![]()
Các nước Ngô trong lịch sử
– Nước Ngô thời Xuân Thu (771 đến 476 TCN)
– Nước Tôn Ngô hoặc Đông Ngô thời Tam Quốc (220-280)
– Nước Ngô Việt trong thời kỳ Ngũ đại Thập quốc (907-960)
– Ngô còn gọi là Hoài Nam hay Dương Ngô hoặc Nam Ngô tồn tại từ khoảng năm 904 tới năm 937.
NƯỚC NGÔ LÀ NƯỚC NÀO ?
– NƯỚC NGÔ (1200 TCN-473 TCN) THỜI XUÂN THU
Ngô (Phồn thể: 吳國; giản thể: 吴国), còn gọi là Câu Ngô (句吴) hay Công Ngô (工吴; 攻吾). Nước Ngô được thành lập khá sớm, từ thời nhà Thương, sau đó khi nhà Chu đánh đổ nhà Thương, nước Ngp là một nước chư hầu của nhà Chu cho tới khi kết thúc giai đoạn Xuân Thu trong lịch sử Trung Quốc.
Theo Sử ký Tư Mã Thiên, nước Ngô (1200 TCN-473 TCN) có tất cả 25 đời vua tính từ Thái Bá (1360 TCN -1200 TCN) đến Ngô Vương Phù Sai (?-473 TCN).
Nước Ngô nằm ở khu vực cửa sông Dương Tử, tương ứng với phần lớn tỉnh Giang Tô ngày nay. Thủ đô : Ngô (吴; nay là Tô Châu, Giang Tô)
Phía Bắc là nước Lỗ và nước Tề (vùng Sơn Đông), Phía Tây là nước Sở (nằm phía nam sông Dương Tử), Phía Nam là nước Việt và phía Đông là biển Đông.
Các nhân vật lịch sử của nước Ngô
– Ngô Thái Bá (1360 TCN -1200 TCN) : Các vị vua nước Ngô mang họ Cơ, chính là dòng dõi của hoàng tộc nhà Chu. Ngô Thái Bá, người thành lập nên nước Ngô là bác của Chu Văn Vương, Cơ Xương.
– Thọ Mông, vua Ngô đầu tiên xưng vương, sau nước Sở
– Ngô Hạp Lư (514 – 496 TCN), Ngũ Tử Tư, Tôn Vũ (binh pháp Tôn Tử)
– Ngô Vương Phù Sai (?-473 TCN) : Ngô Vương Phù Sai, mất nước vào tay Việt Vương Câu Tiễn, với câu chuyện nổi tiếng về Tây Thi và Phạm Lãi. Ông cũng là người đã giết Ngũ Tử Tư vì nhiều lần can gián ông.
– NGÔ (229 – 280) THỜI TAM QUỐC
Ngô sử gọi là Tôn Ngô (孫吳) hay Đông Ngô (東吳) là một trong 3 quốc gia thời Tam Quốc (220-280) trong lịch sử Trung Quốc.
Ngô (吳) (229 – 1 tháng 5, 280) sử gọi là Tôn Ngô (孫吳) hay Đông Ngô (東吳) là một trong 3 quốc gia thời Tam Quốc (220-280) trong lịch sử Trung Quốc. Trước đó, nó tồn tại từ 220-222 với tư cách là một vương quốc chư hầu dưới danh nghĩa của Tào Ngụy – quốc gia đối thủ, nhưng sau đó tuyên bố độc lập với Ngụy và trở thành một quốc gia có chủ quyền vào năm 222. Đông Ngô trở thành một đế quốc vào năm 229 sau khi lãnh đạo Tôn Quyền tự xưng là hoàng đế.
Nó được gọi là “Đông Ngô” vì nó chiếm phần lớn miền đông Trung Quốc trong thời Tam Quốc và “Tôn Ngô” vì họ của người lãnh đạo nước này là “Tôn”. Trong thời gian tồn tại, thủ đô Đông Ngô ở Kiến Khang (ngày nay là Nam Kinh, Giang Tô), nhưng cũng có lúc ở Vũ Xương 武昌 (ngày nay là Ngạc Châu, Hồ Bắc).
– NGÔ VIỆT
Ngô Việt (907-978), là một vương quốc nhỏ độc lập, nằm ven biển, được thành lập trong thời kỳ Ngũ đại Thập quốc (907-960) trong lịch sử Trung Quốc. Nhà nước này do dòng họ Tiền cai trị, các dấu tích còn lại của nhà nước này vẫn còn khá phổ biến trong lãnh thổ trước đây của Vương quốc.
