![]()
ĐĂK (tiếng Mnông) : lưu vực sông, bồn địa hay vùng đất có dòng nước lớn, dòng nước chính chảy qua, dòng chảy trong các vùng đất như sông, suối, tạo thành vùng đất nước lớn.
– tỉnh Dak Lak : Đak là nước ở trạng thái định hình, chồng chập với đất, Lak là nước ở trạng thái cấu trúc và vận hành phân tách với đất. Đak Lak tạo nên trạng thái đất nước lưỡng nghi.
– tỉnh Dak Nông : đất nước của người M’Nông. Đắk Nông là vùng đất cổ, nằm trên cao nguyên M’Nông, nơi có đến 40% tổng số người M’Nông tại Việt Nam.
– huyện Đak Mil
– huyện Đak Tô
– huyện Đak Glong
– huyện, xã Đak Đoa
– huyện, xã Đak Pơ
– huyện, xã Đak Hà
– huyện Đak R’lấp
– xã Đak Môn
– xã Đak Mar
– xã Đắk Drô
– xã Đak Sơmei
– xã Đak Lua
– sông Đakbla : Sông Đăk Bla hay Krông B’Lah là phụ lưu hợp thành chính của Sông Sê San, chảy qua các tỉnh Quảng Ngãi, Gia Lai, có chiều dài 157 km và diện tích lưu vực là 3.436 km. Tại rìa xã Ia Khai huyện Ia Grai tỉnh Gia Lai thì dòng Krông B’Lah hợp lưu với dòng sông Ia Grai thành sông Sê San.
– sông Đakrông : Sông Đakrông là dòng thượng nguồn của sông Thạch Hãn. Sông Đakrông chảy ở huyện Đakrông, tỉnh Quảng Trị, Việt Nam. Tên sông theo tiếng dân tộc ở đây có nghĩa là “sông lớn”.
– thác, hồ nước Đak Ke ở Măng Đen
– thác Đak Pne
Đak chuyển qua tiếng Việt theo cả âm và nghĩa vẫn là đak như đắc địa, đắc thắng, đắc lễ, đắc nghi, đắc thời …
Thảo một bài bần phú,
Luận đôi câu nhơn nghĩa tinh vi.
Kẻ đắc thời đắc lễ đắc nghi
Người thất thế, thất thi thất nghiệp.
ĐA – ĐÀ – ĐẠ (tiếng Cơ ho) : Tương đương Đak
– Suối Đạ Lạch/Lạt : Dòng suối của người Lạch/Lạt/Lát, một nhóm sắc tộc của dân tộc Cờ ho, dân tộc bản địa vùng đất Lâm Đồng, mà Đà Lạt là thủ phủ của nó.
– Đà Lạt : tên gọi theo tiếng Lach/Lạt của dòng suối Cam Ly, đoạn từ hồ Than Thở tới thác Cam Ly.
– Sông Đa Nhim là con sông lớn của Lâm Đồng. Dọc sông có ba thác chính: thác Liên Khương, thác Gougah và thác Pongour.
– Sông Đa Dâng (còn được viết là Đa Deung hay Đa Dung) là dòng thượng nguồn của sông Đồng Nai trên địa bàn tỉnh Lâm Đồng, Việt Nam.
– Sông Đạ Huoai (hay Đa Hoai) là phụ lưu cấp 1 của sông Đồng Nai, chảy qua huyện Đạ Huoai, tỉnh Lâm Đồng với chiều dài 47 km.
– Thị trấn D’ran, huyện Đơn Dương, tỉnh Lâm Đồng, cách trung tâm Đà Lạt khoảng 40km.
