![]()
Chiết Giang (浙江) là một tỉnh ven biển phía đông của Trung Quốc. Tên gọi Chiết Giang lấy theo tên cũ của con sông Tiền Đường chảy qua Hàng Châu – tỉnh lị Chiết Giang. Tên gọi tắt của tỉnh này là Chiết.
Chiết Giang giáp giới với
– Phía Bắc : tỉnh Giang Tô và thành phố Thượng Hải
– Phía Tây : tỉnh An Huy và Giang Tây
– Phía Nam : tỉnh Phúc Kiến
– Phía Đông : giáp biển Hoa Đông.
Tỉnh lỵ Hàng Châu đánh dấu sự kết thúc của Đại Vận Hà. Chiết Giang nằm trên vịnh Hàng Châu ở phía bắc Chiết Giang, ngăn cách Thượng Hải và Ninh Ba. Vịnh có nhiều hòn đảo nhỏ gọi chung là quần đảo Chu Sơn.
Chiết Giang chủ yếu bao gồm các ngọn đồi, chiếm khoảng 70% tổng diện tích, với độ cao cao hơn về phía nam và phía tây.
Chiết Giang cũng có đường bờ biển dài hơn bất kỳ tỉnh nào khác của Trung Quốc đại lục.
Trong tỉnh có ba nghìn cù lao, nhiều nhất ở Trung Quốc.
ĐẠI VẬN HÀ
Chiết Giang giữ phần tận cùng phía Nam thông ra biển của Đại Vận Hà
Có 3 phần
– Phần nối từ Bắc Kinh xuống Tô Châu
– Phần nối sang Lạc Dương ở phía Tây
– Phân thông ra biển ở Chiết Giang
Đại Vận phần ở Chiết Giang đi qua
– Hàng Châu
– Thiệu Hưng
– Ninh Ba
THÊ SÔNG NGÔ BỂ SỞ
Sông Ngô nổi tiếng trong thành ngữ “sông Ngô, bể Sở” và “Gánh vàng đi đổ sông Ngô” liên quan đến bốn tỉnh có chữ Giang của Trung Quốc và các con chính của các tỉnh này hiện nay là
– Chiết Giang (sông Tiền Đường hay sông Chiết),
– Giang Tô (sông Hoài, trước thông thẳng với Hoàng Hà và ra biển Đông mà không cần qua Đại Vận Hà),
– Thượng Hải (cửa sông Dương Tử, Thượng Hải trước thuộc Giang Tô)
– An Huy (sông Hoài, An Huy trước là một với Giang Tô),
– Giang Tây (sông Cám, phụ lưu của Dương Tử).
Chiết Giang và Giang Tô, Thượng Hải, gộp vào nhau thành Giang Nam. An Huy tạm gọi là Giang Bắc. Phần của các con sông này chảy ra biển Đông chính là … Giang Đông. Đây là vùng kinh tế trọng điểm của Trung Quốc.
NHÀ HẠ & MỘ CỦA HẠ VŨ
Đây là trung tâm kinh tế lớn nhất của Trung Quốc, đất Hạ cổ xưa của Trung Quốc, mà làm nên văn minh Hoa Hạ và nhà Hạ trước nhà Thương, với Hạ Vũ, vị vua trị thuỷ nổi tiếng của nhà Hạ (mô ở Cối Khê, nay là Chiết Giang)
NƯỚC VIỆT
– Nước Việt thời Hạ, Thương : Thiếu Khang (vua Hạ) phong đất cho Vô Dư thế kỷ XXI trước CN
– Nước Việt của Việt Vương Câu Tiễn thời Xuân Thu và Chiến Quốc trong lịch sử Trung Quốc. Lãnh thổ quốc gia này tương ứng hiện tại ở vùng đất phía nam Trường Giang, ven biển Chiết Giang, Trung Quốc. Bị nước Sở diệt năm 306 trước CN.
– Nước Âu Việt (Đông Âu) (東甌國) (191 TCN – 138 TCN) là một vương quốc cổ đặt tại nơi mà ngày nay là Ôn Châu và Thai Châu, tỉnh Chiết Giang
– Nước Mân Việt
– Nước Nam Việt
– NƯỚC VIỆT
Thủ Đô
– Cối Kê (會稽; nay thuộc huyện Thiệu Hưng, tỉnh Chiết Giang)
– Lang Da (琅琊; nay là Liên Vân, Giang Tô)
– Ngô (吳; nay là Giang Tô)
Các quốc quân nước Việt thuộc dòng dõi thế nào, vẫn còn nhiều tranh cãi, có hai thuyết (1) là hậu duệ Quốc vương nước Sở, (2) là dòng dõi Hạ Vũ, được phong ở đất Cối Kê để lo việc phụng thờ. Nước này nổi tiếng về chất lượng gia công đồ kim khí, đặc biệt là các thanh kiếm của họ. Kinh đô Việt đặt ở Cối Kê, nay thuộc huyện Thiệu Hưng, tỉnh Chiết Giang.
Do vị trí quá xa Trung Nguyên nên tiểu quốc Việt không thu hút nhiều sự quan tâm của nhà Chu và các nước chư hầu lớn. Chỉ đến khi Việt vương Câu Tiễn tiêu diệt nước Ngô, vốn đã đánh phá nước Sở hùng mạnh trước đó, triều Chu phải công nhận địa vị bá chủ phía nam của nước Việt. Thời kỳ này đánh dấu sự thịnh vượng của nước Việt khi quốc gia này nhiều năm nắm giữ địa vị bá chủ trung nguyên với sự công nhận tuyệt đối của triều đình nhà Chu và các chư hầu.