Tiền Lưu (852-932) tự Cụ Mỹ (có sách ghi là Cự Mỹ), người Lâm An, Hàng Châu, tỉnh Chiết Giang, người sáng lập ra nước Ngô Việt vào thời Ngũ Đại. Vào cuối đời Đường, do theo tướng Đổng Xương dẹp yên loạn Hoàng Sào, Tiền Lưu lãnh chức Trấn Hải Tiết độ sứ. Năm 886, Đổng Xương đem quân vượt sông Tiền Đường, đánh bại Chiết Đông Quan sát sứ vùng Lưu Hán Hoằng (có nơi ghi là Lưu Hán Hồng), chiếm trọn Việt Châu. Do đút lót với Triều đình, họ Đổng được phong Thái úy, Đồng Trung thư Môn hạ Bình chương sự, Lũng Tây Quận Vương. Năm Càn Ninh thứ hai (895) đời Đường Chiêu Tông, do Triều đình không phong cho Đổng làm vua vùng Ngô Việt, y bèn làm phản, tự xưng Hoàng đế, đặt quốc hiệu Đại Việt La Bình Quốc, lấy niên hiệu Thuận Thiên. Đổng Xương phong Tiền Lưu làm Chỉ huy sứ, không ngờ Tiền Lưu khuyên Đổng nên bỏ đế hiệu. Đổng Xương không nghe, liền bị Tiền Lưu đem quân đánh bại và bị giết chết tại Việt Châu. Sau đó, Tiền Lưu chiếm cứ mười ba châu huyện thuộc vùng Lưỡng Chiết (nay là toàn bộ tỉnh Chiết Giang, phần Đông Nam tỉnh Giang Tô và phần Đông Bắc tỉnh Phúc Kiến. Những vùng đất này thuộc lãnh thổ nước Ngô và Việt thời Xuân Thu Chiến Quốc nên khu vực này được gọi chung là Ngô Việt), Tiền Lưu đã được phong làm Việt Vương năm 902, hai năm sau được phong thêm tước Ngô Vương. Năm 907, nhà Đường sụp đổ và nhà Hậu Lương thay thế ở phía bắc thì các tướng lĩnh tại phương Nam đã tạo ra các vương quốc của mình. Tiền Lưu cũng tự xưng Ngô Việt Vương. Sự kiện này đánh dấu sự khởi đầu của thời kỳ Ngũ đại Thập quốc, kéo dài cho đến khi nhà Tống ra đời vào năm 960.
– NƯỚC NAM NGÔ
Ngô (tiếng Trung: 吳), còn gọi là Hoài Nam (淮南) hay Dương Ngô (杨吴) hoặc Nam Ngô (南吴), là một trong mười nước tại miền Trung Nam Trung Quốc, tồn tại từ khoảng năm 904 tới năm 937. Kinh đô của nhà nước này là Quảng Lăng (廣陵) hay Giang Đô (江都), ngày nay là Dương Châu (揚州) tại tỉnh Giang Tô. Quốc gia này bị nhà nước Nam Đường thay thế năm 937.
Người thành lập ra nước Ngô là Dương Hành Mật (852-905) (楊行密) bắt đầu sự nghiệp của mình từ một người lính đầu quân tình nguyện trước khi giành được quyền lực tại Lư Châu trong một vụ đảo chính quân sự để làm Thứ sử. Triều đình nhà Đường khi đó đã suy yếu không thể làm gì ngoài việc công nhận chức vụ của ông. Năm 885, Tiết độ sứ Hoài Nam Cao Biền bị thủ lĩnh quân nổi loạn là Tất Sư Đạc cùng Tần Ngạn bắt giữ. Dương Hành Mật lấy danh nghĩa báo thù cho Cao Biền, đã đánh bại Tất Sư Đạc và chiếm luôn Dương Châu, nhưng khi đó Cao Biền đã bị giết chết. Một thủ lĩnh quân nổi loạn khác là Tôn Nho (孫儒) đã nắm lấy quyền chỉ huy toàn bộ quân đội của Cao Biền. Dương Hành Mật buộc phải rời khỏi Dương Châu để rút về Lư Châu. Tại Lư Châu, Dương Hành Mật đã tăng cường sức mạnh của mình cho đến khi tái chiếm Dương Châu vào năm 892. Vì công lao này, nhà Đường phong ông làm Tiết độ sứ Hoài Nam thay Cao Biền.
Trong khi về danh nghĩa vẫn trung thành với nhà Đường, nhưng các lãnh chúa địa phương đã bắt đầu tạo ra các nhà nước nhỏ của chính mình. Dương Hành Mật đã có xung đột với Chu Ôn của Hậu Lương tại phía bắc và Tiền Lưu của Ngô Việt tại phía nam, nhưng đã bảo vệ thành công lãnh thổ của mình. Năm 902, Dương Hành Mật được Đường Chiêu Tông phong làm Ngô Vương

