TU THÂN QUA TẤM GƯƠNG CỦA KHỔNG TỬ

Loading

TỰ XEM LẠI VIỆC TU THÂN CỦA BẢN THÂN QUA TẤM GƯƠNG CỦA KHỔNG TỬ

—o—o—o—

TỰ XEM LẠI VIỆC TU THÂN CỦA BẢN THÂN

Trong lớp tư vấn về Hạnh nguyện, tôi có yêu cầu các bạn học sinh tự xem lại toàn bộ quá trình “tu thân” trong cả quá trình “tu thân, tề gia, trị quốc, bình thiên hạ” của mình.

Các bạn học sinh có thể cảm nhận được sự trưởng thành của mình qua thời gian, nhưng không thể nào mà mô tả được quá trình tu thân của mình, thậm chí cũng không biết mình đã tu thân chưa. Có bạn coi lúc đi học xa nhà mà chưa lập gia đình là giai đoạn bắt đầu có chí tu thân mà chưa có chí tề gia, theo bài tự đánh giá mẫu của cô giáo. Có bạn coi lúc bắt đầu đi học thiền với cô giáo là bắt đầu tu thân, bởi vì mục tiêu đầu tiên, xuyên suốt và cao nhất cho các lớp thiền chữa lành của tôi là tự quan sát bản thân, tự thẩu hiểu và tự chỉnh sửa bản thân.

Tôi thấy rằng “tu thân” và “bình thiên hạ” hai động lực và hai tiến trình của cuộc đời, mà khó nhận thức và khó miêu tả nhất, vì đây cơ bản là hai trạng thái nội tâm, không thể hiện ở một sự việc hay hành động cụ thể, không có một khuôn khổ rõ ràng về nơi chốn và công việc như “tề gia” và “trị quốc”.
– “Bình thiên hạ” là cấp tâm rất cao, khi một người hiểu được tâm tư của thiên hạ, thiên hạ đang muốn gì, thích gì, sợ gì, nghĩ gì. Mình bình định được thiên hạ trong tâm mình, mình bình định được mình trong tâm thiên hạ.
– “Tu thân” cũng là hiểu được tâm tư của chính mình, mình muốn gì, thích gì, sợ gì, nghĩ gì, mình giỏi gì, mình kém gì, để từ đó tự tu dưỡng và phát triển chính mình.
– “Tu thân” là trạng thái bình dị và dễ hiểu với số đông hơn nhiều so với “bình thiên hạ”, và thông thường một người sẽ luôn suy từ bụng ta ra bụng thiên hạ. Khi còn trẻ ta nghĩ rằng ta muốn hạnh phúc, thì thiên hạ cũng muốn hạnh phúc như ta, sau này ta hiểu ta muốn hạnh phúc kiểu của ta, mẹ muốn ta hạnh phúc kiểu lấy chồng, thiên hạ muốn hạnh phúc muôn vàn kiểu trái ngược nhau. Khi còn trẻ, ta nghĩ ta không hại người, thì người không hại ta, cho đến khi lớn lên ta gặp những tình huống thiên hạ vì biết ta không hại người, nên ra sức hại ta. Qua những vấp váp, ta trưởng thành hơn với chính ta và với thiên hạ.

Rất khó cho mỗi người nhận thức và tự đánh giá được trạng thái tu thân của chính mình bắt đầu khởi lên từ bao giờ, trải qua những cột mốc nào và hiện đang ở đâu. Người biết được nội tâm của mình trải qua những sự trưởng thành như thế nào và mô tả được tiến trình ấy tường minh rõ ràng là bậc thánh nhân.

Hình dung, có được hồi ức tường minh của cuộc đời mình như ngày đầu tiên đi học, cuốn sách đầu tiên tự mua, bức tranh đầu tiên tự vẽ, khoản tiền đầu tiên tự kiếm được … và biết rằng đây là một chuỗi cột mốc gắn với sự trưởng thành của cá nhân mình đã là một trình độ tâm thức cực kỳ cao với mỗi chúng ta. Hiểu rõ ràng và sâu sắc nội tâm của mình đã chuyển hoá ra sao qua các sự kiện ấy lại càng khó hơn.

Chỉ có những bậc thánh nhân thấu hiểu về bản thân mình, về tâm, về tu, về đạo, mới có thể nhìn thấu tiến trình sống của mình cả về hành vi thân thể và chuyển hoá tâm thức, nói cách khác là nhìn cả cuộc đời mình như một tiến trình tu thân như thế được. Khổng Tử là một bậc Thánh nhân như vậy.

KHỔNG TỬ TỰ TỔNG KẾT QUÁ TRÌNH TU THÂN CỦA MÌNH

Khổng Tử tự nói gì về quá trình tu thân của chính ông ?

