thứ 11) vào thế kỷ 14l, trị vì từ năm 1288 đến năm 1307, đóng đô ở Đồ Bàn.
Sinh 1260 (Chăm Pa) – Mất 1307 (Chăm Pa)
Thân phụ Indravarman V – Thân mẫu Gaurendraksmi
Thê thiếp :
– Bhaskaradevi, người Islam tại Java (Indonesia)
– Vương hậu Tapasi, người Islam Majapahit (Indonesia)
– Vương hậu Paramecvari, Huyền Trân Công Chúa, người Việt
Hậu duệ
– Chế Chí
– Chế Năng
– Chế Đa Đa
LÃNH ĐẠO CHĂMPA CHIẾN THẮNG QUÂN NGUYÊN MÔNG
Quân Nguyên Mông tấn công Chiêm Thành khi ông là thái tử, với hiệu Bổ Đích tức Sri Harijit Po Devada Svor, là con của vua Indravarman V và hoàng hậu Gaurendraksmi.
Từ chối nộp mình cho Đại hãn của Mông Cổ, Hốt Tất Liệt, cha ông vẫn cảm thấy mình bị sỉ nhục khi chỉ huy của Mông Cổ Sagatou (Toa Đô) và Liễu Cheng chia vương quốc ông thành các đơn vị hành chính. Con trai ông, Chế Mân, cũng không chịu từ chức.
Toa Đô phát động một cuộc xâm lược vào năm 1282, buộc Indravarman V phải trốn lên núi (Tây Nguyên). Từ chối trình diện tại triều đình và chấp nhận làm chư hầu, ông cho là người Mông Cổ sẽ bị tổn thất vì “… Khí hậu nóng bức, bệnh tật, và thiếu nguồn cung cấp”. Ngoài ra cũng có nhiều người Mông Cổ đào ngũ. Cuối cùng, sau khi Toa Đô chết vào năm 1285, Indravarman V đã gửi một đại sứ sang gặp Hốt Tất Liệt vào ngày 6 tháng 10 cùng năm và nhiều khả năng qua đời ngay sau đó. Ông được con trai là Chế Mân kế vị.
Chế Mân vốn có tài thao lược, vào năm 1282, khi Hốt Tất Liệt với hơn 500 ngàn quân Mông Cổ tấn công Chiêm Thành, ông được cử ra chỉ huy quân đội kháng chiến.
Ông rút quân lên Tây Nguyên, bảo vệ vua cha. Ông đứng lên động viên toàn bộ lực lượng dân tộc thiểu số Tây Nguyên đặc biệt người Rhade (Jarai, Eđê) đứng lên chống giặc. Chủ trương của ông giống chủ trương của nhà Trần, là vườn không nhà trống hơn là đối đầu với giặc, cầm cự lâu dài.
Giống như cha ông, ông có quan hệ rất tốt với Đại Việt, đoàn kết chống lại kẻ thù chung là giắc Nguyên.
Điều khiển 20 ngàn quân Chiêm, được Đại Việt yểm trợ ngăn chặn đường bộ quân Nguyên, ông chống cự lại được quân xâm lăng trong nhiều năm liền và sau đó quân Nguyên bỏ mộng xâm lược Chiêm Thành và Đại Việt.
Thái tử trở thành anh hùng dân tộc và năm 1288 lên ngôi nối nghiệp cha, lấy hiệu Sinhavarman III, người Việt gọi là Chế Mân là một vị vua anh minh, lại thương dân và hiếu hòa, nên được nhân dân rất tôn trọng.
LẤY CÔNG CHÚA HUYỀN TRÂN & NHƯỢNG ĐẤT CHO ĐẠI VIỆT
Năm 1301, Thái thượng hoàng Trần Nhân Tông của Đại Việt nhận lời mời du ngoạn vào Chiêm Thành, được Chế Mân tiếp đãi nồng hậu, có ở lại trong cung điện Chiêm Thành gần 9 tháng. Khi ra về, Trần Nhân Tông có hứa gả con gái là Huyền Trân cho Chế Mân, mặc dù khi đó Chế Mân đã có chính thất là hoàng hậu Tapasi, người Java (Nam Dương ngày nay). Năm 1306, Jaya Sinhavarman III dâng hai châu Ô và châu Lý (khu vực từ Quảng Bình đến Quảng Nam) cho nhà Trần của Đại Việt làm sính lễ để được kết hôn với Huyền Trân Công Chúa
Huyền Trân về Chiêm Thành, được phong làm hoàng hậu Paramecvari. Một năm sau đó, khi hoàng hậu người Đại Việt vừa sinh xong hoàng tử, thì tháng 5 năm 1307, quốc vương Chế Mân qua đời. Vua Trần Anh Tông biết tin, sai Trần Khắc Chung vờ sang viếng tang, tìm cách cứu Huyền Trân đem về.
