![]()
Người Việt có nhiều cách để gọi người Trung Quốc
– Người Trung Quốc (sống tại Trung Quốc) : Người Trung Quốc là gọi theo tên quốc gia. Họ là công dân của nước Cộng hoà dân chủ nhân dân Trung Hoa.
– Người Hán là gọi theo triều đại nhà Hán. Triều đại nhà (Hán 202 TCN – 9; 25 – 220) được thành lập bởi Lưu Bang. Lưu Bang sinh năm 256 hoặc 247 TCN ở huyện Bái, nay là huyện Phong, tỉnh Giang Tô. Sau Hán Sở tranh hùng, Lưu Bang chiến thắng Hạng Vũ lập nên nhà Hán, đóng đô tại đất của nhà Tần cũ, nghĩa là ở lưu vực sông Hoàng Hà. Ông mất tại Trường An, là kinh đô của nhà Hán, nay là Tây An ở Thiểm Tây.
– Người Hoa hay Hoa Kiều (sống tại Việt Nam) : Người Hoa là tên gọi theo tên sắc tộc Hoa Thị, hoặc tên gọi theo văn minh Hoa Hạ được lập nên bởi sắc tộc Hoa Thị ở lưu vực sông Hoàng Hà, hoặc tên gọi theo nước Trung Hoa. Hoa Hạ là một khái niệm dùng để chỉ những người cư dân là tổ tiên người Hán sống ở vùng Trung Nguyên tại lưu vực sông Hoàng Hà. Danh từ Hoa Hạ là 1 từ ghép có nguồn gốc là địa danh khởi nguồn của dân tộc đó là dân núi Hoa sông Hạ. Có thể Hạ chỉ sông Hạ Thủy (tên khác của sông Hán Thủy) ở tỉnh Hồ Bắc ngày nay, còn Hoa chỉ Hoa Sơn ở tỉnh Thiểm Tây. Cả hai con sông và ngọn núi này đều có ý nghĩa lịch sử và văn hoá quan trọng thời cổ đại Trung Quốc. Có một cách khác để giải nghĩa chữ Hạ là nhà Hạ, nhưng nhà Hạ lại nằm ở vùng miền Nam, nơi có mộ Hạ Vũ ở Cối Khê (nay ở biên Chiết Giang và Giang Tô).
– Người Minh Hương : Người Minh Hương là cộng đồng người Hoa di cư tị nạn chính trị đến Đàng Trong từ thế kỷ XVII. Vào năm 1644, khi nhà Thanh lật đổ nhà Minh ở Trung Quốc, nhiều trung thần và người dân nhà Minh không chấp nhận quy phục đã lưu vong bằng đường biển sang Đàng Trong. Các chúa Nguyễn đã cho phép họ định cư, khai hoang và lập ra các làng mang tên “Minh Hương”. Tên gọi này ban đầu mang nghĩa “hương hỏa cho nhà Minh”. Theo thời gian, những người này và con cháu của họ đã hoàn toàn hội nhập vào xã hội Việt Nam, nói tiếng Việt, mặc trang phục Việt và tuân theo luật pháp của các triều vua Việt Nam (đặc biệt dưới thời Gia Long và Minh Mạng). Người Minh Hương hầu hết di cư đến bằng thuyền từ miền Nam Trung Quốc.
