Ngày.mồng 8 tháng 4 được coi là ngày mưa đầu mùa hạ. Nói chung, ngày mồng 8/4 thường rơi vào tiết Lập Hạ hoặc Tiểu Mãn (là tiết khí liền sau Lập Hạ). Nếu ngày mồng 8 tháng 4 là ngày đầu tiên của tiết Lập Hạ như ngày 8 tháng 4 năm Ất Tỵ (5/5/2025) thì càng đặc biệt.
Nhớ ngày mồng tám tháng tư
Chín rồng lấy nước, gió mưa âm thầm
Chừng nầy đứng bóng giữa trưa
Bớ ông chủ ruộng sao chưa xuống đồng
Sở dĩ ngày này thường có mưa, vì có sự kiện Chín rồng lấy nước, mà rồng gắn với những cơn mưa.
MỒNG 8 THÁNG 4 : CÁ VƯỢT VŨ MÔN HOÁ RỒNG
Ngày chín rồng xuất hiện cũng là ngày cá chép vượt vũ môn hoá rồng.
Mồng bảy cá đi ăn thề
Mồng tám cá về cá vượt vũ môn
Vào một năm, trời hạn hán, vì số Rồng quá ít, không đủ làm mưa điều hoà cho khắp mọi nơi, Trời mới đặt ra một kì thi kén các vật lên làm Rồng gọi là “Thi Rồng”. Khi chiếu Trời ban xuống, vua Thuỷ Tề loan báo cho tất cả các cư dân dưới nước tham gia vào cuộc thi. Cuộc thi có ba kì. Mỗi kì vượt qua một đợt sóng. Con vật nào đủ sức, đủ tài, vượt được cả ba đợt thì mới được hóa Rồng. Trong một tháng trời, đại diện của bao nhiêu loài thuỷ tộc đến thi đều bị loại cả vì không con nào vượt được cả ba đợt sóng. Sau có cá Rô nhảy qua được một đợt nhưng cũng bị rơi ngay. Rồi đến Tôm nhảy qua được hai đợt, ruột, gan, vây, vẩy, râu, đuôi, đã gần hoá Rồng, nhưng đến lượt thứ ba đuối sức ngã bổ xuống, nên từ đó lưng bị còng. Đến lượt con cá Chép vào thi thì gió thổi ào ào, mây kéo ầm trời. Cá Chép ta vượt luôn một hồi qua ba đợt sóng, và lọt vào cửa Vũ môn. Cá Chép đã vượt qua kỳ thi, lúc này vẩy, đuôi, râu, sừng mọc đủ, vóc dáng thật oai linh, thật đúng là thần Rồng. Cá chép hoá Rồng phun nước làm mưa, giúp sự sống đã hồi sinh.
Mùng Tám tháng Tư ở Thác Vũ Môn, nằm trên dãy núi Giăng Màn, huyện Hương Khê, tỉnh Hà Tĩnh, thường có mây mù dày đặc, không ai dám đến gần, vì đó là ngày chép vượt thác Vũ Môn hoá rồng. Cho nên phường chài thường bảo nhau, mấy ngày trước đó không bủa chài lưới. Người dân địa phương truyền tai nhau, nếu vào ngày cá chép vượt thác mà trời mưa, nước thác về nhiều, cá vượt thác hóa rồng, đồng nghĩa với năm đó mưa thuận gió hòa, mùa màng bội thu; còn ngược lại, sẽ là một năm đại hạn khốn khó, người dân cần có phương án phòng bị. Kinh nghiệm của người dân nơi đây giống hệt như kinh nghiệm ông bà ta truyền lại trong ca dao tục ngữ về ngày mùng Tám tháng Tư.
NGÀY 8 THÁNG 4 & VỤ LÚA THÁNG MƯỜI
Người xưa dựa vào thời tiết của ngày mồng 8 tháng 4 để đoán định về một mùa mới : Mồng 8 tháng 4 có mưa sẽ thuận cho việc trồng lúa vào mùa sau.
