THẾ TRONG TRUYỆN KIỀU

Loading

Có thể nói không hiểu thế trong truyện Kiều là coi như chưa đọc truyện Kiều.
THẾ CỦA KIỀU
Kiều là có nghĩa là cầu. Cầu là một dạng thế đặc biệt để cắt qua một luồng vận hành mà không ảnh hưởng đến nó. Cầu Kiều không phải cầu bình thường. Kiều là một cây cầu có thế rất đặc biệt, vận hành được ngay cả khi thế dọc và thế ngang so với dòng sông bị chặn.
Bồng bồng mẹ bế con sang
Đò dọc quan cấm, đò ngang không chèo
Muốn sang thì bắc cầu kiều
Muốn con hay chữ phải yêu lấy thầy
THẾ CỦA ĐOẠN TRƯỜNG TÂN THANH
Truyện Kiều còn có tên là Đoạn trường Tân Thanh, mà có thể chia đơn giản ra thành thế Đoạn trường (thuộc hình thế) và thế Tân thanh (thuộc thanh thế).
Thế đoạn trường là thế đoan và thế trường. Thế đoạn là thế đơn cá thể, đứt đoạn rời rạc. Thế trường là thế tổng thể kết nối chung chung.
Đoạn trường là một thế đặc biệt trong đầu thai luân hồi, mà liên quan đến một trường đứt đoạn trong một luân hồi đầu thai liên tục dạng chuỗi sóng.
Trong luân hồi đầu thai có hiện tượng chuyển tiếp liên tục giữa giai đoạn trong một cuộc đời, giữa các đầu thai trong một chuỗi đầu thai và giữa các chuỗi đầu thai trong một luân hồi đầu thai, nói cách khác giai đoạn cũ kết thúc là lúc giai đoạn mới bắt đầu. Khi một chu kỳ của vòng đời rơi vào đoạn trường, chu kỳ đó đứt rời ra khỏi chu kỳ trước đó và chu kỳ sau đó của vòng đời. Tương tự với các đời đoạn trường và các chuỗi đời đoạn trường.
“Tân thanh” là thế chuyển cao độ, chuyển thanh. Ví dụ một chữ Ma nói theo các thanh khác nhau ra Ma, Mã, Mà, Má, Mả, Mạ. Ví khác là càng nói càng tức giận quá nên tiếng cứ to giân, giọng cứ cao dần, hoặc thấy át vía được dạy bảo được người ta nên cứ cao giọng dần.
Qua đoạn trường để đạt được tân thanh, nói cách dân gian là qua khổ đau và thử thách để có sự trưởng thành thì đoạn trường mới có ý nghĩa.
Đoạn trường thường rất vất vả khổ đau vì phải nối các đoạn đứt gãy này thành chuỗi để chúng có thể tiếp tục vận hành trong chu kỳ của chuỗi sóng gốc. Việc này không dễ, nên nhiều người không thể nào quay lại cuộc bình thường sau đoạn trường, thậm chí nhiều người chết thành ma sau đoạn trường không thể nào tiếp tục chuỗi luân hồi luân hồi của mình nữa. Đây là trường hợp qua đoạn trường mà không có được tân thanh.
THẾ TRONG BỐI CẢNH TRUYỆN KIỀU
Nguyễn Du viết truyện Kiều vào thời vua Nguyễn Thế Tổ (1802 – 1820) Gia Long. Trong tất cả triều đại phong kiến của nước ta, Gia Long là vua duy nhất có miếu hiệu Thế tổ (cùng với Trịnh Kiểm là chúa duy nhất có miếu hiệu Thế tổ).
Thời kỳ xảy ra câu truyện cuộc đời Kiều là Gia Tĩnh đời Mình. Gia Tĩnh triều Minh là niên hiệu của Minh Thế Tông (1507 – 1567). Mỗi triều đại phong kiến của Trung Quốc có thể có tối đa một vị Thế Tông, và Gia Tĩnh Đế là vị vua có miếu hiệu Thế tông duy nhất của nhà Minh.
