LÀO : Ghi chép tản mạn về chuyến đi Lào

Loading

SI VỊ CỦA LÀO
Ở Lào mình hiểu ra việc gì cũng phải đi đủ bộ Si là
– bộ bốn (bốn phương),
– bộ bổn (bổn tọa, bổn sư Thích Ca Mâu Ni Phật, bổn cũ soạn lại)
– bộ tứ (tứ bất tử, tứ trụ, tứ hóa, tứ trấn, tứ xứ, tứ phủ, tứ hành xung, tứ đại, tứ tượng, tứ vạn),
– bộ tư (tư bản, tư nhân, tư hữu, tư tưởng)
– bộ thai (thân ối rối nhau),
– bộ thi (thi nhân, thi thơ, thể thi, thi thể, thi vị)
Các địa danh mạnh tên Si đều rất nổi tiếng
– Thác Kuang Si : Thác nổi tiếng nhất Luang Prabang
– Núi Phousi : Núi nổi tiếng nhất Luang Prabang
– Chùa mẹ Si Mương : Chùa thiêng nhất Vientian
– Tháp Si Khottabong : Tháp chứa xá lỵ xương của Đức Phật
– Si Phan Don : Si là 4, Phan là 1000, Don là đảo, dịch là Bốn nghìn đảo với 4000 mang nghĩa huyền thuật
Khi hỏi người Lào về nghĩa chữ Si trong các địa danh này người ta đều nói là bốn, nếu cố dịch sang tiếng Viết thì sẽ là
– Thác Quan đệ Tứ
– Núi Tứ Phủ hay Tứ Trụ hay núi Tứ
– Chùa Tứ Pháp : Mẹ Sỉ Mương vẫn là Phật Tổ Man Nương, Mẹ Tứ Pháp của người Việt
– Tháp Tứ Hoá
Thức ăn Lào rất khác thức ăn Việt, có nhiều nét giống thức ăn Myanmar và Thái hơn, thức ăn Lào khô hơn thức ăn Việt với vị từng món ăn rõ ràng đậm đà.
Mình tạm gọi vị của thức ăn Lào là tượng vị, nghĩa là một vị đại diện cho cả món, khác với trạng thái đồng vị là hòa trộn nhiều vị tạo nên hương vị chung cho cả món như thức ăn Việt.
Bốn vị đậm của thức ăn Lào hay Si vị là Mặn Đắng Cay Tanh
MẶN : thức ăn Lào cơ bản mặn hơn thức ăn Việt đặc biệt các món bánh canh thì nước rất mặn, trong khi đồ thả vào nước lại nhạt khiến cho người ăn nước ăn canh nhiều như minh phải uống nước cùng mới chịu được. Vị mặn tiêu biểu là món da trâu nướng lửa mình không có cơ hội ăn. Dạ cá nướng phủ đầy muối hạt thì mình đã được ăn.
ĐẮNG : Cá nướng của Lào được để nguyên cả lòng và mật cá cố tình được làm vỡ khiến cho thịt cá đắng. Đây là kỹ thuật chế biến đắng chứ không phải lỗi. Các rau ăn cùng với món cá này cũng có vị đắng. Muối nguyên hạt nướng cùng cá cũng có vị đắng.
CAY : Vị cay của ớt làm các món ăn Lào thêm hương vị. Một thức ăn có vị cay chủ đạo sẽ rất cay khác với vị cay kiểu gia vị bổ sung làm nổi vị chung như thức ăn Việt
TANH : Đến Lào không ăn cá tôm sông Mê Kông là đáng tiếc. Cá là vị tanh chính. Cá nướng que tre hay nướng lá tẩm gia vị cho đủ vị mặn đắng cay tanh là món dễ thấy ngoài chợ Lào
NGỌT : Người Lào ăn nhiều cơm nếp mà ngọt đậm hơn cơm gạo tẻ. Đây là một vị ngọt nền. Ngọt cũng có trong các món rau, ví dụ tạo nên món Lạp mà nếu cùng rau đó ăn và trồng ở Việt Nam không có vị ngọt đó. Món xôi ngọt của Lào rưới nước cốt dừa siêu ngọt nhưng mình nghĩ đây là món Thái. Bánh và chè là các món tiêu biểu cho vị ngọt, mà không phải điểm mạnh của món Lào.
CHUA là vị không mạnh của đồ ăn Lào như thức ăn Việt với canh cá chua, canh riêu cua, nước luộc rau muống chua, nem chua, dưa cà …
Như vậy người Việt ăn chua ngọt hơn, nhiều hơn, người Lào ăn cay khô mặn hơn
—o—o—o—
NÀNG TIÊN CÁ PHIÊN BẢN LÀO
Ngày xửa ngày xưa, có một chàng và một nàng yêu nhau tha thiết. Vì một sự cố lớn, nàng và chàng phải chia tay nhau hai người hai ngả. Hai người lập lời thề đồng sinh đồng tử, yêu nhau mãi mãi.
Nàng xuống biển thành nàng tiên cá, chàng lên núi qua nhiều kiếp thành hoàng tử. Nàng tiên cá qua nhiều kiếp sống vẫn nhớ được ký ức tình yêu năm xưa bởi vì ký ức của nàng chảy theo máu và nước, còn chàng trai qua mỗi lần đầu thai chẳng còn nhớ gì kiếp trước mà chỉ còn nhớ lời thề của hai người nên chàng luôn có một cảm giác rằng người duy nhất chàng yêu là người con gái đồng sinh đồng tử với mình.
Một ngày thuyền của hoàng tử bị sóng biển đánh vỡ, hoàng tử vật lộn trong sóng biển rồi được nàng tiên cá cứu đưa lên bờ.
Hồn cốt của hoàng tử là lửa, khi rơi xuống biển, mạng số chàng đã tận. Vì lời thề đồng sinh đồng tử, nàng tiên cá dù ở sâu dưới biển cũng sẽ cảm ứng được việc người yêu mình gặp nạn, tim được chàng và cứu chàng.
Mạng của tiên cá là đuôi của nàng, để cứu được người yêu, nàng phải trao cho chàng hoàng tử một mạng dưới nước của mình, và ngay lập tức nàng sẽ nhận được một mạng trên cạn của chành trao cho nàng theo lời thề gốc. Nhờ đổi mạng như vây nàng tiên cá mới đưa được chàng lên bờ.