Sách “Luận ngữ” đã chép lại lời của Khổng Tử về sáu giai đoạn của cuộc đời, mà cũng là sáu bước tu thân của mình : “Ngô thập hữu ngũ nhi chí vu học; Tam thập nhi lập; Tứ thập nhi bất hoặc; Ngũ thập nhi tri thiên mệnh; Lục thập nhi nhĩ thuận; Thất thập nhi tùng tâm sở dục bất du củ”.

– “Ngô thập hữu ngũ nhi chí vu học” nghĩa là 15 tuổi bắt đầu có chí học hành : Khổng Tử là người tự học. Vì Khổng Tử mồ côi cha từ lúc 2 tuổi, nên việc học hành của ông hoàn toàn do cái chí của ông tự lập nên. 15 tuổi là lúc ý chí tự học này của Khổng Tử bộc lộ rõ thành hành động. Ông tự học ở nhà và ở trong công việc phụ giúp gia đình, mà ông phải đảm trách từ nhỏ do cha ông mất sớm.

Khổng Tử lập gia đình lúc 19 tuổi, vậy từ 19-30 tuổi là giai đoạn tề gia, và bắt đầu tu thân trong gia.

– “Tam thập nhi lập” nghĩa là 30 tuổi mới tự lập : 30 tuổi, Khổng Tử được vua Lỗ cấp xe và người hầu đi khảo cứu luật lệ, thư tịch cổ, nhưng vua Lỗ không tin dùng ông, 35 tuổi, Khổng Tử sang Tề, được vua Tề khâm phục muốn phong đất.

Vậy trong cuộc đời Khổng Tử, giai đoạn 30-35 tuổi là bắt đầu lập nên sự nghiệp ngoài xã hội, giai đoạn 35-40 tuổi là giai sự nghiệp ngoài xã hội ấy đã có nhiều thành tựu. Sự nghiệp ấy đã chạm đến tầm trị quốc của vua

– “Tứ thập nhi bất hoặc” nghĩa 40 tuổi mới có nhận thức chắc chắn, tường minh, không nghi hoặc : 40 tuổi Khổng Tử về Lỗ tiếp tục nghiên cứu và dạy học. Tổng số môn đệ của Khổng Tử có lúc lên tới 3.000 người, trong đó có 72 người được liệt vào hạng tài giỏi, nên gọi là Thất thập nhị hiền.

Đây là giai đoạn Khổng Tử đã ở địa vị trị quốc của chính mình, mà sau này phát triển thành Nho giáo.

– “Ngũ thập nhi tri thiên mệnh” nghĩa là 50 tuổi mới hiểu thiên mệnh : Năm 50 tuổi, Khổng Tử được vua Lỗ Định công mời làm Trung đô tế, năm sau được thăng chức Tư không rồi chức Đại tư khấu. Ông khuyên Lỗ Định công thu hồi binh quyền của ba dòng họ quý tộc nước Lỗ. Nước Tề thấy nước Lỗ mạnh lên, có ý lo ngại. Vua Tề theo kế, dâng vua Lỗ 80 thiếu nữ đẹp và 125 con ngựa tốt. Vua Lỗ sau khi nhận gái đẹp bỏ bê việc triều chính, có khi luôn 3 ngày không ra thiết triều, mọi việc đều giao cả cho quyền thần.

Vua trị quốc gia của vua, Khổng Tử trị quốc của Khổng Tử. Ai có mệnh của người ấy. Khổng Tử trị quốc của Khổng Tử theo nhận thức và ý muốn của Khổng Tử, vua Lỗ trị nước Lỗ theo nhận thức và ý muốn của vua Lỗ, vua Tề trị nước Tề theo nhận thức và ý muốn của vua Tề. Thiên không trị mà Khổng Tử hay bất kỳ vị vua nào cũng phải theo thiên mệnh của chính mình. Vua nào, quốc nào cũng là thiên hạ của Thiên. Đây là giai đoạn bắt đầu của Bình thiên hạ

– “Lục thập nhi nhĩ thuận” nghĩa là 60 tuổi mới biết nghe thuận tai. Năm 55 tuổi, Khổng Tử xin từ chức, bỏ nước Lỗ đi chu du các nước chư hầu. Ông đi khắp thiên hạ để truyền bá tư tưởng của mình nhưng giới cầm quyền các nước chư hầu thời bấy giờ chẳng ai muốn áp dụng đạo trị quốc của ông. Đương thời mọi người đều biết ông là người kiên định với lý tưởng của mình, là người biết chủ trương của mình không thực hiện nổi mà cứ cố làm.

Nghe thuận tai là nghe những điều đúng ý mình. Nghe những điều sai trái, trái ý mình, nhưng mình hiểu được lý do của người nói thì nó vẫn thuận tai. Như vậy bất kỳ cái gì cũng thuận tai hết nếu chúng ta hiểu. Đây là lúc tâm đạt được bình thiên hạ.