Chiêm Thành coi sự việc này là quốc nhục và các vị vua Chiêm kế tiếp đã từng dùng vũ lực, vào các năm 1311, 1312,1317 – 1318, 1326 và 1353, nhằm yêu cầu Đại Việt trao trả cho vương quốc này hai châu Ô, Lý nhưng không thành công.
XÂY DỰNG THÁP CHĂM
Chế Mân là người đã cho xây dựng một loạt Tháp Chăm mà di tích còn đến ngày nai
Tháp do Chế Mân xây dựng
– Tháp Po Klong Garai ở Ninh Thuận
– Tháp Yang Prong (Thần vĩ đại) ở Đaklak
– Tháp Yang Mum (Mẫu thần) ở tỉnh Gialai
Tháp liên quan đến Chế Mân
– Tháp Po Sah Inư
– Tháp Po Đam
Chế Mân xây đền thờ Pô Klong Garai, vì ông cho rằng ông là hậu duệ của Pô Klong Garai.
Tháp Poklong Garai nằm trên đồi Trầu, thuộc phường Đô Vinh, tỉnh Khánh Hòa, được xây dựng bởi Chế Mân để thờ vua Po Klong Garai
Tháp Pô Klong Garai là một tổng thể gồm ba tháp: tháp chính (cao 20,5m), tháp lửa (cao 9,31m), tháp cổng (cao 8,56m). Công trình này có trình độ kiến trúc, nghệ thuật, điêu khắc đạt đến đỉnh cao. Đây là tháp Chăm đẹp nhất còn lại đến bây giờ.
Po Klong Garai là một vị vua huyền sử và đồng thời là một vị vua lịch sử của Chămpa
Biên niên sử Panduraga đưa ra 5 vị vua huyền sử, gọi là patao jiéng éng hay patao éngkat «vua tự sinh ra › gồm có
– Po Uwluah,
– Po Binnasuar,
– Po Putik,
– Po Sulika
– Po Klaong Garai
Họ không phải là người thường mà là những vị thần linh, tự sinh ra (jiéng éng hay éngkat) và tự giáng thế để cai trị xứ sở Chăm. Sau một thời gian lên ngôi, các vị thần thánh này không chết, nhưng trở về thế giới linh thiêng (nao meng rup).
Po Klong Garai cũng là một vị vua lịch sử nổi tiếng của Chămpa, Jaya Indravarman IV, người cho rằng mình chính là hiện thân của thần Po Klong Garai. Jaya Indravarman IV là vị vua thứ 4, còn Chế Mân là vị vua thứ 12 của triều đại thứ 11, đóng đô ở Đồ Bàn (Vijaya) thuộc tiểu bang Vijaya-Degar. Dánh sách các vua của triều đại này như sau
Vua Chămpa thuộc triều đại thứ 11 như sau:
1. Rudravarman IV (?), 1145-1147
2. Jaya Harivarman I (Chế Bì La Bút), 1147-1166
3. Jaya Harivarman II (?), 1166 -1167
4. Jaya Indravarman IV (?), 1167 – 1190
5. Suryajayavarman (Khmer king in Vijaya), 1190 -1191
6. Jaya Indravarman V (?), 1191-1192
7. Suryavarman or vidyanandana (Khmer king in Vijaya, Panduranga), 1192-1203, Occupied by Khmer Empire, 1203-1220
8. Jaya Paramesvaravarman II (?),1220-1254
9. Jaya Indravarman VI (?), 1252-1257
10. Indravarman V (?), 1257-1285 : cha của Chế Mân
11. Jaya Simhavarman III (Chế Mân), 1285 -1307
12. Jaya Simhavarman IV (Chế Chí), 1307-1312 : con của Chế Mân
13. Jaya Simhavarman V (Chế Năng), 1312 -1318 : con của Chế Mân
Vua Champa triều đại thứ 12 (12th Dynasty – Vijaya)
1. Jaya Ananda (Chế A Nan), 1318 -1342
2. Maha Sawa (Trà Hòa), 1342 -1360
3. Jaya varman (Chế Bồng Nga), 1360 -1390 : người đưa Chămpa thành quốc gia Hồi giáo, tấn công Thăng Long nhiều lần, chết ở Thăng Long.