– Khách, Khách Gia : Người Khách Gia (hay người Hẹ) là một nhóm người Hoa đặc biệt, nổi tiếng với truyền thống di cư và văn hóa độc đáo. Họ chủ yếu sống ở miền Nam Trung Quốc (Quảng Đông, Phúc Kiến, Giang Tây) và hậu duệ hiện sinh sống rải rác trên toàn thế giới, bao gồm cả một cộng đồng người Hoa tại Việt Nam. Từ thế kỷ 13, tổ tiên họ đã di cư từ miền Bắc xuống miền Nam Trung Quốc để tránh chiến tranh. Vì đến sau, họ được người bản địa gọi là “khách”, từ đó trở thành tên gọi chính thức của dân tộc mình. Người Khách Gia nổi tiếng với kiến trúc Thổ Lầu ở Phúc Kiến (Trung Quốc). Đây là những công trình khổng lồ hình tròn hoặc hình vuông được xây bằng đất nện, có sức chứa cho hàng trăm người, được thiết kế như một pháo đài khép kín để bảo vệ đại gia đình khỏi cướp bóc. Họ có ngôn ngữ riêng là tiếng Khách Gia (tiếng Hẹ), được xếp vào một trong những phương ngữ chính của tiếng Trung
– Người Tàu : Tàu là người Hoa sang Việt Nam bằng tàu biển, họ chỉ đến Việt Nam để buôn bán hoặc dừng tàu ở Việt Nam một thời gian rồi đi tiếp. Về sau cũng để chỉ xứ Trung và người Trung Quốc đang sinh sống và làm việc ở Trung Quốc. Tàu cũng để chỉ những sản vật xuất xứ từ Trung Quốc hoặc làm theo kiểu Trung Quốc. Thương cảng của Trung Quốc đi sang Việt Nam thông thường là đi từ phía nam. Như vậy người tàu là người Trung Quốc phía nam. Một số người khẳng định rằng Tàu là âm cổ Hán Việt của từ ghi bằng chữ 曹 mà âm Hán Việt hiện đại là tào, có nghĩa rộng là “cơ quan triều đình”, hiểu rộng ra là “quan” hay “tào quan”. Trong thời Bắc thuộc, nói chung giới cai trị là người Trung Hoa cho nên dân chúng đã quan niệm rằng người Trung Hoa là “tàu”, nghĩa là “quan”. Có thể cả hai cách đều đúng, nhưng phải lưu ý rằng phần lớn người Việt gọi người Tàu vì trông thấy người Tàu, có giao tiếp với người Tàu, chứ không phải đi đọc chữ mà ra, nên cách giải nghĩa Tàu là con tàu hợp lý hơn nhiều. Cách giải nghĩa tàu là khách đi tàu rất rõ trong ca dao.
– Ba Tàu : Ba tàu có thể hiểu theo nghĩa là ba cái tàu cột vào nhau ban đêm để dễ bảo vệ. Ba tàu cũng có nghĩa khinh rẻ kiểu như ba tri khươn, ba hoa chích choè.
– Người Ngô : Là người Trung Quốc, sống ở vùng Ngô, sang Việt Nam. Vùng này là hâu duệ của nhà Hạ vùng nam sông Hoài, vùng đồng bằng sông Dương Tử, khác với người Hoa, người Hán ở phương Bắc. Vùng này xưa là đất Việt, dưới thời Hùng Vương, sau này Trung Quốc đánh chiếm phương Nam, và sát nhập vùng này vào Trung Quốc, nhưng họ vẫn giữ ngôn ngữ tập tục truyền thống khác biệt với người Hán. Trong Hán Sở tranh Hùng, Lưu Bang chiến thắng thành lập nên nhà Hán, trong khi Tây Sở Bá Vương Hạng Vũ thua. Đất Sở lúc đó đã chiếm được đất Ngô.
– Chệt hoặc Chệc hoặc Chiệc : Từ gọi một cách bình dân, thiếu tôn trọng dành cho người Hoa sinh sống ở nước ta. Có ý kiến cho rằng từ này có gốc từ từ a chệch, cách người Triều Châu (một vùng ở Trung Quốc) gọi chú (em của bố). Hiện nay từ này hay bị viết và đọc nhầm là chệt hoặc chệc. Ở miền Bắc, từ này có một biến thể là chú Chiệc.
– Tống : Nhà Tống là hoàng triều cai trị Trung Quốc từ năm 960 đến năm 1279. Triều đại này được sáng lập bởi Tống Thái Tổ sau khi ông soán ngôi Hoàng đế Hậu Chu rồi kết thúc thời kỳ Ngũ đại Thập quốc. Trong suốt thời gian tồn tại, nhà Tống thường xuyên xung đột với các quốc gia phương bắc là Liêu, Tây Hạ và Kim. Cuối cùng, nhà Tống bị chinh phục và lật đổ bởi nhà Nguyên do người Mông Cổ lãnh đạo. Chính quyền nhà Tống là chính quyền đầu tiên trong lịch sử phát hành tiền giấy trên phạm vi toàn quốc và cũng là chính quyền Trung Quốc đầu tiên thành lập lực lượng hải quân thường trực. Vào thời nhà Tống, con người lần đầu sử dụng thuốc súng và nhận thức được hướng bắc trắc địa thông qua la bàn. Nhà Tống được phân chia thành hai thời kỳ rõ rệt: Bắc Tống và Nam Tống. Trong thời kỳ Bắc Tống (960–1127), hoàng triều có kinh đô đặt tại thành phố phía bắc Biện Kinh (nay là Khai Phong), kiểm soát phần lớn khu vực mà ngày nay người ta gọi là Hoa Đông. Thời kỳ Nam Tống (1127–1279) mở ra sau khi nhà Tống để mất quyền kiểm soát nửa phía bắc lãnh thổ vào tay nhà Kim của người Nữ Chân trong Chiến tranh Kim–Tống. Giữa giai đoạn giao tranh với nhà Kim, triều đình nhà Tống phải rút lui về phía nam sông Dương Tử và thành lập kinh đô mới tại Lâm An (nay là Hàng Châu). Như vậy triều đại nhà Tống cũng là triều đại ở phía Nam Trung Quốc.