– Đatanla hay Datanla là thác ở thành phố Đà Lạt, tỉnh Lâm Đồng, Việt Nam và có liên quan đến cuộc xung đột Chăm – Lạch – Chil hồi thế kỷ XV – XVII. Tên gọi “Đatanla” hay “Đatania” theo tiếng K’Ho ghép lại từ “Đạh-Tam-N’ha” có nghĩa là “dưới lá có nước”. Có truyền thuyết kể lại rằng, vào thời Pôrêmê, người Chăm từ Panduranga (Phan Rang) thường kéo lên tấn công người Lạt, người Chil ở cao nguyên Lang Biang để giành đất và bắt nô lệ. Trong lúc người Lạch sắp thua vì thiếu “cái nước” thì tình cờ họ phát hiện ra dòng thác này và có nước uống, nên người Lạt đã chiến thắng và bảo vệ được buôn làng. Còn người Chăm thua vì họ không biết “dưới lá có nước”. Từ đó bà con bộ tộc Lạt đặt tên là “Đạ Tam Nnha” (dưới lá có nước) để nhắn nhủ với con cháu sau này.
– Đồi Dasar, xã Dasar, huyện Lạc Dương
– Hồ, thung lũng, suối Đa Thiện. Đa Thiện là nơi hội tụ nhiều ngọn suối nhỏ của Đà Lạt
– Đa Lộc là một vùng sản xuất nông nghiệp ven đô Đà Lạt.
– Đồi Đa Phú (Đà Lạt)
– Sông Đà Rằng hay hạ lưu sông Ba là dòng sông lớn nhất miền Trung, dài khoảng 374-388 km, bắt nguồn từ núi Ngọc Rô (Kon Tum), chảy qua Gia Lai và Phú Yên trước khi đổ ra biển Đông tại cửa Đà Diễn (Tuy Hòa).
– Cửa biển Đà Diễn của sông Đà Rằng
– Đà Nẵng : Daknan (dak) là lưu vực sông nan là sông Hàn hay sông lớn
LĂK : nước tĩnh về cấu trúc, động về vận hành, nước tách ra khỏi đất, nước trong đá, nước trong lòng núi như hồ
– Hồ Lak : Hồ tự nhiên lớn nhất của Đak Lak, nằm ở chân núi Chư Yang Sin.
– tỉnh Đak Lak : Đất nước (đak) của hồ (lak), xứ sở Lak.
– huyện Lak
– huyện, xã Lak Kon Ku
Lak chuyển qua tiếng Việt vẫn là lắc, trong nghĩa rung lắc. Hồ Lak chuyển qua tiếng Việt là hồ Động Đình,mà theo huyền sử Kinh Dương Vương lấy con gái của Long Vương hồ Động Đình, sinh ra Lạc Long Quân là thủy tổ của dân tộc Việt, và hồ Động Đình là biên giới phía Bắc của nước Xích Quỷ.
Gió Động Đình mẹ ru con ngủ
Trăng Tiền Đường ấp ủ năm canh
Tiết trời thu lạnh lành lanh
Cỏ cây khóc hạ, hoa cành thương đông
Bống bồng bông, bống bồng bông
Võng đào mẹ bế con rồng cháu tiên
TUM (tiếng Bana) : Ao, hồ, đầm lầy, bầu nước, vũng, đầm, vùng trũng
– Kon Tum : Đây là vùng trũng dọc theo lưu vực sông Đăk Bla, có nhiều ao chuôm nên được gọi nôm na như vậy. Xưa kia khu vực này đã từng có một hồ lớn tại thành phố Kon Tum ngày nay. Ba Na là dân tộc bản địa vùng đất Kon Tum, và Kon Tum là nói theo tiếng Ba Na. Một ngôi làng của người Ba Na sống vùng ven hồ đặt tên là Kon Tum (làng Hồ). Kon Tum chia thành làm 2 làng
– – Kon Tum Kơpâng (Làng Hồ Trên)
– – Kon Tum Kơnâm (Làng Hồ Dưới).
– Toom Sara là tên một làng trên Đà Lạt. “Toom” trong tiếng Cơ Tu nghĩa là suối, “Sara” là tên một loài hoa rừng. Toom Sara được Việt dịch ra là suối Hoa.