Jaya Indravarman IV, Po Klong Garai, là người theo đường biển đánh Chân Lạp, giết vua Chân Lạp, chiếm Ăngkor 3 năm, đưa Panduraga và bộ tộc Cau trở lại vị thế so với Vijaya, bộ tộc Dừa, đồng thời khôi phục vị thế của Chămpa với Chân Lạp. Lịch sử gọi trận đánh giữa Chămpa và Khmer này thuỷ chiến Tonle Sap. Đây là giai đoạn mà Chămpa đánh sâu nhất vào Chân Lạp và ngược lại. Ông đã xây dựng hệ thống thuỷ lợi mà còn đến tận bây giờ ở Phan Rang.
Thuỷ chiến Tonle Sap
Thủy chiến Tonlé Sap hay Chiến tranh Khmer – Panduranga (tiếng Pháp: Bataille de Tonlé Sap, tiếng Khmer: សមរភូមិទន្លេសាប) là một biến cố ngắn diễn ra trong năm 1177, được ký ức hóa ở di tích Angkor Wat và nhiều văn bia Champa.[2] Sự kiện này tuy chỉ gây tác động xấu nhất thời cho nền văn hóa Angkor nhưng khơi mào cho giai đoạn lụi tàn của nó.[3]
Nguyên nhân
Trong thời kỳ đỉnh thịnh suốt thế kỷ X đến XII, chủ trương của triều đình Kampuchea là vun bồi nền văn hóa của mình, đồng thời tận lực mở rộng cương vực ra toàn khu vực Trung-Ấn. Vì thế, các thành quốc trù phú ở duyên hải Nam Trung Bộ là một trong những đích đến của người Kampuchea.
Kể từ năm 967, quốc gia Champa đã hoàn toàn phân rã; dải đất nay là Nam Trung Bộ lại trở thành chế độ phong kiến với 5 tiểu quốc tự trị, trong đó, Vijaya có vai trò như lĩnh tụ của không gian Champa, các tiểu quốc còn lại phải phụng cống xưng thần. Tuy khối Champa chỉ gồm những lãnh địa nhỏ yếu, nhưng cuộc sống rất phát đạt nhờ quảng đại giao thương. Theo ký sự của nhiều khách trú Trung Hoa hoặc Ấn Độ, người Champa luôn ưa thích phục sức bằng vàng ròng, thậm chí thường may lẫn vàng vào áo quần. Vì lẽ đó, dường như người Champa phải trả giá đắt cho chính sự thịnh vượng của mình.
Kampuchea dưới sự cai trị của Suryavarman II đạt tới tột đỉnh huy hoàng. Ngôi đền đồ sộ nhất của kinh đô Angkor được xây dựng trong 37 năm: Angkor Wat, là nơi thờ thần Vishnu. Ông đã xâm chiếm đến nơi hiện nay là cực Bắc Lào, phía Tây thôn tính được vương quốc Haripunjaya (nay là Trung phần Thái Lan) và một khu vực phía viễn Tây vốn thuộc vương quốc Pagan, phía Nam lấn đến vương quốc Grahi (nay là tỉnh Nakhon Si Thammarat của Thái Lan), phía Đông lấn dần rồi đô hộ tất cả các tiểu quốc Champa.
Diễn biến
Không còn nhiều ký ức được lưu lại về quãng thời gian đô hộ của Kampuchea, nhưng việc bị tước đoạt quyền tự trị đã khiến người Champa tức giận. Từ cực Nam, vị lãnh chúa có tước hiệu Po Klong Garai (lên ngôi vào năm 1167) đã triệu tập những tì tướng đáng tin cẩn nhất của mình, kín đáo chuẩn bị cho một cuộc phản kháng. Điều mà ông trù liệu ban sơ chỉ là thừa cơ hội Vijaya suy yếu để cắt đứt mối quan hệ bất bình đẳng với thành quốc này; nhưng thành công quá chóng vánh trước những ứng phó kém cỏi của Vijaya và cả đạo quân chiếm đóng Kampuchea đã khiến Po Klong Garai cho rằng, đây là thời cơ hi hữu để Panduranga vươn lên thống trị khối Champa. Muốn vậy, Po Klong Garai phải gây dựng uy tín thông qua việc đương đầu với địch thủ truyền kiếp của người Champa – tức là triều đình Kampuchea – dù thực tế là chế độ bảo hộ không lấy gì làm khắc nghiệt.