Nguyễn Du mô tả cái thế của triều đại đó bằng hai câu thơ
Rằng: Năm Gia Tĩnh triều Minh,
Bốn phương phẳng lặng, hai kinh vững vàng.
“Bốn phương phẳng lặng, hai kinh vững vàng” là thế rất đặc biệt trong Kinh dịch gọi là Tứ tượng, mà là một trạng thái cân bằng và an tĩnh sau Lưỡng nghi và trước Bát quái.
Trong đời vua Thế tổ và ít hơn trong đời vua Thế tông, đều có sự chuyển đổi thế cục cực kỳ lớn, làm thay đổi đại vận của cả đất nước và dân tộc. Đó là điều chúng ta có thể quan sát được trong triều đại của vua Gia Long, từ một người dòng dõi Chúa Nguyễn bị truy đuổi bởi Tây Sơn đã sáng lập ra nhà Nguyễn, triều đại phong kiến cuối cùng của đất nước ta mà kết thúc bằng sự chuyển giao quyền lực sang nhà nước Việt Nam dân chủ công hoà được khai sinh bởi Hồ Chủ Tịch vào ngày 2/9/1945.
Nếu như trong truyện Kiều, Kiều là người phải đi qua Đoạn trường thì trong thời kỳ Nguyễn Du viết truyện Kiều, cả đất nước và cả dân tộc phải đi qua Đoạn trường, với Đoạn trường trong cuộc đời của Gia Long là cực kỳ rõ nét. Một số người cho rằng Nguyễn Du không thích Gia Long, nên ông đã từ quan và truyện Kiều là một tác phẩm chửi chế độ phong kiến, mà cụ thể là chế độ của Gia Long. Nguyễn Du chắc chắn hiểu sâu sắc ý nghĩa của Đoạn trường mà không chỉ chính ông và gia tộc của ông đã phải trải qua. Với nhận thức cực kỳ cao khi viết ra truyện Kiều, có thể Nguyễn Du sẽ hiểu được theo cách của mình đoạn trường của Gia Long phải trải qua.
NHÂN TÌNH THẾ THÁI CỦA TRUYỆN KIỀU
Truyện Kiều mở đầu bằng sau câu mô tả nhân tình thế thái nói chung.
Trăm năm trong cõi người ta,
Chữ tài, chữ mệnh khéo là ghét nhau.
Trải qua một cuộc bể dâu.
Những điều trông thấy mà đau đớn lòng.
Lạ gì bỉ sắc tư phong,
Trời xanh quen thói, má hồng đánh ghen.
“Nhân tình thế thái” là trong người trong nhân gian chia ra thành các thái cực như xấu – tốt, ác – hiền, ngay thẳng – dối trá … hay như ngôn ngữ của Kiều là tài – mệnh.
Dù rằng Kiều sống trong thời kỳ nhân tình thế thái thế nào thì cuộc đời sẽ bị ba chìm bảy nổi theo y như thế, nhưng đoạn đầu truyện này không giới thiệu về cuộc đời của Kiều, như nhiều người phân tích.
Các thái cực của nhân tình thế thái trong truyện Kiều được gọi là “hai kinh vững vàng”, mà cân bằng nhau và đều ở trạng thái ẩn, nên bề ngoài thì xã hội có vẻ rất giàu có, phồn vinh, yên bình “bốn phương phẳng lặng”.
– “Hai kinh vững vàng” là kinh Tài & kinh Mệnh trong câu “Chữ tài, chữ mệnh khéo là ghét nhau”. “Bốn phương phẳng lặng” là “Trăm năm trong cõi người ta”. “Trải qua một cuộc bể dâu” thì việc chữ Tài và chữ Mệnh ghét nhau đã thành thực trạng chung của xã hội là “Những điều trông thấy mà đau đớn lòng”.