Tum chuyển sang tiếng Việt là tũm, ũng, vũng, trũng
KRÔNG : sông, suối
– Krong Nô : sông (krông) đực (Nô)
– Krong Ana : sông (krông) mẹ (Ana)
– Krông Búk : suối (Krông) tóc (Buk)
– Krông Pắc,
– Krông Bông,
– Krông Kmar,
– Krong Năng
– Krông B’Lah
SÊ
– Sông Sê San
– Sông Sê Kông
– Sông Sê rôn, bắt nguồn từ biên giới Lào Việt, phía Lào, hợp với Se sap thành Sê kông
– Sông Sê sáp, bắt nguồn từ A Lưới
– Sông Sêrêpok, sông Srepok, sông Xrêpok
ASÊ – AXEH : Axeh trong tiếng Jrai và Bahnar đều có nghĩa là (con) ngựa. Trong cách nói của người Jrai và Bahnar, chữ A đứng đầu câu thường bị “nuốt” mất, nên chỉ còn nghe được từ Xeh, từ đó, những người không thuộc chủ nhân của ngôn ngữ này tiếp nhận và đọc chệch là Sê.
– Chư Sê : Núi ngựa. Chư Sê là tên của dãy núi ngăn cách cao nguyên Pleiku với vùng trũng Cheo Reo (Ayun Pa) theo chiều Bắc Nam. Đèo Chư Sê cắt ngang dãy núi này. Chư Sê cũng là tên huyện cũ.
– – – Cách giải thích thứ nhất cho rằng: Địa danh này ban đầu là tên của vùng núi thường có ngựa đến ăn cỏ. Khu vực người Jrai và Bahnar ở phía Đông cao nguyên Pleiku trước nuôi rất nhiều ngựa. Ngựa được nuôi chủ yếu để phục vụ cho việc đi săn (bằng hình thức săn vây). Hiện tên tuổi những người giỏi cưỡi ngựa săn bắt trong vùng còn được lưu truyền đến ngày nay như: bok Tu, bok Brơng, bok Piơm… Ngày nay, trong phong tục cổ truyền ở vùng này vẫn còn nghi lễ liên quan đến ngựa, mà đồng bào gọi là Koh sa axeh (lễ ăn ngựa).
– – – Cách giải thích thứ 2 liên quan đến chính đoạn đèo Chư Sê: Đầu thế kỷ XX, con đường từ Tuy Hòa, qua Cheo Reo lên Pleiku chỉ là một đường đất nhỏ. Những thương nhân người Kinh thường dùng ngựa để chở hàng hóa, nhu yếu phẩm và muối từ đồng bằng lên bán cho đồng bào các dân tộc thiểu số vùng cao. Đến đoạn đường đèo quanh co này, phần vì mệt, phần vì khát nước và đói cỏ, nhiều con ngựa đã không trụ nổi mà chết tại đây. Thấy nhiều ngựa bị chết trên đoạn đèo này, dân những làng gần đó gọi núi này là Chư Axeh.