Sự may mắn đạt được của Po Klong Garai là khi người Kampuchea mải miết hoàn tất đại công trình Angkor Wat cùng hàng loạt đền đài trong khu vực Angkor, triều đình đắm chìm trong hoan tiệc hoặc những cuộc tranh vị đẫm máu.[4][5][6] Các toán quân của Po Klong Garai bí mật men theo con nước triền sông Mekong để tiến vào các khu vực cư trú của người Kampuchea, khoảng cách ngắn từ Panduranga sang tới Angkor cũng là một thuận lợi tiếp theo cho Po Klong Garai.
Trong một thời điểm chưa rõ vào năm 1177, lần đầu tiên người Champa đụng độ đế quốc Kampuchea ngay trên lãnh thổ Kampuchea. Lực lượng thủy quân tinh nhuệ từ Panduranga gặp phải một đạo quân mỏi mệt ít thao luyện của Kampuchea, đã gây ra một cuộc chiến kinh hoàng ở lưu vực hồ Tonlé Sap. Bản thân vua Tribhuvanadityavarman[7]:120[7]:120[8]:163–164,166[8]:163–164,166 bị giết nơi trận tiền khiến đội ngũ rối loạn, nhiều thuyền bè tự húc vào nhau rồi chìm, số còn sống sót thì tháo chạy ngược về Yaśodharapura. Po Klong Garai thừa thắng đã hạ lệnh toàn quân ruổi thuyền lên tận Siem Reap, quan trấn thủ tại đây cũng vứt thành mà chạy. Sự kiện này được mô tả rõ rệt trên những bức tường Bayon và Banteay Chhmar.
Quân đoàn Panduranga dễ dàng tiến vào được kinh đô Yaśodharapura. Po Klong Garai bỏ mặc cho binh sĩ thỏa thuê cướp bóc, chém giết và hiếp dâm với lý do trả đũa cho thời kỳ bị Kampouchea áp bức. Hầu hết khu vực Yaśodharapura, cùng với Angkor Wat bị quân Panduranga đốt phá tan hoang, mãi đến khi Jayavarman VII cởi được ách đô hộ của người Champa thì đại công trình này mới dần được phục hồi. Trong mấy năm sau sự biến hồ Tonlé Sap, Kampouchea mất phần lớn quyền tự trị, trở thành đối tượng bị chiếm đóng và áp bức tàn tệ. Từ địa vị kẻ chống ách đô hộ, Panduranga đã trở thành thế lực xâm lược.
Kết quả
Mặc dù sự kiện thủy chiến Tonlé Sap cùng với cuộc tàn phá kinh đô Yaśodharapura không trực tiếp hoặc ngay lập tức làm sút giảm nền văn hóa Kampouchea, nhưng nó khiến Kampouchea đánh mất uy thế trước chư hầu và tạm thời đánh dấu kết cho những cuộc tranh vị nơi vương đình. Đối với Champa, đây là điều kiện thuận lợi cho sự tái thống nhất sau hai thế kỷ phân rã, tuy rằng hình thái phong kiến vẫn được bảo trì. Từ lúc này, nền văn hóa Champa dời hẳn trọng tâm tới lãnh địa Panduranga, đồng thời đưa Po Klong Garai lên địa vị lĩnh tụ của toàn khối.
Nhưng để giành được phần thắng, cũng như duy trì sự đô hộ Kampouchea, Panduranga phải gánh quá nhiều hao tổn. Bởi vậy, vào năm 1190, Jayavarman VII (lên ngôi năm 1181) nhờ sự trợ lực của Vidyanandana[9] (vương tử Vijaya, vốn bất mãn với uy thế của Panduranga) đã quật khởi phản kháng được đạo quân chiếm đóng Panduranga, vốn đã trở nên suy nhược trong thời gian quá dài lưu trú ở Kampouchea. Chẳng những thế, Jayavarman VII đuổi được tới tận lãnh thổ Champa, qua đó khối Champa lại thành phiên thuộc của Kampuchea, nhưng chỉ qua hình thức cống nạp chứ không có quy chế đóng quân như trước. Từ thời điểm này, Kampouchea không còn khả năng gây ảnh hưởng đến các tiểu quốc Champa nữa.