– “Thất thập nhi tòng tâm sở dục, bất du củ” nghĩa là 70 tuổi, làm theo tâm mình, mà không ra ngoài quy củ. Năm 69 tuổi ông về Lỗ chuyên tâm viết sách. Ông mất năm 71 tuổi.

Vậy 70 tuổi là lúc đạt được bình thiên hạ về mặt hành động. 70 tuổi là lúc tu thân ở cấp thiên hạ, định đươc mình trong thiên hạ và định được thiên hạ ở cấp mình.

Như vậy việc xem lại quá trình tu thân của Khổng Tử được thực hiện trước lúc ông mất. Lúc này Khổng Tử đã là vị thánh nhân đắc đạo.

Là bậc thày tu thân, chắc chắn Khổng Tử đã thường xuyên nhìn lại từng chặng đường của cuộc đời mình, mỗi lần thêm thấu hiểu, nhiều lần đánh giá các sự kiện như vậy, nhiều vòng đánh giá cả tiến trình cuộc đời như vậy, nhiều tầng thấu hiểu như vậy, cho đến tận lúc cuối đời.

Mấy lời tổng kết quá trình tu thân nghe đơn giản của Khổng Tử, người thường như chúng ta có sống đến trăm năm cũng chưa chắc đã làm nổi, đừng nói là sống theo nổi, tu theo nổi cái lộ trình này.

Khổng Tử là một tấm gương làm người, mà nhân gian khó có thể sản sinh ra một người thứ hai. Sống trên đời, chúng ta đừng đợi đến trăm tuổi mới nhìn lại đời mình, chúng ta nhất định nên học theo Khổng Tử mà xem xét lại việc tu thân của mình ngay từ ngày hôm nay.

CHÚNG TA CÓ CHÍ TỰ HỌC KHI NÀO ?

Quá trình tu thân của Khổng Tử bắt đầu vào năm 15 tuổi, khi ông bắt đầu có chí học hành. Khổng Tử là người tự học. 15 tuổi là lúc ý chí tự học này của Khổng Tử bộc lộ rõ ràng thành hành động.

Chí học hành của người tu thân cơ bản là chí tự học, tự nhận thức, tự kiểm chứng, tự thực hành, cha mẹ và thày cô chỉ là người định hướng. Ý chí tự học mà Khổng Tử nói là ý chí tự tạo ra một tiến trình học tập và nhận thức của cá nhân mình trong môi trường sống hàng ngày.

Vậy chúng ta có chí tự học từ khi nào ? Tôi đi tìm câu trả lời ấy, nó không dễ dàng.

Chí tự học không phải là chí tự đọc sách, nhưng để đơn giản hãy chúng ta hãy thử nhìn lại chí tự đọc sách của mình.

Đọc sách như là một phương pháp tu thân chỉ tập trung vào nhận thức nội dung, không bị trói buộc về câu chữ và ảnh hưởng bởi sự sùng bái người viết sách. Đọc sách để tu thân đòi hỏi phải tự hiểu và tự thực hành. Đọc sách để tu thân khác với đọc sách để giải trí, đọc sách để tìm kiếm kiến thức, trang bị kỹ năng … Có những loại sách không thể dùng để tu thân. Có những loại sách đúng là để tu thân, nhưng người đọc sách không có được tâm thế đó, thì càng đọc càng hại tâm. Có thời gian tôi cuồng đạo Phật, tìm kinh Phật về đọc, sau đó tôi bỏ cuộc và không bao giờ lặp lai sai lầm nhồi nhét kinh sách vì xúc cảm quá lớn như vậy nữa. Hiểu sách và đang thực hành những điều liên quan đến sách thì tôi mới đọc.

Khi cố gắng nhớ lại về thời điểm và hoàn cảnh dẫn đến việc lập chí tự học, tôi không thể nhớ được, tôi chỉ có cảm giác rằng tôi hình như bắt đầu đọc các tác phẩm văn học kinh điển thế giới từ cấp hai, do bố tôi mua sách thường xuyên để thành thư viện nhỏ trong nhà. Tôi nhớ tôi đã đọc Đồi gió hú, Jane Eyre, Chữ A màu đỏ, Những người khốn khổ, Ba người lính ngự lâm, Trà Hoa Nữ … từ hối cấp hai hay cấp ba gì đó. Tôi cũng đọc truyện thiếu nhi Hoàng tử bé, Xì trum, Những cánh buồm đỏ thắm, Tottochan cô bé ngồi bên cửa sổ …

Ngày tôi còn bé, không có nhiều sách vở và không có điều kiện sử dụng internet như hiện nay, những gia đình có cả tủ sách lớn với đủ các thể loại sách trong nhà như gia đình tôi không phổ biến. Mặc dù bố tôi biết tiếng Trung và đã từng sống một thời gian ở Trung Quốc, tôi không thể nhớ được tác phẩm kinh điển Trung Hoa nào trong tủ sách nhà mình, toàn văn học cổ điển châu Âu, văn học thiếu nhi Nga hoặc Pháp. Nhà có sách gì, dù dầy mấy trăm trang, giấy đen xì là tôi đều đọc cho hết. Cảm giác là tôi chả phân biệt lắm giữa truyện thiếu nhi và tiểu thuyết kinh điển dành cho người lớn.