Nàng tiên cá nhận ra chàng là anh yêu mình thường nhớ bao lâu, nên quyết tâm đánh đổi giọng nói và cái đuôi cá để lên bờ mong được sống cùng chàng. Với nàng tiên cá, âm là hồn, nước là xứ sở hồn, đuôi là mạng, nên sự đánh đổi này không chỉ là sự cá cược đổi một mạng dưới nước lấy một mạng trên bờ, mà là sự cá cược của linh hồn xuyên đời, nếu hoàng tử không nhận ra nàng và không yêu nàng thì cả hồn và thân nàng sẽ bị tán đi nát tan trăm mảnh. Nàng tiên cá chấp nhận.
Chàng hoàng tử tỉnh dạy bên bờ biển thì thấy một cô gái đang chăm sóc mình, cô gái này đang đi dạo trên bờ biển thì thấy chàng hoàng tử nằm trên bãi cát, chàng hoàng tử hỏi cô gái có phải là người cứu mình trên biển không, cô gái đồng ý. Chàng hiểu ngay ra rằng đây là người yêu mình, người đồng sinh đồng tử với mình, chàng quỳ xuống cầu hôn cô gái trước mặt và cô đồng ý.
Mạng dưới nước của hoàng tử chỉ có thể được duy trì nhờ tình yêu và sự đồng hành của nàng tiên cá, mạng trên bờ của nàng tiên cá chỉ có thể được duy trì nhờ tình yêu và sự đồng hành của chàng hoàng tử. Khi hoàng tử kết hôn cùng cô gái khác, mạng trên cạn của nàng tiên cá cũng không còn, nàng tiên cá gieo mình xuống biển thành bọt biển.
Buồn khổ thất vọng, hồn nàng tiên cá cứ trôi mãi theo dòng nước đến Khone Pha Pheng, tại đây nàng được cha mẹ xứ sở đón như các mảnh hồn lạc trôi khác. Có những linh hồn sẽ chuyển thế được ở đây, có những linh hồn chết kẹt không chuyển đổi được, khiến Si Phang Don trở thành trung tâm Vong Xuyên lớn của Đông Nam Á.
Cây thần MANIKHOTH tại thác Khone Pha Pheng đã giúp nàng tiên cá lấy lại cái đuôi cá còn vương lại bên chàng hoàng tử, và trả lại cái mạng trên bờ của chàng đã trao cho nàng, việc này giúp nàng chuyển đổi thân thể lại thành tiên cá.
Lại nói về chàng hoàng tử, vì có cái đuôi cá của nàng tiên cá bên mình, chàng cảm thấy được yêu, được ở bên người yêu và chàng đồng hóa cảm giác này với tình cảm chàng nhận được từ cô gái bên bờ biển. Khi nàng tiên cá gieo mình xuống biển chết, cảm giác được ở trong trường sóng tính yêu dạt dào yếu đi, nhưng cảm giác người yêu ở bên mình vẫn còn, nên chàng vẫn tự trấn an mình rằng mình đã đúng.
Khi nàng tiên cá lấy lại đuôi, trở lại thành hình tiên cá ở Thác Khone pha phang, thực chất nàng đã đi qua một cuộc đời, mất đi một mạng, mạng của hoàng tử có được nhờ nàng tiên cá cũng đoạn. Lúc chết chàng hoàng tử nhớ lại được tai nạn ở biển, nhận ra việc nhận người sai lầm của mình, biết được những khổ ải từ lúc gieo mình xuống nước thành bọt biển của nàng tiên cá, đau khổ và ân hận, chàng lập lời thề tình yêu cho các kiếp sau.
Các kiếp sau của nàng tiên cá sau khi chuyển thế luôn lặp lại bi kịch : Mỗi lần người yêu gặp tai nạn trên biển, số mạng đến lúc tận, nàng tiên cá đều đến cứu chàng để rồi nhìn chàng cưới cô gái khác và chết.
Cho đến một ngày, nàng tiên cá không thể lấy lại đuôi và chuyển thế nữa, hồn nàng tiên cá cứ dập dờn mãi trong dòng nước Mê Kông ở Si Phan Don. Chàng trai dù lấy được cô gái mà chàng ngỡ là đồng sinh đồng tử nhưng tình cảm hai bên cứ phai nhạt dần. Người vợ chàng lấy bỏ đi còn chàng yếu dần, rồi liệt giường. Gia đình đưa chàng về sinh sống và an dưỡng bệnh ở bên dòng sông Mê Kông. Lúc này dù chàng trai và nàng tiên cá có thể ở khá gần nhau dù kẻ trên cạn người dưới nước.
—o—o—o—
CÂY THẦN MANIKHOTH
Cây thần MANIKHOTH ở Khonephapeng, thác nước lớn nhất sông Mê Kông và một trong 10 thác lớn nhất thế giới là cây mọc ngược, rễ chổng lên trời, tán cắm xuống một khối đá lớn giữa lòng thác. Không có cái thác nước nào có cái cây như vậy, đúng hơn là cả Trái đất nó là duy nhất.
Lúc đọc giới thiệu mình tưởng đây là cây trong truyền thuyết, hóa ra nó là cây thật.
Cây chết đột ngột chính xác vào ngày 19/3/2012.
Ở thác Khone Pha Pheng có một khu trưng bày ảnh và thân cây này đã được cưa đi và đưa vào bờ, khoảng một năm sau khi nó chết.
Các hàng lưu niệm ở Si Phan Don và Pakse đến bây giờ vẫn bán ảnh chim đậu rợp trên rễ cây chổng ngược lên trời.
Một cái cây bình thường chết thì có thể do bão lũ, sâu bệnh, nhưng cây thế ngược duy nhất của Trái đất mà chết thì là do Trái đất đã tận một thế cũ, chuyển sang một thế mới. Có thể hiểu rằng cái cây thần này không chết, nó đơn giản chỉ chuyển thế, cùng Trái đất.
Cây thần mọc ngược thế này là hiện thân của một vị thần sáng thế hoặc vị thần chuyển thế. Người Lào tin rằng cái cây này là điểm chuyển sống thành chết, chết thành sống. Đây là hai thế trọng yếu của một vòng đời. Cái cây này cũng có thể chuyển thế chim thành khỉ hoặc người theo ba hướng bắc, tây và nam, đây là các thế của tam giới.
Mình không đủ trình độ để hiểu được cái cây thần đã chuyển sang thế gì, chuyển thành cái gì. Bất chấp nỗ lực một năm qua để phát triển bộ thế qua khoá học Tĩnh công, mình chỉ hiểu tính thần của cái cây vẫn ở thác Khone Pha Pheng, và đó cũng là tinh thần của cái thác.