Về phần Po Klong Garai, ông vẫn được các đấu thủ kiêng dè và nể trọng, đối với các tiểu quốc Po Klong Garai còn lại thì Panduranga tồn tại tương đối độc lập suốt gần một thế kỷ. Trong giai đoạn trị vì sau, Po Klong Garai lo củng cố ưu thế của Panduranga bằng việc thi hành nhiều chính sách an dân, nhất là dựng các công trình thủy lợi lớn để cải tạo nông nghiệp, trình độ của quân lực cũng liên tục được tăng cường để giữ vững lãnh địa. Nhờ thế, cả Kampouchea và Vijaya không tìm được bất cứ kẽ hở nào để trả đũa.
Phong hóa
Lễ hội đua ghe ngo vốn đã được biên chép từ rất lâu trong lịch sử Kampouchea cũng như nhiều quốc gia lân cận. Trên các bức tường tại kinh đô Angkor xây dựng từ thế kỷ 12 đã có tạc cảnh của lễ hội đua ghe rất rõ ràng. Theo các sử liệu còn lưu trong Viện Phật học Campuchia, ngay từ thời vua Jayavarman VII ở thế kỷ XII ở kỷ nguyên Angkor rực rỡ, người Khmer được cho là đã thắng lợi oanh liệt trong thủy chiến Tonlé Sap với nước láng giềng Champa. Chiến thắng này (khoảng sau các năm 1177-1181) giải phóng lĩnh thổ bị chiếm đóng cho người Khmer và bắt đầu thời kỳ hòa bình lâu dài cho vương quốc. Tương truyền, để kỉ niệm chiến thắng này, hàng năm lễ hội đua ghe được tiến hành một cách tưng bừng trên khắp đất nước. Trên các bức tường của thành Bayon tại Angkor, người ta đã tìm thấy những hình ảnh khắc trên đá mô tả thủy quân Khmer với vua Jayavarman VII dũng cảm đang cầm một ngọn giáo và cung tên đứng trên thuyền vua.
SỰ TÍCH CỦA VUA PO KLONG GARAI
Có một truyền thuyết liên quan đến tháp Poklong Garai kể rằng ngày xưa ở Play Chakling có hai ông bà tên Ôn Paxa và Muk Chakling dù đã cao niên nhưng chưa có con. Một lần ra biển mò cua bắt ốc ông bà thấy có một đứa bé đang trôi trên bọt nước bèn đem về nuôi và đặt tên là Karit.
Karit lớn lên trở thành một cô gái xinh đẹp, nết na nên được nhiều người quý mến. Một hôm, Karit cùng cha vào rừng hái củi. Trời nóng nực, hai cha con khát nước nhưng xung quanh lại không có sông suối. Bỗng Karit thấy một tảng đá bên trên đọng ít nước trong, liền đến uống. Lạ thay nàng uống đến đâu nước trong đá tràn ra đến đó. Nhưng khi nàng đi gọi cha đến uống thì chẳng thấy giọt nước nào.
Sau dạo đó Karit có thai và rồi sinh ra một cậu bé đã xấu xí lại rất hấu ăn. Ông bà đặt tên cho cậu là Jatol. Karit không chịu nổi lời đàm tiếu là gái chửa hoang nên bỏ đi để con lại cho ông bà nuôi. Đứa bé càng lớn càng xấu xí, mình lại đầy ghẻ chốc nên chẳng mấy đứa chịu chơi chung. Khi ông bà mất, cậu cũng vừa khôn lớn. Cậu cùng bạn là Po Klonchanh đi buôn trầu. Một hôm trên đường về, Jatol thấy mệt nên nghỉ ở tảng đá bên đường. Pô Klonchanh về trước rồi đem cơm ra cho bạn. Khi trở lại Pô Klonchanh thấy có hai con rồng trắng đang liếm mình Jatol. Po Klonchanh chạy đến thì hai con rồng biến mất và lạ thay Jatol đã trở thành một thanh niên tuấn tú, khôi ngô khác thường. Điềm lạ đó dần lan ra khắp miền và rồi đến tai vua Nuhol, người đang quản thủ Iaru. Được biết Jatol sẽ là một vị thiên tài xuất chúng, vua Nuhol cho mời Jatol đến. Thấy đúng như lời đồn đại vua đã giữ Jatol lại và gả công chúa Thakol cho.