– “Hai kinh vững vàng” là kinh “Trời xanh quen thói” – Thiên mệnh vận hành theo nghiệp và kinh “má hồng đánh ghen” – Thân thể vận hành theo sắc. “Bốn phương phẳng lặng” là “bỉ sắc tư phong” đã không còn “lạ gì” nữa rồi.
CHUYỂN THẾ TRONG KẾT CẤU CHƯƠNG HỒI CỦA TRUYỆN KIỀU
Mạch truyện Kiều diễn biến rất nhanh, rất dữ dội và rất đứt đoạn, qua các hồi. Từ chương này qua chương khác, mạch truyện đã thay đổi hoàn toàn, thậm chí mạch truyện trong một chương cũng thay đổi rất nhanh.
Hồi 01: Gia cảnh họ Vương
Hồi 02: Kiều chơi tết thanh minh
Hồi 03: Kiều mơ gặp Đạm Tiên
Hồi 04: Kiều thề nguyền với Kim Trọng
Hồi 05: Kim Trọng về quê hộ tang
Hồi 06: Kiều bán mình chuộc cha
Hồi 07: Kiều gửi duyên Thuý Vân
Hồi 08: Kiều bị Mã Giám Sinh hại
Hồi 09: Kiều rơi vào tay Tú Bà
Hồi 10: Kiều mắc lừa Sở Khanh
Hồi 11: Kiều ở lầu xanh
Hồi 12: Kiều gặp Thúc Sinh
Hồi 13: Kiều kết duyên Thúc Sinh
Hồi 14: Thúc Sinh về thăm Hoạn Thư
Hồi 15: Hoạn Thư ghen tuông lập kế
Hồi 16: Kiều ở nhà họ Hoạn
Hồi 17: Kiều trốn khỏi nhà họ Hoạn
Hồi 18: Kiều gặp Từ Hải
Hồi 19: Kiều báo ân báo oán
Hồi 20: Từ Hải mắc lừa Hồ Tôn Hiến
Hồi 21: Kim Trọng tìm Kiều
Hồi 22: Kim, Kiều tái hợp
Qua mỗi hồi, cuộc đời Kiều lại đi qua những bước ngoặt, với những tình tiết mới và những quan hệ mới, khác hẳn với hồi trước đó.
Các đoạn của đoạn trường của Kiều ứng chính xác với các hồi của truyện Kiều nghĩa là 22 đoạn.
Con số 22 này có ý nghĩa gì và có liên hệ như thế nào với số 10 bài thơ hoạ để vào Đoạn trường mà Hội chủ dành cho Kiều ? Con số này liên quan đến các thế. 10 là con số dương của Thiên can, của Thiên Mệnh. Con số 22 liên quan đến các thế âm, như là 33 hoá thân (33 thế) của mẹ Quán thế âm.
CHUYỂN THẾ, NHẬP THẾ & XUẤT THẾ KHI BẮT ĐẦU & KẾT THÚC ĐOẠN TRƯỜNG
Hình dung cuộc đời của Kiều là một dòng chảy và đoạn trường là một đoạn trong cuộc đời đó
– Chuyển thế để vào Đoạn trường :
– – – Sự kiện Kiều đi chơi Tết Thanh Minh
– – – Sự kiện Kiều làm lễ xe tơ kết tóc với Kim Trọng
– – – Sự kiện Kiều hoạ 10 bài thơ Đoạn trường của Hội đêm Kiều gặp Đạm Tiên trong giấc chiêm bao
– Nhập thế để bắt đầu Đoạn trường :
– – – Sự kiện gia đình Kiều bị mắc án oan
– – – Sự kiện Kiều bán mình chuộc cha
– – – Sự kiện Kiều trao duyên cho Thuý Vân
– Xuất thế để kết thúc Đoạn trường :
– – – Sự kiện Kiều nhảy sông Tiền Đường sau khi bị Hồ Tôn Hiến ép
– – – Sự kiện Kiều gặp Đạm Tiên
– – – Sự kiện Kiều được Giác Duyên vớt lên
– Chuyển thế ra khỏi Đoạn trường về tinh thần :
– – – Sự kiện Kiều tu với sư Giác Duyên
– – – Sự kiện Kiều quay về với gia đình
– – – Sự kiện Kiều làm lễ bái đường với Kim Trọng
Đoạn trường thể hiện ở dạng tiềm ẩn trong tinh thần của Kiều, đặc biệt trong tiếng đàn bạc mệnh của Kiều từ nhỏ. Số phận đoạn trường của Kiều đã được một thày bói báo trước cho bố mẹ Kiều từ khi Kiều còn nhỏ, mà như Đạm Tiên nói là có sẵn tên trong sổ Đoạn trường. Kiều cũng linh tính được việc này, nên có sự đồng cảm với số phận đau khổ của Đạm Tiên.