Siphandon là đoạn chuyển thế của sông Mê Kông, cổng chuyển thế chính là thác Khonephapeng. Chuyển thế của sông Mê Kông ảnh hưởng đến thế cục của cả Đông Nam Á lục địa gồm Lào, Campuchia, Thái, Myanmar và Việt Nam. Thế cục Đông Nam Á lục địa ảnh hưởng đến thế cục Đông Nam Á biển đảo, và thế cục Đông Nam Á ảnh hưởng đến đối cực của hai cụm văn minh Ấn Độ – Trung Hoa, mà nằm đối xứng nhau ở hai bên của Đông Nam Á.
Những thế cục quá lớn lao ở tâm châu lục như vậy mình cũng chưa hiểu được, nhưng mình hiểu một điều rằng khi thế cục của Đông Nam Á, của Trái đất thay đổi, thì thế cục thân thể, thế cục cuộc đời của mỗi sinh linh trên toàn Trái đất cũng phải thay đổi, trong đó có mình.
Đứng ở thác nước, mình nhớ lại các sự kiện cuộc đời của mình vào 2012, năm được giới New Age gọi là tận thế.
Tháng 3/2012 là thời điểm mà mình bắt đầu mở lớp dạy học. Mình nhận được deadline cho việc mở lớp học là tháng 3/2012, trước đó mình viết website, coi như dạy miễn phí từ 2011. Khi bị ép phải dạy học mình chọn ngày 30/3 để đăng thông báo với ý định nếu chả ai đi học thì coi như số trời, nào ngờ có người đến học, khiến mình phải dạy học luôn đến giờ.
Dạy học từ 3/2012 đến 10/2013, mình mới nghỉ làm ở công ty để chuyển hẳn sang dạy học. Sang 2014 thì mình chính thức dạy thiền chữa lành.
Giai đoạn chuyển thế của mình thực ra diễn ra trong ba năm
– 2012 : tận thế cũ (thế đi làm thuê cho công ty)
– 2013 : chuyển đổi thế (nghỉ làm và chuyển hướng sang tâm linh)
– 2014 : nhập thế mới (sang Myanmar và về dạy thiền, dẫn thiền, chữa lành bằng thiền)
Trong 12 năm dạy thiền, đến 2024-2025-2026 mình lại trải qua một lần chuyển thế, mình quay lại dạy các chương trình thiền chữa lành cơ bản, với các chương trình phải thay đổi hoàn toàn.
Bây giờ đã là tròn một giáp kể từ 3 năm đó.
– 2012 Nhâm Thìn – 2024 Giáp Thìn.
– 2013 Quý Tỵ – 2025 Ất Tỵ.
– 2014 Giáp Ngọ – 2026 Bính Ngọ.
Cuối 2014 mình phát triển chương trình Timeline 2 về văn minh cổ trong đó có văn minh Pangea. Thời kỳ này, các lục địa liền nhau, thành một khối gọi là Pangea, lục địa Ấn Độ còn chưa đâm vào lục địa Trung Hoa ở vị trí mà giới địa chất học gọi là Đới đứt gãy sông Hồng.
Văn minh Pangea kết thúc, lục địa Pangea vỡ tung ra thành các lục địa nhỏ hơn, như ngày nay được biết, là do một sự kiện ở tầm thái dương hệ, là vụ nổ hành tinh Maldek với dấu vết còn lại là vành đai sao Thổ. Nếu bạn tin vào Phong Thần Diễn Nghĩa, Tây Du Ký, hay các tôn giáo đa thần và đa dạng các hình thể sống cổ như Hindu, Jaina, đạo Lão, hoặc bạn hâm mộ các bộ huyền sử đa thần, da các hình thể sống như Lords of the Ring, thì bạn sẽ siêu thích Pangea.
Khi lục địa Pangea chìm trong động đất và lửa, các cái cây thời đó đâm xuống đất chui vào lòng đất (cổ tích Việt và sự tích của nhiều dân tộc, nhiều quốc gia có kể về sự kiện các cái cây lộn ngược này). Cây thần ở thác Khone Phapheng trên dòng sông MêKông ở nam Lào là một ví dụ trực quan về việc các cây thời Pangea đã lộn ngược thế nào.
Cuối cùng sau 12 năm phát triển Timeline 2 về Pangea mình mới đặt chân đến nơi có cây thần Pangea duy nhất và cuối cùng trên Trái đất.
—o—o—o—
NGƯỜI CÁ
Người đuôi cá là họa tiết phổ biến ở cổng chùa nam Lào
– Tiên cá có 2 đuôi lớn đối xứng, các đuôi lớn lại chia thành đuôi nhỏ vẫn đối xứng
– Tiên cá có 2 đuôi, mỗi đuôi thành một nàng tiên cá
– Tiên cá chỉ hiện thân trên là người thân dưới chìm dưới nước.
Tiên cá tách đuôi thành các nàng tiên cá nhỏ hơn, gợi nhớ đến hồ ly chín đuôi mà mỗi đuôi là một mạng
Matsya (tiếng Phạn: मत्स्य) là hiện thân (avatar) đầu tiên của thần Vishnu trong đạo Hindu, thường xuất hiện dưới hình hài một con cá khổng lồ hoặc người mang thân cá. Ngài hiện thân để tiêu diệt quỷ Hayagriva (kẻ đã đánh cắp kinh Veda) và cảnh báo vị vua đầu tiên của loài người (Manu) về một trận đại hồng thủy sắp quét sạch thế giới. Vua Manu đã đóng một chiếc thuyền lớn và buộc dây thuyền vào chiếc sừng trên đầu cá Matsya. Cá Matsya đã kéo chiếc thuyền vượt qua sóng dữ đến một ngọn núi an toàn, đồng thời trao lại kinh Veda để tái thiết lập nền văn minh.
—o—o—o—
Nhân dịp đi Lào, đất nước còn có tên là Triệu Voi hoặc Vạn Tượng, có câu hỏi nghe tưởng hơi ngu rằng “VOI hay TƯỢNG CÓ THỂ LÀ NHỮNG CON LÀO ?”