– Người Mãn : Người Mãn Thanh (hay người Mãn Châu) là dân tộc thiểu số gốc Đông Bắc Á xuất thân từ tộc Nữ Chân, đã đánh bại nhà Minh để lập ra triều đại nhà Thanh — triều phong kiến cuối cùng cai trị Trung Quốc từ năm 1644 đến 1912.
– Người mọc đuôi trên đầu : Sau khi chinh phục toàn bộ lãnh thổ Trung Quốc, nhà Thanh bắt người Trung Quốc cạo nửa đầu và thắt bím để đồng hóa với người Mãn Châu. Nhiều người bất đồng đã bỏ nước ra đi, một số nhập cư vào Việt Nam.
– Người Triều Châu (còn được gọi là người Tiều) là một nhóm người dân tộc Hán có nguồn gốc từ quận Triều Châu lịch sử (nay là Triều Sán ở phía đông Quảng Đông tỉnh nói tiếng Triều Châu. Ngày nay, hầu hết người Triều Châu sống ở Hồng Kông, Quảng Đông, và ngoài Trung Quốc ở Đông Nam Á, bao gồm ở Singapore, Malaysia, Thái Lan, Campuchia, Việt Nam, Philippines và Indonesia. Họ cũng có thể được tìm thấy ở hầu hết mọi nơi trên thế giới, bao gồm Hoa Kỳ, Canada, Úc, New Zealand và Pháp. Ẩm thực Triều Châu là đặc biệt. Tổ tiên của người Triều Châu chuyển đến Triều Sơn ngày nay từ Trung Nguyên của Trung Quốc để trốn thoát khỏi một loạt các cuộc nội chiến trong thời nhà Tấn. Người Triều Châu thường được gọi là người Phúc Lão (người Phúc Kiến) vì họ chủ yếu đến từ Hà Nam và Sơn Tây qua Phúc Kiến, với ngôn ngữ và phong tục được duy trì tốt từ Trung Bắc Trung Quốc.
Có thể thấy rằng các cách gọi người Trung Quốc chia một số nhóm sau
1.
– Người Trung Quốc là người ở tại đất nước Trung Quốc, gọi theo tên đất nước
2.
– Người Hán : gọi theo các triểu đại nhà Hán, mà thường đại diện cho văn hoá của Trung Quốc.
3.
– Người Hoa hoặc Hoa Kiều ở tại đất nước Việt Nam hoặc ở một đất nước nào đó không phải là người Trung Quốc, gọi theo sắc tộc Hoa Thị hoặc văn minh Hoa Hạ ở lưu vực sông Hoàng Hà
4.
– Người Ngô là người có gốc gác vùng Ngô ở miền nam Trung Quốc mà xưa kia thuộc về Bách Việt, đặc biệt là người Ngô, nếu theo ca dao thì rõ ràng là người Việt
5.
Người Khách (Khách Gia), Chệt, người Tiêu (Triều Châu) là các sắc tộc đến từ các vùng miền cụ thể của Trung Quốc với phương tục, phong tục đặc trưng di cư xuống miền nam Trung Quốc rồi sau đó di cư sang Việt Nam
6.
– Người Tống, Minh Hương, người Mãn (Mãn Châu, Mãn Thanh) là người di cư sang Việt Nam từ miền Nam nước Trung Quốc, vào các thời đại Tống, Minh và Thanh
7.
– Người Tàu (Ba Tàu) là người đi tàu sang Việt Nam, thường có gốc gác hoặc xuất phát từ nam Trung Quốc mà xưa kia thuộc Bách Việt
HOA (HOA KIỀU) : thường nói về phong tục
Sống phá rối thị trường
Chết chật đường chật xá
Câu nói được cho là của người Sài Gòn xưa về Hoa kiều: họ rất giỏi buôn bán, có khi câu kết với nhau lũng đoạn thị trường gây khó khăn không ít cho người Việt; khi chết, theo phong tục, người Hoa làm tang lễ rất linh đình, nhiều lúc gây ảnh hưởng tới cộng đồng.