Đoạn trường thực sự kết thúc về tinh thần là khi Kiều đánh đàn cho Kim Trọng nghe và tiếng đàn của Kiều nghe đã khác hẳn
Chàng rằng: “Phổ ấy tay nào?
Xưa sao sầu thảm, nay sao vui vầy?
Tẻ vui bởi tại lòng này,
Hay là khổ tận đến ngày cam lai?”
Nàng rằng: “Vì chút nghề chơi,
Đoạn trường tiếng ấy hại người bấy lâu!
Một phen tri kỷ cùng nhau,
Cuốn dây từ đấy, về sau cũng chừa.”
THẾ DÂN – CON MỒI & THẾ QUAN – KẺ SĂN MỒI
Thế chung của Kiều trong Đoạn trường là món hàng bị mua bán và là con mồi bị săn đuổi đến cùng đường phải mất mạng
Hai sự kiện mở đầu và kết thúc đoạn trường Kiều đều liên quan đến tận thế cùng đường sống của dân dưới mưu đồ của quan chức của triều đình, mà hoàn toàn ở thế trên so với dân.
– Sự kiện mở đầu Đoạn trường : Án oan đã đẩy gia đình Kiều (gia đình Vương ông và các con) vào thế cùng đường để phải bán mình chuộc cha
– Sự kiện Từ Hải chết đứng còn Kiều thì nhảy sông Tiền Đường đều xuất phát từ việc Kiều và Từ Hải mắc mưu của mệnh quan triều đình Hồ Tôn Hiến.
Sự kiện Kiều mắc mưu của Hồ Tôn Hiến chính là sự thất bại của Kiều trong việc nhận thức mình là con mồi cho kẻ săn mồi là viên quan Hồ Tôn Hiến. Nói cách Kiều đã không hiểu đúng thế con mồi của mình, một người dân đen với thú săn mồi là quan chức triều đình và phải trả giá bằng mạng sống của cả Từ Hải và mình.
THẾ TRÔI XUÔI BẮC NAM CỦA KIỀU TRONG ĐOẠN TRƯỜNG
Các địa điểm mà Kiều đã đi qua trong Đoạn trường đi theo chiều từ Bắc, cụ thể là Bắc Kinh xuống Nam (vùng Giang Nam, nơi có Nam Kinh)
– Bắc Kinh : quê nhà của Kiều
– Lâm Truy, Sơn Đông : lầu xanh của Tú Bà & Mã Giám Sinh
– Vô Tích, Giang Tô : nhà của Hoạn Thư
– Châu Thai, Chiết Giang : lầu xanh của Bạc Hà & Bạc Hạnh
– Tiền Đường, Chiết Giang : Kiều nhảy sông Tiền Đường
Sơ đồ Đoạn trường của Kiều vẽ theo các địa điểm này gần như trùng với sơ đồ Đại Vận Hà nối Hải Hà của Bắc Kinh với Tiền Đường, qua Hoàng Hà (sông cùa văn minh Hoa Bắc), Hoài Hà (con sông làm ranh giới của Hoa Bắc và Hoa Hạ) và Dương Tử (con sông của văn minh Hoa Hạ, đúng hơn là của văn minh Việt cổ)
TẬN THẾ ĐOẠN TRƯỜNG CỦA KIỀU
Tại sao Kiều chỉ có kết thúc Đoạn trường ở sông Tiền Đường ?