Thử trả lời, ngất ngây vì có vạn triệu đáp án đúng đúng sai sai
Tượng gồm tượng hình và tượng thanh
Voi
Cá voi
Người cá
Các dạng thần thú có gốc Voi trong các tôn giáo ví dụ Makura trong Hindu giáo
Hợi : Voi là một ví dụ tiêu biểu của Hợi cùng với Lợn
Lợn
Lợn biển
Heo
Cá heo
Trư
Chư
Chư thần : nhiều thần, bộ thần, tổng thể các thần, chính là trạng thái vạn tượng của thần
Chư thiên
Chư vị : “Chư vị” (諸位) là một đại từ nhân xưng tôn kính trong tiếng Việt, dùng để gọi một nhóm người (từ hai người trở lên) có mặt tại thời điểm nói hoặc được nhắc đến với thái độ lịch sự, trân trọng
Heo vòi (Tapir): Là động vật móng guốc có họ hàng gần với tê giác và ngựa, nhưng lại sở hữu chiếc mũi kéo dài linh hoạt giống voi. Chúng sinh sống chủ yếu ở các khu rừng nhiệt đới Nam Mỹ và Đông Nam Á (như heo vòi Malaysia).
Chuột chù voi (Elephant shrew): Loài thú nhỏ bé ở châu Phi có kích thước chỉ bằng chuột nhưng lại có chiếc mõm dài kỳ lạ, di chuyển và cử động linh hoạt hệt như chiếc vòi thu nhỏ của voi.
Bị vòi voi: Nhóm côn trùng thuộc họ Curculionidae (như bọ vòi voi hại dừa/hại điều) có phần đầu kéo dài thành một chiếc vòi dài.Vòi voi đầu đỏ (Pyrops candelaria): Loài côn trùng đặc hữu có chiếc vòi dài nhô ra từ đầu. Chúng thường được dân gian ví von gọi là “voi bay”
Tu hài (Ốc vòi voi): Đây là một loài nhuyễn thể hai mảnh vỏ có kích thước lớn, sống ở vùng nước mặn. Điểm đặc trưng nhất của chúng là phần “chân” hình trụ dài (thường bị nhầm là vòi) thò ra ngoài vỏ để hút thức ăn.
Trong Hindu giáo (Ấn Độ giáo), voi là một biểu tượng linh thiêng bậc nhất, đại diện cho sức mạnh, trí tuệ, sự thịnh vượng và may mắn. Loài vật này xuất hiện dày đặc từ hệ thống thần thoại, kiến trúc đền đài cho đến đời sống tâm linh hàng ngày của người bản địa. Các hình tượng và vai trò cốt lõi của voi trong Hindu giáo được thể hiện qua các phương diện sau
– Thần Ganesha (con trai của thần Shiva và nữ thần Parvati) là vị thần mình người đầu voi cực kỳ đáng kính và dễ nhận biết.
– Vighnaharta – vị thần phá tan mọi rào cản, chướng ngại vật. Người Hindu luôn cầu nguyện ngài đầu tiên trước khi bắt đầu bất kỳ nghi lễ, chuyến đi hay công việc kinh doanh nào. Ý nghĩa các bộ phận: Đầu voi lớn tượng trưng cho trí tuệ vĩ đại; đôi tai to biểu thị sự biết lắng nghe; chiếc vòi linh hoạt biểu phô khả năng phân biệt thiện ác; và đôi mắt nhỏ đại diện cho tầm nhìn xa trông rộng
– Airavata – Thần thú hộ vệ thiên giới trong, thần thoại, Airavata là một con voi trắng đa ngà (thường là 4 hoặc 7 ngà) bước ra từ sự kiện Khuấy biển sữa (Samudra Manthan).Airavata là vật cưỡi (Vahana) của thần sấm sét Indra – vua của các vị thần.Nó còn được coi là vua của các loài voi, có khả năng điều khiển mây mưa để ban phát mùa màng tốt tươi.
– Ashta Diggajas : Vũ trụ học Hindu giáo tin rằng có 8 tháp voi thần (gọi là Ashta Diggajas) đứng ở 8 hướng khác nhau để đỡ lấy và giữ vững trọng trách cân bằng cho Trái Đất. Hình tượng các chú voi lực lưỡng nâng đỡ đền đài từ phần móng kiến trúc là minh chứng rõ nét cho niềm tin này.
-Gajalakshmi (Nữ thần Lakshmi bên cạnh loài voi) là biểu tượng tối cao của sự giàu sang và quyền lực. Trong các bức họa, nữ thần thường được hộ tống bởi hai chú voi trắng phun dòng nước tinh khiết lên người ngài, tượng trưng cho những cơn mưa mang lại sự màu mỡ, thịnh vượng và tài lộc.
Trong Phật giáo, voi là một biểu tượng thiêng liêng và cao quý, đại diện cho sức mạnh tinh thần, trí tuệ, sự kiên nhẫn và lòng từ bi. Loài vật này xuất hiện xuyên suốt từ cuộc đời của Đức Phật Thích Ca cho đến các biểu tượng của các vị Bồ Tát. Dưới đây là những ý nghĩa cốt lõi của hình tượng voi trong Phật giáo:
– Điềm báo Đức Phật đản sinh (Voi trắng sáu ngà)Sự kiện Đức Phật Thích Ca Mâu Ni chuyển thế được gắn liền với hình ảnh một chú voi trắng.Giấc mơ của Hoàng hậu Maya: Trước khi sinh hạ Thái tử Tất Đạt Đa, Hoàng hậu Maya đã nằm mơ thấy một con voi trắng sáu ngà, vòi ngậm một bông hoa sen trắng, từ trên trời bay xuống và nhập vào hông bên phải của bà.Ý nghĩa: Voi trắng (Bạch tượng) tượng trưng cho sự thánh thiện, tinh khiết và không bị ô nhiễm bởi bụi trần. Sáu chiếc ngà tượng trưng cho Lục độ (6 hạnh nguyện của Bồ Tát: Bố thí, Trì giới, Nhẫn nhục, Tinh tấn, Thiền định, Trí tuệ)
– Vật cưỡi của Đại Trí Bồ Tát Phổ Hiền: trong hàng ngũ các vị Bồ Tát, Bồ Tát Phổ Hiền (đại diện cho hành nguyện và đại định) luôn được khắc họa ngồi trên một con voi trắng sáu ngà. Hình ảnh này thể hiện sức mạnh vượt trội của Phật pháp có thể điều phục được mọi tâm tính hoang dã.Bước đi vững chãi, chậm rãi nhưng không gì lay chuyển được của con voi tượng trưng cho ý chí kiên định, bền bỉ của người tu hành trên con đường cứu độ chúng sinh
– Giai thoại voi Nalagiri: Có một lần, Đề Bà Đạt Đa (người đố kỵ với Đức Phật) đã cho một con voi hung dữ tên là Nalagiri uống rượu say để nó lao vào giẫm đạp Đức Phật. Tuy nhiên, khi đối diện với Đức Phật, nhờ năng lượng từ bi và bình an vô lượng của Ngài, con voi dữ đã ngay lập tức quỳ xuống quy phục
– Voi chúa dâng quả cho Đức PhậtTrong thời gian Đức Phật nhập hạ một mình tại khu rừng Parileyyaka (do các đệ tử tranh cãi nhau), một con voi chúa đã đến hầu cận Ngài. Chú voi này hằng ngày dùng vòi hái trái cây, múc nước sạch để dâng lên cúng dường Đức Phật, thể hiện rằng ngay cả loài vật cũng có linh tính và lòng tôn kính đối với bậc Chánh Đẳng Chánh Giác.