Kể từ ngày tôi lấy anh
Anh bảo rằng tôi chẳng biết chữ gì
Tôi chỉ biết một chữ phàn xì là củ khoai lang
TÀU : thường nói về sản vật và ngôn ngữ đặc trưng
Còn Tàu, Tàu nói xí xô
Tàu về, mới biết xí xô bạc tình
Thẳng mực Tàu đau lòng gỗ
Gớm thay thời buổi Tây, Tàu
Bỏ đường trung nghĩa, ham cầu lợi danh
Mặt sáng như gương Tàu
Đầu bóng như vải lĩnh
Một nhà có sáu cái vách
Chứa mấy thằng khách bên Tàu mới qua
Thằng nào đầu trọc thì tha
Thằng nào có mũ, đem ra đánh đầu
Là cái gì?
Đêm qua trăng sáng mập mờ
Em đi gánh nước tình cờ gặp anh
Vào vườn trẩy quả cau xanh
Bổ ra làm sáu trình anh xơi trầu
Trầu này têm những vôi tàu
Ở giữa đệm quế, đôi đầu thơm cay
Mời anh xơi miếng trầu này
Dù mặn dù nhạt, dù cay dù nồng
Dù chẳng nên đạo vợ chồng
Xơi năm ba miếng kẻo lòng nhớ thương
Cầm lược lại nhớ tới gương
Cầm khăn nhớ túi, nằm giường nhớ nhau
Cái quạt mười tám cái nan,
Ở giữa phết giấy, hai nan hai đầu.
Quạt này anh để che đầu,
Đêm đêm đi ngủ chung nhau quạt này.
Ước gì chung mẹ chung thầy,
Để em giữ cái quạt này làm thân!
Rồi ta chung gối, chung chăn,
Chung quần chung áo, chung khăn đội đầu.
Nằm thời chung cái giường Tàu,
Dậy thời chung cả hộp trầu ống vôi.
Ăn cơm chung cả một nồi,
Gội đầu chung cả dầu hồi nước hoa.
Chải đầu chung cả lược ngà,
Soi gương chung cả nhành hoa giắt đầu.
BA TÀU : thường nói về con người, sắc tộc
Ba Tàu ăn ở ngược xuôi
Cho nên chú chệt mọc đuôi trên đầu
An Giang đâu thiếu con trai
Sao cô lại nỡ lấy trai Ba Tàu?
Của tiền của báu là bao
Đem tuổi mười tám so vào bốn mươi
THẰNG NGÔ : thường nói về con người, sắc tộc
Thần linh cũng kinh đứa Ngô
Thằng Ngô con đĩ
Xí xô như thằng Ngô vỡ tàu
Gánh vàng đi đổ sông Ngô
Bậu ơi! Muốn lấy thằng Ngô
Lợi đây anh kể tông đồ em nghe
Thằng Ngô lắm nhẫn nhiều vòng
Cho nên cô ả phải lòng thằng Ngô
Tham giàu lấy phải thằng Ngô
Đêm nằm như thể cành khô đâm vào
Gà béo thì bán bên Ngô
Gà khô bán bên láng giềng
Băm bầu, băm bí
Băm chị thằng Ngô
Băm cô thuốc lào
Bán thuốc cho tao
Ba đồng một điếu
Nói thiếu nói thừa
Phải chừa nói láo
Dao cùn rựa cụt
Đẵn cây chuối hột
Đút vào vườn quỳnh
Băm bầu băm bí
Băm chị thằng Ngô
Băm cô thằng bầu
Băm bầu, băm bí
Băm chị thằng Ngô
Băm cô cái ả
Sáo sậu là cậu sáo đen
Sáo đen là em sáo đá
Sáo đá là má bồ nông
Bồ nông là ông ác là
Ác là là bà tu hú
Tu hú là chú chim ri
Chim ri là dì chim xanh
Chim xanh là anh cò bợ
Cò bợ là vợ thằng Ngô
Thằng Ngô là cô sáo sậu
Sáo sậu là cậu sáo đen
THẰNG NGÔ – CHÚA TÀU
Chúa Tàu mở hội bên Ngô
Cớ sao bảo phướn sang chùa An Nam?
Thà rằng chẳng biết cho cam
Biết ra kẻ Bắc người Nam thêm sầu
Cột buồm mà ngỡ cây cau
Thấy thuyền thúng nát ngỡ tàu thằng Ngô
Còn Tàu còn bán vải sô
Tàu về mới biết xi xô bạc tình.