TONG : nước theo tiếng Mơ Nâm
– Toong Ly Leng : 1 trong 7 hồ nước trong truyền thuyết Măng Đen
– Toong Ziu : 1 trong 7 hồ nước trong truyền thuyết Măng Đen
– Toong Zơ Ri : 1 trong 7 hồ nước trong truyền thuyết Măng Đen
– Toong Săng : 1 trong 7 hồ nước trong truyền thuyết Măng Đen
– Toong Pô : 1 trong 7 hồ nước trong truyền thuyết Măng Đen
– Toong Đam : 1 trong 7 hồ nước trong truyền thuyết Măng Đen
ĐRAY : thác
– Thác Dray Nư của sông Serepok : Thác (Dray) Hầm (Nư), nên thường được gọi là Thác vợ
– Thác Dray Sap của sông Serepok : Thác (Dray) Khói (Sap), thường được gọi là Thác chồng
Truyền thuyết kể rằng, xưa kia ở Đăk Lăk, dòng sông Srêpốk chỉ mới là một dòng nước bình thường, chảy quanh thôn làng. Và rồi, ở nơi hai bên bờ sông, một đôi nam nữ đã đem lòng yêu thương nhau, nhưng tình yêu của họ không chỉ bị ngăn cách bởi dòng sông, mà còn bị cấm đoán bởi hai gia đình. Quá đau khổ, trong một đêm tĩnh lặng, đôi tình nhân cùng nhau gieo mình xuống dòng nước để mãi mãi bên nhau. Thời khắc ấy, từ đâu gió to sóng lớn nổi lên cơn thịnh nộ, chia tách sông Sê-rê-pôk thành hai nhánh, mà sau này người dân hay gọi là nhánh sông đực và nhánh sông cái. Dòng chảy của nhánh sông đực đã tạo ra thác Dray Sap và dòng chảy của nhánh sông cái chính là hiện thân của thác Dray Nur
—o—
EA, IA, YA (tiếng Jrai) : Nước, thuỷ, vùng đất của nước, như người Việt nói nước Việt, nước Anh, nước Lào …
– Ea Ryu : nước Phú Yên
– Ea Trang : nước Nha Trang
– Patao Ea : Vua Thuỷ
– Ia Grai : Huyện
– Ia H’Drai :
– – – Huyện Ia H’Drai
– – – Ia H’Drai vốn là tên gọi địa phương của sông Sa Thầy, con sông chảy ở vùng thung lũng nằm giữa hai dãy núi lớn chạy song song theo chiều Bắc – Nam của huyện này. Trước đây, con sông còn có một số tên gọi khác như Đăk Hơdrai, Nam Sathay (của người Lào) hoặc Nậm Sa Thầy (đã được Việt hóa).
– Ia Khai
– Ea Sôp
– Ia Lốp
APUI : hoả, lửa
– Patao Apui
—o—
GRAI (jrai, garai, gialai, djarai, giơ rai) : rồng theo tiếng Jrai
– tỉnh Gia Lai
– huyện Ia Grai
– tháp, vua Po Krung/Klong Grai
– người Jrai, chung gốc với người Eđê nói ngôn ngữ Nam Đảo như người Chăm
—o—
CHƯ (Cưk – Câk, tiếng Chăm là Chơh) : núi, quả núi
– Chư Mố : “Mố” là cô gái. Chư Mố là “Núi Cô gái”. Trước kia, tên đầy đủ của ngọn núi này là “Chư Mố H’Bia Chơ Năng”, trong đó từ H’Bia nghĩa là công chúa.
– Chư Yang Sin
– Chư Yang Lak
– Chư Tao Yang : núi cất Gươm thần của Vua lửa
– Chư A Thai : núi liên quan đến Vua nước
– Chư H’Drong (núi Hàm Rồng)
– Chư Mư (núi Vọng Phu)
– Chư Đăng Ya,
– Chư Mon Rây,
– Chư Tun
– Chư Sê
– Chư Sa,
– Chư Pah,
– Chư Prong,
– Chư Puh …
– Yang Cưk (Yang Câk – thần núi)
NGOK : núi
– Ngok Ring : Ngọc Linh, núi cao nhất Tây nguyên (2877m).
—o—
KON (tiếng Ba Na) : Cách gọi tên người con của, thứ được sinh ra và nuôi dưỡng bởi cái cha mẹ, mà được sau chữ Kon này
– Tồng – Tàng kon K’Rơng nghĩa là anh em Tồng – Tàng con bà Rơng;
– Du Bot kon K’Glang : anh em Du và Bot con bà K’Glang .
– Kon Ka Kinh là tên một ngọn núi cao nhất mà cũng là tên của vùng rừng núi, nay là vườn quốc gia Kon Ka Kinh. Kon Ka Kinh là con (kon) của Ka Kinh.