Hình tượng thần lợn (heo thiêng) xuất hiện đa dạng trong nhiều nền tôn giáo và tín ngưỡng, mang ý nghĩa từ đấng cứu thế quyền năng trong Ấn Độ giáo, hộ pháp trong Phật giáo, cho đến các nghi lễ tế thần mang đậm bản sắc văn hóa dân gian Châu Á.Các khía cạnh nổi bật của hình tượng này bao gồm:
– Varaha (Thần Lợn Rừng) trong Ấn Độ giáo: Lợn được tôn kính là một trong 10 hóa thân (Avatara) quan trọng nhất của thần Vishnu. Theo truyền thuyết, thần Vishnu đã hóa thành một con lợn rừng khổng lồ để lặn xuống đáy đại dương, dùng chiếc ngà của mình nâng trái đất thoát khỏi tay ác quỷ và giải cứu nhân loại.
– Nữ thần Ma Lợi Chi Thiên (Marici) trong Phật giáo: Là vị thần ánh sáng được tôn sùng trong Phật giáo (đặc biệt là dòng Kim Cương Thừa). Bà thường có hình tượng cưỡi trên lưng lợn hoặc được kéo bởi những chú lợn, tượng trưng cho sức mạnh vượt qua bóng tối và sự bảo vệ.
– Lợn thần hay heo thiêng hay còn gọi là thần trư (tiếng Trung phồn thể: 神豬, giản thể: 神猪, phiên âm Quan Thoại: shénzhū, Wade-Giles: shen-chu, tiếng Phúc Kiến: sîn-tu) là những con lợn được vỗ béo hết mức để xẻ thịt chào mừng năm mới theo truyền thống của người Hẹ (Hakka) thông qua lễ hội rước heo thiêng ở Đài Loan. Lễ hội này đã đặt ra những ý kiến trái chiều về vấn đề phúc lợi động vật. Tại mỗi dịp này, có đông người đổ đi xem cuộc thi Rước Heo Thiêng thường niên vào dịp Tết âm lịch bất chấp lễ hội bị chỉ trích là tàn bạo. Trong tiếng Anh, những con lợn này còn được biết đến với tên gọi “Pigs of God” (tạm dịch là những chú lợn của Chúa) là lễ hội thường niên thú vị nhưng cũng gây nhiều ý kiến trái chiều ở Đài Loan
– Biểu tượng của sự sung túc: Trong văn hóa Á Đông (Trung Quốc, Việt Nam), lợn đại diện cho sự sinh sôi, phồn vinh, tài lộc và thường xuyên xuất hiện làm vật phẩm trong các nghi lễ cúng bái thần linh.
—o—o—o—
TẤM CÁM PHIÊN BẢN LÀO
Cám là mụ khổng lồ ăn thịt móc mắt, sự sống đặt ở tim.
Tấm thay vì ba chìm bảy nổi lại thành 12 cô gái mù ứng với phận gái 12 bến nước.
Once upon a time, long ago, a lumberjack and his wife lived in the land of Inthapatha. The end of the month was difficult, as cutting wood didn’t pay much. What’s more, the meal budget was substantial, with 12 young girls to feed.
The whole family was losing weight for lack of food. How to solve this problem? A radical but effective solution: the girls were abandoned in the forest.
In the course of their wanderings, they entered the lands of Sunthara La Nyakhini, a terrible ogress. Her favorite food? Maiden meat. Needless to say, the outcome of this passage did not bode well. Luckily, the ogress had a daughter who was dying of boredom for lack of friends. So, she decided to spare the 12 girls to entertain her offspring. The human stew with court bouillon will come later.
Well-fed, they became plumper and plumper, and the ogress began to find it hard to curb her cravings for fresh flesh. It was time to run away. As they grew, the girls had become beautiful damsels. And when they arrived on King Paluthasaen’s land, he decided to marry them all. The result was a marriage of 12 new wives!
Who do you think had it a bit bad? Yes, the ogress. She had fed 12 young girls with a view to eating them, but they had run away and were now married to a king. The good life! So, she hatched an evil plan for revenge. Here are the main stages. She transformed herself into a creature of incredible beauty, married the same king and made sure she was crowned first queen. Then she pretended to be ill. The cure for this incurable disease? The eyes of the 12 other wives. Pretty radical revenge. The king complied, ordered their eyes gouged out and sent them into exile.
So, the young women resumed their wandering. Except now they couldn’t see, and they all happened to be pregnant. Murphy’s Law! Arriving at a cave, they had no choice but to eat the newborns. Yes, it’s hard to go foraging when you’re blind, isn’t it?
The story could have ended there. Except…. Nang La, the youngest of the sisters, was “lucky” enough to have only one eye gouged out. She took advantage of the situation to shelter her child and raise him as discreetly as possible, otherwise he would have ended up as a sandwich.
One day, a wild rooster passed by the cave and took pity on them. From then on, he began to feed them every day. Thanks to the rooster’s offerings, Nang La’s son grew into a strong, healthy young man. But, let’s not forget, he wasn’t supposed to be alive! That’s why his mother ordered him to spend most of his time outside the cave.
So, he spent his days in the next village, where he assiduously practiced the local chess game. So much so, that his talent made the rounds of the kingdom and reached the ears of Paluthasaen. Remember him? He’s the king and husband of the 12 maidens. He met the child, who told him his story and his years spent in the cave. He soon realized he was none other than his own son. So, the boy moved to the palace.
And who don’t you think liked that? Yes, the ogress, her again… Once again, she faked an incurable disease. Lack of imagination, eh? In short, the plan to get rid of the Prince was to send him to fetch the so-called cure from his daughter in the forest. The Prince was to deliver a letter to her, the message of which was fatal to him. Fortunately, he came across a hermit in the forest who magically altered the contents of the letter.
Of course, once we got there, it was love at first sight. The girl was full of good advice and taught the princes a few tricks. These included how to make thorny forests appear, how to make rivers boil, and how to create a wall of fire with a magic lemon. She also revealed where her aunts’ eyes and the ogress’ heart were stored. Yes, curious as it may seem, she could live with her heart outside her body.