Mồng tám tháng tư không mưa
Bỏ cả cày bừa mà lấp lúa đi
Mồng tám tháng tư có mưa
Mẹ con sắm sửa cày bừa làm ăn
hoặc
Lúa tháng năm trông trăng rằm tháng tám
Lúa tháng mười trông mùng tám tháng tư
hoặc
Muốn ăn lúa tháng mười,
Trông trăng mùng tám tháng tư.
NGÀY HỘI CHÙA DÂU CỦA TỨ PHÁP MAN NƯƠNG
Hội Dâu ở chùa Dâu, vùng Dâu, Luy Lâu, Thuận Thành, Bắc Ninh, chùa thờ Pháp Vân, một trong Tứ pháp của đức Phật Tổ Man Nương
Dù ai buôn bán đâu đâu
Hễ trông thấy tháp chùa Dâu thì về
Dù ai buôn bán trăm nghề
Tháng Tư ngày Tám nhớ về hội Dâu
Lễ hội chùa Dâu được tổ chức vào ngày 8 tháng 4 âm lịch hàng năm do người dân thuộc tổng Dâu-Luy Lâu xưa gồm 3 xã 12 làng phối hợp tổ chức, nay gồm 3 phường: Thanh Khương, Hà Mãn, Trí Quả (thị xã Thuận Thành, Bắc Ninh). Lễ rước trong hội chùa Dâu rất đặc biệt, mang nhiều nét đẹp văn hóa tiêu biểu, độc đáo. Ngày chính hội, các làng thuộc tổng Dâu tổ chức rước tượng Phật Tứ Pháp từ các chùa làng về “công đồng” tại chùa Dâu. Điều đặc sắc, ấn tượng là khi đám rước về tới chùa Dâu sẽ diễn ra trò “mẹ đuổi con”. Kiệu Phật Pháp Vân (thần Mây tức bà Dâu), Phật Pháp Vũ (thần Mưa tức bà Đậu), Phật Pháp Lôi (thần Sấm tức bà Tướng), Phật Pháp Điện (thần Chớp tức bà Dàn) được rước chạy quanh ba vòng theo chiều kim đồng hồ rồi trở về chỗ cũ, còn kiệu mẫu Man Nương tức kiệu thân mẫu của Phật Tứ Pháp được rước vào an vị trong chùa Dâu. Tiếp đến là trò “cướp nước” với sự tham gia của hai kiệu Pháp Vũ và Pháp Lôi. Khi có hiệu lệnh, kiệu hai bà được rước chạy ra Tam quan, kiệu nào đến trước thì lấy được nước và thắng cuộc. Thường thì kiệu Phật Pháp Vũ được rước chạy đến trước và người dân tin rằng năm đó mưa thuận gió hòa, mùa màng tươi tốt.
Trong sự tích Phật Tổ Man Nương, mồng 8 tháng 4 là ngày đức Phật Tổ hạ sinh con gái.
Truyền thuyết kể rằng thuở xưa bà là một người con gái rất sùng đạo, năm 10 tuổi đến theo học đạo ở chùa Dâu, nay là huyện Thuận Thành, tỉnh Bắc Ninh. Tại chùa có thiền sưKhâu Đà La là một vị cao tăng đầu tiên sang Việt Nam truyền đạo tại đây.
Một hôm, thiền sư đi vắng và dặn Man Nương trông coi chùa cẩn thận. Tối đến Man Nương ngủ ở thềm, Khâu Đà La về và bước qua người, sau đó bà thụ thai. Cha mẹ Man Nương trách cứ thì Khâu Đà La dặn rằng đó là con Phật, không phải lo phiền.
Hai mươi tháng sau, Man Nương sinh hạ một người con gái vào ngày 8 tháng Tư (âm lịch), đem đến chùa trả lại Thiền sư. Ông dùng cây tầm xích (gậy tích trượng) gõ vào cây Dung Thụ (dâu ) ở cạnh chùa; cây dâu tách ra, thiền sư để đứa trẻ vào trong, cây lại khép vào. Khâu Đà La trao cho Man Nương cây gậy và dặn khi nào hạn hán thì đem gậy cắm xuống đất để cứu nhân dân. Khi vùng Dâu bị hạn hán ba năm liền, nhớ đến lời dặn của ông, Man Nương đã đem cây gậy thần cắm xuống đất. Ngay lập tức nước phun lên, cây cối, ruộng đồng lại tươi tốt và chúng sinh thoát nạn hạn hán.