Năm 1167, vua Xulika ở thành Bal Sri Banây băng hà mà không có người nối ngôi. Biết Jatol là một nhân tài, quần thần đã cho voi trắng rước về nối ngôi. Jatol lên làm vua, xưng là Po Klong Garai. Sau 5 năm, ông dời đô lên Bal Hangâu. Bấy giờ, Panduranga, quê hương của ông bị quân Chân Lạp thường xuyên đánh phá. Pô Klong Garai phải mang quân vào Panduranga tiếp sức và dẹp loạn. Theo sử liệu Chăm thì vào năm Sửu, Chăm lịch, vua Po Klong Garai từ Balcribanơi vào Panduranga xem địa thế để xây tháp kỷ niệm thuở hàn vi của mình. Khi đến vùng Balhul thì bị tướng Hakral người Miên đang cai quản hạt này ngăn cản. Vua Po Klong Garai không muốn xảy ra cuộc đổ máu vô ích nên thách tướng Miên thi tài xây tháp, ai xây xong trước sẽ thắng. Biết khó đánh thắng vua Pô Klong Garai bằng sức mạnh quân sự, Hakral đã chấp thuận. Vua Po Klong Garai xây tháp trên đồi Balhla, còn tướng Hakral xây ở vùng Balhul. Kết cục, bên vua Pô Klong Garai với sự tài trí của mình đã hoàn thành trước, tướng Hakral thua cuộc đành rút quân về.
Vài nhận xét về sự tích này
– Chi tiết về sự ra đời của mẹ ông, giống như sự ra đời của mẹ xứ sở Po Ina Nagar, là bọt biển. Có thể hiểu Mẹ ông thực chất là hiện thân của Mẹ xứ sở.
– Mẹ ông uống nước sinh ra ông, nên ông là con của mẹ xứ sở Chămpa và cha ông là nước trong đá
– Mẹ ông bỏ đi không nuôi ông, ông được nuôi dưỡng bởi ông bà, ngụ ý một lần nữa ông được nuôi dưỡng bằng xứ sở
DÒNG MÁU VUA RỒNG
Po Klong Garai là vua rồng, thần rồng, thủ lĩnh rồng
– Po : người đứng đầu, như vua, chúa, thủ lĩnh
– Klong/Krung : ông tổ, dấu tích, nguyên tích, nguồn cội
– Garai : rồng
Căn cứ một số nghiên cứu cho thấy, dân tộc Rhade (Radaya, Raday) cư trú lâu đời trên mảnh đất Cao nguyên Trung Phần tức Tây Nguyên ngày nay gồm 5 tỉnh: DakLak, Daknong, Gia Lai, Kontum, Lam Dong. Người Radaya (Raday), được phân thành hai nhánh sắc tộc lớn là: Rhade (Ede) và Jarai (Garai, Grai, Jrai).
Trong lịch sử, qua các lần Nam Tiến của Đại Việt vào đất Champa, những người Champa sống ở vùng đồng bằng ven biển thường chạy lánh nạn lên vùng bình nguyên Cheo Reo sống cộng cư với “Orang Raday hay Anak Raday” tức cộng cư với hai sắc tộc lớn là Rhade và Jarai.
Nhóm người vùng thung lũng Sông Ba (phần thượng lưu mà người Rhade gọi “Ea Pa”, người Jarai gọi “Ia Pa”, người Cham gọi “Aia Pa”, … còn được gọi “Krong Pa”, phần hạ lưu gọi sông Đà Rằng) tự xưng là anak Garai (anak Grai: con của rồng) hay ana Garai (ana Grai: con Rồng), người Chăm gọi “ana Garai hay ina Garai” là con rồng. “Ea Garai, Ea Grai hay Ia Grai”: là nước Rồng, danh xưng này đã gắn với tộc danh của người Garai (Grai) từ lâu, sau thời Việt Nam Cộng Hòa đã gọi Jarai (Jrai) đến ngày nay.
Thủ lĩnh của vùng đất “Ea Garai hay Ia Grai” được gọi: Po Krung Garay (Po: chủ, ngài; Kurung hay krung: là dấu tích, nguyên thủy, thủ lĩnh; Garay, hay garai hay grai: con Rồng). Po Krung Garay còn được gọi là: Yang Krung Garay (Thần Rồng).
—o—o—o—
Nguồn
– Sự thật về Po Krung Garay (Po Klong Garai)
– Tháp Po Klong Garai – Di tích kiến trúc cổ đỉnh cao của nền văn hóa Chăm
– Thuỷ chiến Tonle Sap
Chia sẻ:
Scroll to Top