Prince Phoutthasaen and his beloved
The prince left his new wife to return to his mother and aunts the eyes that had been stolen from them. Once this was done, he returned to the palace to settle accounts with the ogress. He cut out her heart, which logically led to the death of the stepmother.
And the king? He had made a few mistakes. Marrying an ogress, gouging out the eyes of his 12 wives, exiling them to a cave, sending his son to be killed, in short…. To make up for it all, he invited the whole family back to live at the palace. All’s well that ends well.
Phou Nang long time ago
Except… let’s not forget that Prince Phoutthasaen had to leave his beloved to restore his aunts’ sight. So, he got back on his winged horse to return to her. His wife, Vainya Lapati, had died of grief at his departure. Shattered by the news, he in turn died of grief. In the name of their love, they were transformed into mountains in the shape of elongated bodies, face to face.
And that’s the end of the story…
Phou Tao and Phou Nang, Luang Prabang
We hope you enjoyed it as much as we did. What we really like is that, even today in Luang Prabang, you can still admire Phou Thao (the boy’s mountain) and Phou Nang (the girl’s mountain). Symbols of this eternal love, these hills are a fine mark of the timelessness of these tales
—o—o—o—
LỢN LÀO : ĂN NGỦ THẾ NÀY THÀ CHẾT CÒN HƠN
Ngày xửa ngày xưa có một cặp vợ chồng cùng đàn con chạy trốn thảm sát từ Luang về Viêng. Họ dắt díu nhau đến hang Tham Chang. Trước đó mải chạy trốn quên ăn quên ngủ, Iại sợ hãi cùng cực, không ai suy nghĩ gì, đến đây cảm giác đói mệt bùng lên dữ dội hơn cả sự sợ hãi, cả đoàn dừng chân chui vào hang trốn.
Ở đây một đứa con gái lăn ra ăn vạ, nó bảo nó muốn ăn no, ngủ kỹ, ăn ngon, ngủ êm, ăn ngủ thế này, chẳng thà nó chết còn hơn là sống, sống khổ thế này sống làm gì, chạy làm gì, trốn làm gì.
Bố nó bảo giờ có cái ăn, có nơi ngủ là quý lắm rồi, cần giữ sức để chạy tiếp, chỗ này chỉ là nơi nghỉ tạm không an toàn để dừng chân lâu dài. Giờ cả đoàn nương tựa vào nhau, lúc người này đi kiếm đồ ăn thì người khác tranh thủ ngủ và người khác nữa phải thức canh. Nếu cả đoàn đi rồi, chỉ mình nó nếu không chết đói, chết mệt thì cũng bị bọn truy đuổi tìm thấy giết chết. Cả đoàn ở lại cùng nó thêm vài ngày cũng rất nguy hiểm, mọi người phải chia nhau ra từ đây, đi đâu xa hơn an toàn hơn để sống.
Nhưng đứa con gái đã mất hoàn toàn động lực chạy trốn, nó bảo nó sẽ ở lại đây, sau này mọi người cứ quay lại đây tìm nó, nếu nó chết cũng chết ở đây. Nếu nó có bị giết chết trong lúc ăn hay lúc ngủ cũng không sao, thế vẫn còn hơn là sống kiểu này.
Bố nó nói rằng nó đã quên mất mục đích sống của mình, nó sống để ăn ngủ mà nó sống cũng không phải để ăn ngủ. Thời khắc hiện tại, hoàn cảnh hiện tại không phải để ăn ngon ngủ kỹ. Nếu nó không muốn sống như thế này thì cũng không phải chết là xong, chết cũng có mục đích như sống và phải chết đúng như sống đúng. Không phải không thích sống thì chế, sợ chết thì sống mà sống chết như thế nào và sống chết để làm gì cho ý nghĩa và xứng đáng.
Đứa con gái này không muốn nghe, nó chui sâu vào hang, đánh một giấc ngủ say. Chết hay sống cũng phải ngủ đã. Bọn truy đuổi đến hang, thấy dấu vết của đoàn người đã rút đi bèn phân thành nhiều nhóm đuổi theo các hướng. Riêng một nhóm đi sâu vào trong hang và chặn cửa hang thêm một vài ngày để chắc chắn không ai thoát. Canh gác cửa hàng nhiều ngày không thấy ai ra ngoài nên bọn chúng rút đi hết.
Lợn ta ngủ li bì nhiều ngày thật đã, lũn cũn ra ngoài đã chẳng còn ai ngoài mình. Từ đó ngày nào nó cũng thoải mái ăn no, ngủ kỹ.
Tuy nhiên, ngày nào cũng chỉ ăn ngủ như thế, nó tự dưng chán ăn chán ngủ. Ngày trước, một giấc ngủ ngắn chập chờn trong lúc bị truy đuổi sao mà sướng thế, tỉnh dạy chạy trốn mà bước chân vẫn như đang trong mơ. Ngày trước, vài miếng ăn cùng người thân trong lúc chạy trốn sao mà ngon thế, giờ muốn ăn lúc nào cũng được mà lại chán ăn.
Lợn ta quyết định ngủ là chính, đói lắm mới ra ngoài ăn. Lâu dần nó mất cảm giác đói và cảm giác thức, lúc nào cũng lãng đãng ngủ.
Từ một con lợn béo tròn ham ăn hay ngủ, giờ nó như con lợn ma vật vờ. Rồi một ngày lợn con mắt hoàn toàn vị giác, nó không còn cảm giác đói, nó không còn động lực thức dạy để kiếm ăn nữa. Cuối cùng nó chết khô trong lúc ngủ ly bì.
Thời gian cuối cùng ở trong hang và khu đã thành ma, lợn con không cần biết luôn là nó sống hay chết, với nó ăn ngủ sống chết cũng chán như nhau cả.
Nuôi con chó nó còn canh nhà, gắn bó với chủ, chứ nuôi con lợn, thì dù nó có biết sau khi béo tròn sẽ bị thịt thì nó cứ ăn ngủ kỹ đã.
Nuôi mèo nuôi gà thì dù uống no đủ chuồng trại sạch sẽ, chúng vẫn bỏ đi hàng ngày nhiều ngày hoặc bỏ đi hẳn thành mèo mả gà đồng, chứ chẳng yên ổn ăn no ngủ kỹ trong chuồng như con lợn.