Tiếp đó có trận mưa to, cây dâu bị gió bão quật đổ xuống sông Thiên Đức (sông Dâu) rồi trôi về Luy Lâu. Khi đó, Thái thúSĩ Nhiếp cho quân lính vớt lên để làm nóc điện Kính Thiên, nhưng không ai lay chuyển nổi. Man Nương đi qua liền xuống sông, buộc dải yếm vào và bảo “Có phải con mẹ thì đi lên theo mẹ” lập tức kéo cây lên dễ dàng. Sĩ Nhiếp thấy thế kính sợ, tuyển mười người họ Đào tạc tượng Tứ pháp là Pháp Vân – Pháp Vũ – Pháp Lôi – Pháp Điện tượng trưng cho Mây, Mưa, Sấm, Chớp để thờ. Bốn bức tượng phật đó được đặt ở bốn ngôi chùa khác nhau ở trên cùng một khu vực là Chùa Dâu, Chùa Đậu, Chùa Dàn, Chùa Tướng. Khi thợ tạc tượng gặp trong thân cây một khối đá bèn vứt xuống sông. Đến đêm thấy lòng sông rực sáng, Sĩ Nhiếp cho người vớt nhưng không tài nào vớt được. Man Nương liền đi thuyền ra giữa sông thì khì khối đá tự nhiên nhảy vào lòng. Khối đá ấy được gọi là Thạch Quang Phật (Phật đá tỏa sáng).
Hội Dâu nằm trong chuỗi ba ngày hội lớn của vùng Dâu là hội Khám, hội Dâu và hội Gióng. Vùng Dâu là vùng châu thổ sông Dâu xưa, nay là vùng Đông Ngàn (Đông Anh) vùng ngã Ba Dâu xưa đến Thuận Thành trung tâm vùng Dâu xưa, nay là vùng châu thổ sông Đuống chạy từ mỏm Soi ngã ba sông Đuống sông Hồng đến Lục Đầu Giang.
Râm râm hội Khám
U ám hội Dâu
Vỡ đầu hội Gióng
hoặc
Lâm râm hội Khám, u ám hội Dâu
Đánh nhau vỡ đầu là xem hội Gióng.
hoặc
Mồng bảy hội Khám mồng tám hội Dâu
Mồng chín đâu đâu trở về Hội Gióng
hoặc
Nhớ ngày mồng Tám tháng Tư
Chẳng xem hội Gióng cũng hư mất người
hoặc
Hội Dâu đã tàn, hội Gióng đã tan
Ai còn hồng nhan thì về hội Bưởi
NGÀY SINH CỦA HƯƠNG VÂN CÁI BỒ TÁT
Bà Vụ Tiên, còn gọi là Hương Vân Cái Bồ Tát là vợ Đế Minh, mẹ của Kinh Dương Vương, bà của Lạc Long Quân. Bà là vi Bồ Tát đã khai sinh đã Sa Môn giáo của nước Việt.
Thời kỳ của bà Vụ Tiên rơi vào khoảng 3000 năm trước CN, nghĩa là khoảng 2500 năm trước khi Phật Tổ Thích Ca ra đời (năm bắt đầu của Phật lịch) và khoảng 3000 năm khi Phật Tổ Man Nương ra đời và thành Đạo, khai sáng nên Phật Giáo Tứ Pháp.
NGÀY PHẬT ĐẢN
Đức Phật Thích Ca Mâu Ni xuất thân là Thái tử Tất Đạt Đa, dòng họ Cồ Đàm, vương tộc Thích Ca. Ngài được cho là sinh vào ngày rằm tháng tư âm lịch năm 624 trước Tây lịch (theo lý giải của phái Nam tông), hoặc mùng 8/4 âm lịch (theo lý giải của phái theo Bắc tông) tại vườn Lâm Tỳ Ni – nơi nằm giữa Ca Tỳ La Vệ và Devadaha ở Nepal.