THẰNG NGÔ – CHÚ KHÁCH
Ba mươi tết, tết lại ba mươi
Vợ thằng Ngô đốt vàng cho chú khách
Một tay cầm cái dù rách
Một tay xách cái chăn bông
Em đứng bờ sông
Em trông sang bên nước người
– Hỡi chú chiệc ơi là chú chiệc ơi!
Một tay em cầm quan tiền
Một tay em xách thằng bù nhìn em ném xuống sông
Quan tiền nặng thì quan tiền chìm
Bù nhìn nhẹ thì bù nhìn nổi
Ối ai ơi! Của nặng hơn người!
TÀU – CHỆT
Vuông vuông cửa đóng hai đầu
Một trăm thằng Chệt bên Tàu mới qua
Thằng nào không mũ thì tha
Thằng nào có mũ đem ra đốt đầu
Căn nợ đâu xe thấu tới bên Tàu,
Bớ mình ôi,
Hay là mình thấy Chệt giàu mình mê?
TÀU – KHÁCH
Thằng Tây lấy mẹ thằng Tàu
Đẻ ra thằng Khách trên đầu có đuôi
Trèo lên ngọn núi mà coi
Kia kìa Ngô khách mọc đuôi trên đầu
Em ơi, anh dạy tiếng Tàu
Tỉu nà ma nị đâm đầu lấy Ngô
CHÚ KHÁCH – KHÁCH GIA – KHÁCH TRÚ – CẮC CHÚ
Nếp thơm đã hóa bã hèm
Lấy chồng cắc chú, bụng thèm An Nam
Làm như khách chìm tàu
Khó khách hơn giàu An Nam
Mẹ ơi, con chẳng lấy dân
Dù xa dù gần, lấy khách mà thôi
Lấy khách được bận áo đôi
Được mang giày đỏ, được ngồi ghế cao
Thành thị chỗ nào cũng xí xô xí xào khách trú
Em ăn cơm bảy phủ, dạo đủ khắp nơi
Bán buôn một vốn ba bốn tiền lời
Chê anh dân ruộng, chơn mốc cời quanh năm
CHỆT
Cô kia đội nón chờ ai
Chớ lấy anh Chệt mà hoài mất thân
Sẵn tiền của Chệt cứ xài
Cái gì Chệt cũng dẻo dai hơn người
NGƯỜI TIỀU (NGƯỜI TRIỀU CHÂU)
Nói Quảng, nói Tiều
Nói Quảng, nói Tiều là nói như người Quảng Đông và người Triều Châu ngày xưa, tức là nói thứ tiếng Việt rất khó nghe. Nghĩa rộng chỉ những người nói không đầu không đũa, khó nghe, khó hiểu. Triều Châu là một thành phố cổ ở tỉnh Quảng Đông, Trung Quốc, quê hương của người Tiều, và nổi tiếng với văn hóa trà cùng kiến trúc lâu đời.
BÊN TỐNG
Con gái bên Đông lấy chồng bên Tống
Tay cầm dùi trống miệng thổi ống tiêu
Lòng dặn lòng ai dỗ đừng xiêu
Ví như Kim Trọng, Thúy Kiều thuở xưa
MINH HƯƠNG
Gỏi chi ngon bằng gỏi tôm càng,
Đố ai thanh lịch bằng làng Minh Hương.
Chầu rày xa phố Hội An
Xa chùa Ông Bổn, xa làng Minh Hương
NGƯỜI MÃN (NHÀ THANH)
Chợ Bến Thành mới
Kẻ lui người tới
Xem tứ diện rất xinh
Thấy em tốt dạng tốt hình
Chẳng hay em có chốn duơn tình hay chưa ?
– Hỏi em về việc duơn tình,
Em đà có chốn, gởi mình cho Thanh
– Căn duơn đâu mà thấu đến bên Tàu,
Họa chăng em thấy chú tửng giàu em ham.
Thà rằng ăn cá giếc trôi
Chẳng thèm lấy khách có đuôi trên đầu
TRUNG QUỐC
Ông Liên Xô, bà Trung Quốc
Ông đi guốc, bà đi giầy
Ông nhảy dây, bà đá bóng
Ông đi tắm, bà cài then
Ông mua kem, bà xin miếng
Ông không cho, bà đá đít
TRUNG HOA
Bình dân học vụ anh không chịu tham gia
Ngồi lê học chuyện biết Trung Hoa giáp Tàu!