Tinh thần lợn Lào bao trùm và tạo ra tư tưởng gốc của những người cầm tinh con lợn Lào này
– Ừ thì cũng muốn đấu tranh giành độc lập và tự chủ nhưng đấu tranh khổ quá, thôi phụ thuộc cũng không sao, miễn sao ăn no, ngủ kỹ, nhàn thân là được, mất chút tự do cũng không nghiêm trọng, vẫn ăn ngủ đầy đủ là được
– Làm việc khổ quá, bỏ việc ăn ngủ thoải mái một thời gian tính sau
– Kỳ nghỉ thì không nên làm việc, cũng chẳng nên đi du lịch vất vả, đi gần gần, có thêm thời gian hưởng thụ,
– Được thêm một ít mà phải cố gắng, phải đấu tranh, chả thà bớt đi
– Ai muốn thì đi mà làm, làm thế này đủ rồi, không quá hài lòng nhưng chẳng quá thất vọng
– Ừ nhà chung cư không tốt, ừ thức ăn siêu không lành, ừ uống thuốc thêm bệnh, nhưng ai chả ăn ở như vậy cho nhàn, tận thế, tâm linh, thời đại mới khi nào đến thì đến
– Tu tập khó thế làm sao được, sống chết khó thế hiểu sao được, kệ chả quan tâm
– Lịch sử khó thế cần gì hiểu, bảo gì biết thế, tương lai khó thế đoán sao được, lập kế hoạch lại phải làm, đến đâu hay đến đó
– Sống phải ăn ngon ngủ kỹ, chứ cứ phải đề phòng, lo lắng, phấn đấu thì chết cũng được, cũng như sống
– Trời sinh voi, trời sinh cỏ, trời sinh lợn thì trời có thức ăn cho lợn, sao phải lo bò trắng răng
– Ai thức khuya dậy sớm thì mình ngủ sớm dạy muộn
– Ai chủ động, mình theo, mình ưa bị động
Người mẹ sau nhiều kiếp sống nhớ lại chuyện xưa với đứa con gái ham ăn ham ngủ của mình, đứa con gái chỉ cần ăn ngon ngủ kỹ là hớn hở của mình. Bà tìm đến cái hang thì chỉ còn thấy một hòn đá, chính là xác con lợn xưa đã chết khô trong lúc ngủ rồi hoá thạch.
Người mẹ rất thương con. Nhớ lại lời ông bố, bà hiểu đứa con này có bài học về mục đích sống, cách thức sống và quan hệ sống đủ đúng đắn, đủ sâu sắc và đủ đa dạng.
Nếu nó chọn sống để ăn và ngủ, thì nó phải đủ động lực để ham muốn trải nghiệm ăn ngon, ăn đa dạng, ăn cùng người thân, ăn cùng bạn bè, ăn cùng người lạ, đến đâu ăn đấy, cả nhà cùng được ăn, ăn đến no, ăn lúc đói nhưng lúc nào cũng muốn ăn, ăn thì vui và vui là ăn, nó phải giữ được tinh thần ăn ngủ này cả lúc sống và lúc chết, một mình và với mọi người.
Con lợn con nhớ lại cảm giác được bú mẹ, được ăn ngon, cảm giác thèm ăn của nó quay lại, nó nghĩ nó không nên chết và sống lãng xẹt như vậy, nó muốn sống lại để được làm con lợn hồng, sống để ăn và ăn để sống, nhưng phải ăn cho đáng sống và sống cho đáng ăn.
—o—o—o—
KHÔNG CÓ NHAU THÀ CHẾT CÒN HƠN
Cha mẹ sau khi dắt các con chạy trốn đến hang Tham Chang, ông bố thấy rằng nên chia đoàn làm đôi, ông bố sẽ đưa một nửa số con theo đường núi, bà mẹ đưa một nửa số con theo đường biển. Ai đi đường nào là theo năng lượng gốc và thiên hướng tự nhiên.
Có một đứa con gái khóc nức nở, không muốn phải lựa chọn bố hay mẹ. Nó bảo nó không cần nhà, nó không cần quê, sống ở đâu cũng được, chết ở đâu cũng được, sống hay chết, no hay đói, sướng hay khổ, miễn sao cả nhà có nhau, sao phải vì chuyện này chuyện khác mà chia xa mỗi người một nơi. Trời sinh voi, trời sinh cỏ, chúng ta đã sinh ra là một gia đình, nhất định phải giữ lấy nhau, nương tựa nhau, không thể chia xa, nó khóc lóc xin bố mẹ đừng bỏ nhau, đừng bỏ nó cũng đừng bắt nó phải lựa chọn.
Cha mẹ thảo luận sẽ chia đôi tín vật định tình, mỗi người giữ một nửa, hẹn sau này khi gặp lại sẽ ghép tín vật này để nhận ra nhau. Trong trường hợp một người hoặc cả hai người gặp nạn thì không ai có thể mở được tín vật này ngoài chính cha và mẹ.
Mỗi đứa con sẽ có một tín vật với cha mẹ và một tín vật với nhau.
Bộ tín vật này sẽ chia đôi : một gắn với mảnh đất nơi cả nhà chia ly và một ở trong máu huyết và hơi thở mà đi theo mỗi người.
Tín vật được truyền thừa từ đời này sang đời khác. Nếu đời này còn chưa gặp nhau thì tín vật sẽ đi theo các đời đầu thai của từng người cho đến khi cả gia đình gặp lại.
Cha mẹ cho các con tự chuẩn bị tín vật. Voi con muốn có một tín vật với cha, một tín vật với mẹ, một tín vật với mỗi anh chị em của mình. Voi con muốn ghi nhớ từng người trong gia đình, gặp lại từng người trong gia đình và cũng mong muốn từng người đều lưu giữ các kỷ niệm về voi. Bộ tín vật này của voi con tạo thành một mạng lưới với hàng triệu nút thắt, liên kết xúc cảm, ký ức những bữa ăn, giấc ngủ cùng cả quá trình sinh ra và lớn lên của các thành viên trong gia đình.
Tín vật này của voi con gọi là Lan Xang, nghĩa là Triệu Voi, với Lan là triệu, Xang là Voi.
Triệu Voi với người Lào cũng chính là Bọc trăm trứng với người Việt.
Thông qua mạng lưới này các sắc tộc Lào, các bộ tộc Lào liên kết lại thành một mạng lưới đan kết chặt chẽ mà mềm dẻo. Khi một người Lào đến một đất nước khác, lưới Triệu Voi này sẽ được kéo dãn ra, chừng nào người ấy còn có xúc cảm với quê hương và gia đình.
Khi những người trong gia đình sinh con đẻ cái, lưới Triệu Voi sẽ theo dòng máu mở rộng xuống các thế hệ này.
