![]()
Trong 6 tỉnh cũ của Tây Nam Bộ (đồng bằng sông Cửu Long) có bờ biển Đông
– 4 tỉnh giữ 9 cửa biển của Cửu Long là Gò Công, Bến Tre, Trà Vinh và Sóc Trăng.
– 2 tỉnh ở cực đông nam của nước ta không giữ cửa sông Cửu Long đổ ra biển Đông là Bạc Liêu và Cà Mau trong đó Cà Mau giữ Đất mũi, còn Bạc Liêu nằm giữa Sóc Trăng (giữ cửa sông Hậu) và Cà Mau.
Tỉnh Bạc Liêu từ khi thành hình đã lấy tên của con rạch Bạc Liêu. Có nhiều giả thuyết cho tên gọi Bạc Liêu, tùy theo cộng đồng dân tộc sinh sống ở khu vực này.
Tên gọi “Bạc Liêu”, tiếng Triều Châu là “Pô Léo” (薄寮), có nghĩa là xóm nghèo, làm nghề hạ bạc, tức nghề chài lưới, đánh cá, đi biển. “Pô” phát âm theo tiếng Hán Việt là “Bạc” và “Léo” phát âm là “Liêu”. Sử nhà Nguyễn ghi địa danh này là Bạc Liêu (泊僚).
Ý kiến khác lại cho rằng “Pô” là “bót” hay “đồn”, còn “Liêu” có nghĩa là “Lào” (Ai Lao) theo tiếng Khmer, vì trước khi người Hoa kiều đến sinh sống, nơi đó có một đồn binh của người Lào.
Còn đối với người Pháp, họ căn cứ vào tên Pô Léo theo tiếng Triều Châu nên họ gọi vùng đất này là Phêcheri – chaume có nghĩa là “đánh cá và cỏ tranh”.
Tuy nhiên cũng có ý kiến cho rằng tên gọi Bạc Liêu xuất phát từ tiếng Khmer Po Loeu (tiếng Khmer: ពោលើ), nghĩa là cây đa cao.
Một điều khiến tôi cảm thấy rất thú vị là những dấu ấn rất rõ của nước Lào ở miền vùng đất cực đông nam của tổ quốc này, trong khi tôi luôn nghĩ rằng dấu ấn sâu đậm về nước Lào chỉ có thể gặp được ra ở vùng tây bắc, tây bắc bộ và tây nguyên của nước ta.
– Bún nước lèo là một đặc sản của Trà Vinh và Trà Vinh
– Sóc Lèo ở Sóc Trăng nghĩa là Sóc Lào
– Miếu cổ Sóc Trăng thờ chàng Basak (chính là tên của con sông Hậu theo tiếng Khmer), là chồng của công chúa Lào vì ngày xưa họ đã xuôi theo sông Mê Kông từ Lào về đây
– Có một cách giải thích cái tên Bạc Liêu, nghĩa là “Pô” là “bót” hay “đồn”, còn “Liêu” có nghĩa là “Lào” (Ai Lao) theo tiếng Khmer, vì trước khi người Hoa kiều đến sinh sống nhiều ở Bạch Liêu, nơi đây có một đồn binh của người Lào.
Điều đó chứng tỏ xưa kia, khi giao thương đường sông Mê Kông giữa Lào, Campuchia và Việt Nam còn thuận lợi, nhiều người Lào đã xuôi theo sông Hậu để dừng chân ở vùng biển này.
Bạc Liêu là
– nơi sản xuất muối lớn nhất của Tây Nam Bộ.
– nơi trồng nhãn nhiều nhất và ngon nhất Tây Nam Bộ
– nơi nổi tiếng về đàn ca tài tử
Bạc Liêu nổi tiếng với một nhân vật gọi là Công Tử Bạc Liêu.
MUỖI & NHÃN LÀ HAI ĐẶC SẢN CỦA BẠC LIÊU
Bạc Liêu giàu lúa ngô khoai
Giàu cô gái đẹp, giàu trai anh hùng
Bạc Liêu nắng bụi mưa sình
Muối mặn nhãn ngọt đậm tình quê hương
Ai về vườn nhãn Bạc Liêu
Cho tôi nhắn gởi đôi điều vấn vương
Rằng vùng ven biển thân thương
Nhớ người đi mở đất góp công xây đời
TÌNH CẢM CỦA NGƯỜI BẠC LIÊU
Thương nhau hát lý qua cầu
Quê em Ninh Quới nặng câu ân tình
Thương ai cách một cánh đồng
Dẫu xa cho mấy mà lòng vẫn thương.
Người Bạc Liêu đọc Quý là Quới.
Châu Hưng có ổ kiến vàng
Có anh xe kéo thương nàng bán rau
Em có chồng về xứ Bạc Liêu
Để anh ở lại như tiêu nát nghiền
THUỶ HẢI SẢN BẠC LIÊU
Theo anh về xứ Bạc Liêu
Ăn cá thay bánh, sò nghêu thay quà
Muốn làm kiểng, lấy gái Sài Gòn
Muốn ăn mắm cái, lấy gái đen giòn Bạc Liêu
Mắm nêm Cũng gọi là mắm cái ở một số vùng, một loại mắm lên men từ cá, có nhiều ở miền Trung và miền Nam, dùng làm nước chấm trong các bữa ăn. Tùy theo phong tục từng vùng mà mắm nêm được pha với các loại gia vị khác nhau, thường là tỏi, ớt, thơm (dứa)…
Bạc Liêu là xứ cơ cầu
Dưới sông cá chốt, Triều Châu trên bờ
Cá chốt : Một loài cá có rất nhiều ở các tỉnh miền Tây Nam Bộ, thịt có màu vàng óng hoặc trắng, dai và thơm, được chế biến thành rất nhiều món ngon hoặc để làm mắm. Cá chốt có ngạnh nhọn, đâm phải sẽ gây đau nhức. Tên gọi loài cá này bắt nguồn từ tiếng Khmer trey kanchos.
NGƯỜI TRIỀU CHÂU (QUẢNG ĐÔNG, TRUNG QUỐC) Ở BẠC LIÊU
Bạc Liêu nước chảy lờ đờ
Dưới sông cá chốt, trên bờ Triều Châu.