Đầu thời kỳ Chiến Quốc, thế nước Việt vẫn còn rất mạnh. Qua các đời vua tiếp theo sau Câu Tiễn, nước Việt tiếp tục tiến hành tiêu diệt và thâu tóm các nước chư hầu nhỏ khác khiến lãnh thổ tiếp tục mở rộng lên phía bắc. Bấy giờ, lãnh thổ của nước Việt đã rất rộng, giáp ranh hai nước Sơn Đông khác là Lỗ và Tề. Trước khi có sự trỗi dậy của nước Tần, Việt cùng với Sở và Ngụy là ba nước mạnh nhất thời điểm lúc đó. Cũng trong thời gian này mối quan hệ giữa hai nước Tề và Việt không mấy gì là tốt đẹp.
Tuy nhiên, những tranh chấp trong nội bộ dòng tộc đã khiến nước Việt suy yếu, kèm theo đó là những lần bại trận trước nước Sở trong những lần tranh chấp lãnh thổ biên giới đã khiến nước Việt mất dần địa vị bá chủ.
Vào năm 334 TCN, nước Sở mở một cuộc tấn công bất ngờ vào lãnh thổ nước Việt và đoạt lấy vùng Giang Tô, kinh đô cũ của nước Ngô. Cuộc tấn công của nước Sở đã cắt đôi lãnh thổ nước Việt, bấy giờ phần phía bắc của nước Việt đang giáp với nước Tề. Sau nhiều năm kháng cự, cuối cùng nước Việt cũng bị nước Sở tiêu diệt, Việt vương Vô Cương thất trận và bị giết. Lãnh thổ nước Việt bị nước Sở và nước Tề sáp nhập. Con thứ hai của Vô Cương là Minh Di được vua Sở cho cai quản vùng đất Ngô Thành (nay ở huyện Ngô Hưng tỉnh Chiết Giang), nằm ở phía nam Âu Dương Đình, được đặt tên như vậy bởi vì nó được xây dựng ở phía nam và là phía dương (mặt trời) của núi Âu Dương, vì thế ông được đặt danh hiệu là Âu Dương Đình Hầu.
Năm 223 TCN, tướng nước Tần là Vương Tiễn sau khi diệt nước Sở đã tiến vào vùng đất Việt. Các thủ lĩnh người Việt ở đây (là hậu duệ của Câu Tiễn) đều quy phục. Vương Tiễn bèn lấy đất Việt lập quận Cối Kê. Con cháu họ tiếp tục giữ họ Âu, họ Âu Dương hay họ Âu Hầu để tưởng nhớ chức tước ngày xưa của tổ tiên.
– ÂU VIỆT
Đông Âu quốc (東甌國) (191 TCN – 138 TCN là một vương quốc cổ đặt tại nơi mà ngày nay là Ôn Châu và Thai Châu, tỉnh Chiết Giang, miền đông Trung Quốc. Đông Âu hay còn có tên khác là Âu Việt là hậu duệ của Việt Vương Câu Tiễn chạy trốn sau thất bại trước nước Sở. Sau này đã bị một chi tộc khác của Bách Việt – Mân Việt (cũng thuộc dòng dõi Câu Tiễn khác) thôn tính.
– MÂN VIỆT
Nước Mân Việt (閩越) là một vương quốc cổ đặt tại nơi mà ngày nay là tỉnh Phúc Kiến, miền nam Trung Quốc. Vương quốc này tồn tại từ năm 306 trước Công nguyên (TCN) đến năm 110 TCN, cuối thời Chiến Quốc tới thời Tây Hán, với người dân là người của các bộ tộc Bách Việt. Theo Sử ký, những người lập ra vương quốc này là thành viên hoàng tộc của Vương quốc Việt trốn chạy khỏi các cuộc tấn công của nước Sở và nước Tề năm 334 trước Công nguyên.
Mân Việt bị chiếm đóng một phần bởi nhà Hán vào cuối thế kỷ thứ 2 trước Công nguyên. Tuy nhiên, do địa hình được bao bọc bởi núi non, nhà Hán không thể hoàn toàn kiểm soát được vùng này. Theo Sử Ký của Tư Mã Thiên thì cháu 7 đời của Vô Cường (vua cuối cùng nước Việt thời Xuân Thu Chiến Quốc) là Vô Chư vì có công chống Tần nên được Hán Cao Tổ cho phép phục quốc và phong làm Mân Việt Vương. Mân Việt bị thôn tính bởi Nam Việt dưới thời đại Triệu Đà và sau đó, chịu sự cai quản của Nam Việt từ năm 183 đến 135 trước Công Nguyên, cuối cùng bị xâm chiếm bởi nhà Hán năm 110 trước Công Nguyên.
Một thành phố cổ bằng đá trên những dãy núi ở Phúc Kiến được cho là thủ đô của nước Mân Việt, tên là Đông Dã (Dongye- 東冶). Gần đó là các mộ thể hiện truyền thống tang lễ giống với những lăng mộ của nước Việt ở tỉnh Chiết Giang. Do đó, người ta cho rằng, thành phố này chính là trung tâm của nước Mân Việt xưa.
Một phân nhóm dân tộc tên là Huệ An Nữ (tiếng Hoa: 惠安女) tự nhận họ là con cháu của những người Mân Việt xưa. Ngày nay, theo phân loại dân tộc của Trung Quốc, nhóm Huệ An Nữ được xếp làm một nhánh của dân tộc Hán.