Nếu như người Việt có câu “Cha trời mẹ đất” thì điều này cũng đúng với người Lào. Cha của các bộ tộc Lào là Khun Borom và vùng đất sinh ra các bộ tộc Lào là Mường Then hay Mười Trời.
Khi người Việt nói “Lưới trời lồng lộng” thì sang bên Lào, tấm lưới ấy là Triệu Voi, vừa nối luồng máu theo quan hệ sinh thân, vừa nối với các vùng đất sản sinh và nuôi dưỡng các bộ tộc. Triệu Voi vừa là lưới huyết thống vừa là lưới quê hương xứ sở.
Khi cha mẹ chia tay nhau mỗi người một ngả, voi con phân chia thành triệu điểm nút thắt, đi theo chia sẻ và lưu giữ toàn bộ trải nghiệm của từng thành viên gia đình.
—o—o—o—
SỐNG HAY CHẾT GIA ĐÌNH VẪN CÓ NHAU
Khi cả gia đình chạy trốn từ Luang đến Viêng, một số đã chết và một số còn rất yếu. Ở hang Tham Chang, cả gia đình quyết định tách nhau ra chạy trốn theo các hướng khác nhau, trong đó có một nhóm xuống biển với mẹ và một nhóm đi đường rừng với bố. Mỗi người chuẩn bị tín vật để sau này khi tìm về Viêng, sẽ nhận được nhau.
Một đứa con gái nói với bố mẹ rằng nó không thể đi tiếp được, nó đã kiệt sức, nó lựa chọn dừng lại và chết ở Vieng. Nó rất vui vì được đi cùng cả gia đình đến tận đây. Nếu có thể đi tiếp được, nó sẽ theo mẹ xuống biển. Giờ nó chỉ đủ sức ở lại sông Nam Xong, con sông chính ở Viêng.
Nó muốn trở thành một tín vật của gia đình ở Viêng. Nó làm một tín vật với từng thành viên của gia đình, với cha và với mẹ.
Nếu có một thành viên của gia đình quay lại Viêng, mà nó nhận ra được họ thông qua bộ tín vật của người ấy với nó, nó sẽ thức tỉnh họ để họ nhớ lại lời hứa tìm lại gia đình khi chia tay nhau ở Viêng.
Nó không muốn vứt bỏ gia đình chỉ để ăn và ngủ như lợn con. Đối với nó các ký ức ăn ngủ chỉ đẹp vì có cả gia đình. Nó không khăng muốn cả nhà phải bên nhau cùng sống hay cùng chết như voi con. Nó lựa chọn đồng hành về tinh thần với mọi người, còn thân thể ở lại.
Nó muốn chấp nhận thực tế là mình quá yếu để sống tiếp và nó cần đưa ra lựa chọn tốt nhất dựa trên thực tế này. Sống hay chết với nó là một bài toán thực tế chứ không phải là một ham muốn bằng mọi giá, và nó phải chủ động đưa ra lựa chọn tối ưu cho cả sự sống và cái chết của mình.
Nó chết đi thành một vị thần của khúc sông Nam Xong đoạn chảy từ hang ngầm Tham Chang ra. Con sông Nậm Xong sau đó hợp với Nậm Ngừm chảy về nam Vientian.
Hàng ngày nó đều xem lại các ký ức gia đình bởi vì nó không muốn quên mất bất kỳ ai trong gia đình và nó không muốn lãng quên chính cuộc đời của nó, bộ tín vật của nó và lời hứa hội ngộ với gia đình của nó.
Thời gian trôi qua như nước chảy, các ký ức của nó cứ mờ nhạt dần. Đến một ngày, nó chỉ còn nhớ rằng nó đang đứng ở đây để chờ gia đình mình. Nó chỉ còn nhớ rằng nó có lời hứa sẽ nhắc nhở những người đi ngang qua khúc sông này mà mang bộ tín vật gia đình của nó nhớ lại lời thề hội ngộ gia đình năm xưa.
Nó chỉ nhớ nó có ước mơ về việc đoàn tụ gia đình, gặp lại cha mẹ và anh chị em mà nó rất yêu thương nhưng nó cứ quên dần quên dần các ký ức gốc.
Nó rơi vào tình trạng lãng đãng, các ký ức chỉ còn là cảm giác mơ hồ.
Qua hàng chục hàng trăm năm đứng ở khúc sông này, nó đã gặp nhiều thành viên của gia đình vô tình hay hữu ý quay lại Vang Viêng, khi nhận ra họ có chung bộ tín vật gia đình với nó, nó đều cố hết sức gọi họ mà chưa bao giờ thành công. Mọi người thờ ơ đi qua khúc sông, không nghe thấy nó hoặc có một cảm giác mơ hồ rằng họ đã lãng quên gì đó rồi lại đi tiếp.
Dù không ai trong gia đình nhận ra nó nhưng việc nó nhận ra họ là những giây phút các ký ức mờ nhạt từ lúc chết sống lại, và nó cũng như được sống lại thoát ra khỏi tình trạng lãng đãng.
Chính nhờ vậy mà sau rất nhiều năm, những thành viên gia đình còn sống lúc đó đã trải qua nhiều đời đầu thai, còn nó cũng đã trải qua nhiều lần đi đến giới hạn gần như không còn ký ức rồi ký ức lại được sống dạy.
Cho đến một ngày mẹ nó quay lại khúc sông này, mẹ nhận ra nó, nó cũng nhận ra mẹ là ai đó thân quen lắm mà không biết là ai. Mẹ rất thương nó nên giúp nó nhớ lại ký ức gốc và bộ tín vật gốc. Nó oà khóc sà vào lòng mẹ, sự chờ đợi của nó bao lâu, mơ ước của nó bao lâu giờ đã thành hiện thực.
Đứa bé gái này giữ thanh âm cá heo, một con vật đặc trưng của Mê Kông nói riêng và cả vùng đồng bằng sông Ấn và Đông Nam Á nói chung.
Đứa bé gái này giữ chìa khoá đối đứa bé chết trong hang, một là heo thú thổ hình, một là heo cá âm thuỷ. Cả hai chìa khóa này ghép lại đối xứng với đứa bé giữ khóa Triệu Voi, mà nằm trong bộ khóa đôi Triệu Voi – Vạn Tượng. Khóa heo thú thổ hình và Triệu Voi liên quan đến cha nhiều hơn, còn khóa Vạn Tượng và cá heo ăn thủy theo mẹ. Ghép bốn chìa khóa này sẽ lên bộ khóa cơ bản của gia đình hoàng gia mà chạy trốn từ Luang sang Viêng.
Chia sẻ:
Scroll to Top