Ca dao Việt có câu
Công cha như núi Thái Sơn
Nghĩa mẹ như nước trong nguồn chảy ra
Núi Thái Sơn ở nước Việt là Tản Viên, nước trong nguồn chảy ra ở nước Việt là sông Hồng.
Núi Thái Sơn ở nước Trung Quốc là núi Thái Sơn ở Sơn Đông và nước trong nguồn chảy ra ở Trung Quốc là Tiền Đường, vì nước nguồn là một trong các nghĩa của tên Tiền Đường.
Vấn đề là sông Tiền Đường và sông Hồng có chung một mạch nguồn gốc và núi Thái Sơn Sơn Đông và núi Tản Viên có chung một gốc, nên câu ca dao này luôn luôn đúng với cả hai trường hợp.
Vì Kiều là người Việt theo dòng máu, nên Kiều về phải về mẹ xứ sở của dòng máu Việt, thì mới có thể kết thúc Đoạn trường của mình.
Năng lực đạt được thế Tuyệt này của Thuý Kiều (và cả Thuý Vân) đã được hé lộ ngay ở phần mở đầu truyện Kiều :
Mai cốt cách, tuyết tinh thần,
Mỗi người một vẻ, mười phân vẹn mười.
Điều quan trọng là ở thời khắc Tận thế, dù trải qua cả Đoạn trường, chỉ cần Kiều giữ được “mai cốt cách, tuyết tinh thần” của mình, Kiều sẽ chạm được vào Tuyệt. Và rõ ràng là Kiều đã làm được điều này, vượt qua được Đoạn trường quay về cuộc sống bình thường của mình trước Đoạn trường.
TẬN THẾ CỦA MẠT PHÁP
Mạt pháp là thời cuối của một chu kỳ văn minh mà đứt gãy liên kết với cái gốc của văn minh. Các đầu thai trong Mạt pháp thường rời rạc và đứt gãy liên kết với cái gốc của chuỗi luân hồi đầu thai đó, tạo thành Đoạn trường Mạt Pháp của chuỗi luân hồi đầu thai. Nếu không ghép được Đoạn trường Mạt Pháp này vào chuỗi đầu thai gốc, thì luân hồi không thể kết thúc, mà đầu thai cũng không thể tiếp tục.
Kết thúc đoạn trường của kỳ mạt pháp được gọi là tận thế.
Trong vòng đời của một người, mà phản ánh trong Tử vi bằng vòng trường sinh, tận thế là Tuyệt.
Về với cha và mẹ xứ sở của dòng máu gốc của mình là thế mà chúng ta cần đạt được khi mỗi người đoạn cuối cùng của vòng đời của mình, mà trong vòng trường sinh của Tử Vi gọi là Tuyệt. Thế này cho phép chúng ta giữ được vòng trường sinh, nói cách khác là sự bất tử của sinh mệnh linh hồn trong vòng luân hồi đầu thai.
Vào thời khắc tận thế của Mạt Pháp, mỗi người chúng ta cũng phải ở đúng thế Tuyệt theo vòng trường sinh của mình, với “Mai cốt cách, tuyết tinh thần” gốc của mình, theo đúng cách Kiều đã đi, thì chúng ta sẽ làm được điều Kiều đã làm.
Đó chính là Đạo Kiều mà Kiều đã sống làm mẫu cho mỗi chúng ta như lời của Tam Hợp Đạo Cô đã nói “Hai một người cứu muôn người”. Vấn đề chỉ là ở mỗi chúng ta, chúng ta có quyết đi theo con đường đạo Kiều để cứu chính mình trong Mạt Pháp hay không.
Chia sẻ:
Scroll to Top