– Kon Chư Răng : Con (kon) của núi Răng
– Kon Tum : Con (kon) của Tum, với Tum là mẹ xứ sở của các vùng đất trũng, con của các hồ ao, vùng đất của ao hồ, ven sông nơi người dân tụ tập sinh sông. Kon Tum là vùng trũng dọc theo lưu vực sông Đăk Bla, có nhiều ao chuôm. Xưa kia khu vực này đã từng có một hồ lớn tại thành phố Kon Tum ngày nay đã mất. Ba Na là dân tộc bản địa vùng đất Kon Tum, và Kon Tum là nói theo tiếng Ba Na.
– Kon Plong : tên cao nguyên và là tên huyện
– Kon Hà Nừng là tên của cao nguyên nằm sát với cao nguyên Kon Tum.
– Kon K’lôc : thôn
Kon chuyển sang tiếng Việt vẫn cứ là con trong nghĩa con trai, con gái, con của cha mẹ, con rồng cháu tiên. Cách dùng của “Kon” tương đương cách dùng “son” trong tiếng Anh trong cách đặt tên con dựa theo tên cha như Johnson, Jackson, Wilson, Harrison, Davidson, Richardson, Thompson), trong cách gọi tên dựa theo nghề nghiệp đàn ông như Smithson, Clerkson hay đơn giản là tên con trai như Mason, Grayson, Hudson, Carson, Jameson, Bryson, Dawson, Edison, Emerson, Tyson
Tuy nhiên Kon trong tiếng Tây Nguyên là người con của mẹ xứ sở, nghĩa là mẹ cấp cao nhất, bao trùm nhất. Cái làng là một đứa con nằm trong lòng xứ sở, nên Kon đặt cùng tên làng thì nghĩa là làng.
PLEI (Plơi hoặc Pơlei tiếng Jrai) : trái cây, là đứa con của cái cây, thay vi đứa con của con thú, và một cái làng plei là đứa con của rừng.
– Plei cu
– Plei ơi : làng của vua lửa
– Plei măng : làng của vua gió
– Plei tao : làng của vua nước
– Plei Mor, Plei Sar, Plei Klêng, Plei Chôt, Plei Chôt, Plei Reh, Plei Tang… Làng được mang tên của người có uy tín nhất trong làng.
– Bok Kơ Dă Plei : chủ làng
– Bok Kră Plei : già làng
Cách tạo nên tên làng của Tây Nguyên là
– Đak (nước) + tên : làng, đứa con của nước
– Plei (cây) + tên : làng, đứa con của rừng
– Kon (con) + tên : làng, đứa con của núi
Có những làng lúc ban đầu chỉ là một, về sau tách ra thành 2 hoặc nhiều làng khác
– Kơ tu : gốc, nguyên thủy Kon Mơ nay Kơ tu, Plei Kroong kơ tu
– Klah có nghĩa là tách ra, mới, phát sinh thêm Kon Nơ nay Kơ tu, Kon Mơ nay Klah, Plei Kroong klah
RING : Làng bao quanh núi hay bao quanh một huyệt, một tâm điểm nào đó, vì trường lực hấp dẫn, keo hơn từ điểm trung tâm này, cũng là vùng đất tổ
– Ngok Ring : Ngọk: núi, Ring: làng, vùng đất chung của tổ tiên
BUÔN (tiếng dân tộc E Đê) : buôn
– Buôn Đôn
– Buôn Ma Thuột
Buôn là từ đã được Việt hoá, dùng trực tiếp không cần dịch thành làng. Ở Miền Bắc, người mẹ thường được gọi theo tên con hoặc theo tên chồng. Bà Chanh thì tên là Gấm, Chanh là tên chồng bà. Các cô giáo dạy trẻ thường không biết tên phụ huynh mà chỉ gọi là cha của bé Thuỷ, mẹ của bé Lâm.
BÙ (tiếng Stiêng) là vùng đất có đông người tụ lại sinh sống
– Bù Đốp là một huyện biên giới nằm ở phía bắc tỉnh Bình Phước, giáp Campuchia
– Bù Đăng là xã trong vùng đất nổi tiếng với văn hóa dân tộc S’tiêng, M’Nông, di tích Sóc Bom Bo và nhiều cảnh quan thiên nhiên như Thác Đứng, rừng cao su.
– Bù Gia Mập là một huyện biên giới và cũng là tên vườn quốc gia nổi tiếng thuộc tỉnh Bình Phước, sát với cao nguyên M’nông.
—o—
KU : bắc, thượng
– Pleiku : Làng (Plei) Kưdưr Bắc
– Lak Kon ku : Hồ (Lak) con (Kon) trời (ku) hoặc hồ hậu thiên
—o—
ƠI : ông già được kính trọng, như ông vua, ông thày mo, ông già làng
– Plei ơi (làng của vua lửa)
AMA : Cha
– Buôn Ma/Ama Thuôt : buôn cha thằng Thuột, Ama là cha; Thuột là tên con; người Ê Đê khi có con trai, thì họ gọi nhau bằng tên của con trai mình, ở đây A ma Thuột nghĩa là Cha của Thuột và thường gọi là Cha Thuột. Thuột là tên một vị tù trưởng giàu có và quyền uy nhất vùng. Từ làng của vị tù trưởng này đã hình thành nên các buôn làng xung quanh, phát triển thành thành phố Buôn Ama Thuột ngày hôm nay.
MUM : Mẫu, Mẹ
– Tháp Yang Mum : Tháp Mẫu Thần
PTAO : Vua
YANG : Giàng, thần, đấng
– Yang Allah : Thượng Đế, đấng Allah
– Yang/Ya Ea (Ya Ia hay Ya Aia) : Thần nước
– Yang Ju H’mang
– Yang Cưk (Yang Câk) : thần núi)
– Tháp Yang Mum
– Tháp Yang Prong
– Núi Chư Yang Sin
– Núi Chư Yang Tao
– Núi Chư Yang Lak
PÔ : Vua, thủ lĩnh, đứng đầu
– vua Pô Rôme được thờ ở tháp cùng tên
– tháp Podam
– sông Pô Tô
Y : họ hay âm đặt trước tên riêng để gọi theo giới tính của người dân tộc Tây Nguyên, ví dụ người Bhanar và Sêđăng nam chữ Y, nữ chữ A
– Y Thih : Thần Gươm (truyền cho vua Lửa)
– Y Rit
H’BIA (đọc là hờ bia hoặc bia) : Công chúa, con thủ lĩnh
– H’Bia Than Can : Công chúa (bia) hạt mưa (than can), con gái thủ lĩnh Êđê, vợ vua Po Rome, tên gốc H’Drah Jan Kpă (1630-1654)
– H’Bia Mamih Ea : Công chúa vùng nước suối (Ea) có vị ngọt (Mamih).
– H’Bia Drang : trong sự tích công chúa H’Bia Đrang là nàng công chúa con của trời
– Chư Mố H’Bia Chơ Năng, gọi tắt là Chư Mố : Núi Cô công chúa Chơ Năng
—o—
PA
– Thác Pa Sỹ : Thác Pa Sỹ được hình thành từ 3 ngọn suối lớn nhất ở Măng Đen nên được gọi là Pau Suh, theo tiếng dân tộc, Rơ Măm có nghĩa là 3 nguồn suối chụm lại thành một dòng. Sau này tên thác được đọc chệch đi thành Pa Sỹ.
– Ea Pa
– Ayun Pa
—o—
BUK : tóc
– Krông Buk : Suối tóc
GIA NGHĨA : Gia đình của người dân Quảng Ngãi. Gia Nghĩa là thị xã tỉnh lỵ tỉnh Đắk Nông, mà là nơi định của người dân di cư từ Quảng Ngãi lên Đak Nông.
Nguồn
– Ý nghĩa tên các địa danh ở Tây Nguyên