Tôi còn nhớ tuần nào tôi cũng lượn các hàng sách gần nhà, tôi thuộc hết các bìa sách được bày trong tủ kính, tò mò tưởng tượng xem bên trong cái bìa đó, sách nói cái gì, thấy một số cuốn sách mới tựa đề và màu sắc bìa hấp dẫn, tôi về kể cho bố nghe. Hồi xưa không có hiệu sách lớn, và người mua được đọc thử sách như bây giờ. Bố tôi tuần nào cũng dẫn tôi đi dạo bờ hồ, rồi ghé qua hiệu sách, nhưng ít mua thôi vì nhà tôi có sẵn nhiều sách lắm. Bố tôi luôn mua được sách từ các nguồn nào đó đặc biệt lắm, thỉnh thoảng lại đem về mấy cuốn dày cộp.

Tôi nhớ có một số cuốn sách là do tôi mua đọc, không biết làm sao có tiền. Ấn tượng với tôi trong những cuốn sách tự tôi mua đọc là “Truyện cổ dân tộc Thái”, mà có rất nhiều chuyện về thuồng luồng, đọc xong đêm nằm tha hồ mà tưởng tượng bị thuồng luồng quấn vào người. Chả hiểu cuốn sách đó sau này có ảnh hưởng như thế nào đến việc tôi sang học cao học ở Thái Lan, đưa con sang sống ở trang trại hè bên Thái Lan. Nghĩ lại, tôi thấy mình có sẵn tình cảm rất sâu sắc với đất nước con người, đồ ăn, cảnh vật và văn hoá của đất nước này.

“Đường xưa mây trắng” của thày Thích Nhất Hạnh là một cuốn sách bước ngoặt của cuộc đời tôi, mà hình như tôi đọc từ cấp hai. Hồi đó tôi hoàn toàn không biết thày Thích Nhất Hạnh là ai cả, cho đến năm 2014, sang Myanmar thiền, gặp rất nhiều học trò của thày thì tôi mới biết đến thày. Bây giờ, tôi vẫn hoàn toàn không nhớ được các chi tiết của cuốn sách, mà chỉ nhớ tên sách. Nhưng tôi lại nhớ rõ cuốn sách này đã đưa tôi vào bay vào các trải nghiệm ở các cảnh giới khác, như tôi được sống trong từng trang sách, khác xa với tất cả những cuốn sách văn học khác mà tôi đã từng đọc. Sau này tôi mới biết trải nghiệm mà tôi đã có là một dạng thiền, có thể bởi vì thày Thích Nhất Hạnh là thiền sư và dùng thiền viết cuốn sách đó. Tôi bay bổng khóc cười theo sách, rồi chạy bổ sang nhà đứa bạn thân, kể cho nó nghe, bạn tôi kể cho bố, người giữ vị trí cao ở viện nghiên cứu văn học nghe, và bác ấy đã mượn cuốn sách này của tôi, rồi cầm nó đến tận bây giờ.

Câu hỏi là vì sao bố tôi lại có được cuốn sách này vào cái thời chẳng ai có thể có nó, xếp nó giản dị vào giữa những cuốn sách mà bố tôi mua, để nó rất tự nhiên nhẹ nhàng rơi vào tay tôi, như thế bố tôi biết kiểu gì tôi cũng đọc hết sách bố mua trong đó có cuốn này, như thế bố tôi đã biết cuộc đời của tôi sẽ gắn với thiền. Sách mang lại trải nghiệm tâm linh kiểu này với tôi chỉ đếm trên đầu ngón tay, mà Truyện Kiều là một ví dụ gần đây nhất và “Đường xưa mây trắng” là ví dụ đầu tiên. Bố tôi cũng là người mang truyện Kiều đến với tôi.

Vào đại học, khi có học bổng để tự mua sách, tôi toàn mua dạng sách tu thân. Tôi đã đọc rất nhiều sách của Nguyễn Hiến Lê, các khái niệm Nho giáo trong đó có tu thân đến với tôi nhờ sách của Nguyễn Hiến Lê. Có thời gian tôi cuồng Krishnamurti, tôi đọc nhiều đến mức mà đến một ngày sách của ông làm tôi đau đầu dữ dội, tôi quyết đinh tặng hết cả bộ sách Krishnamurti cho người khác, chuyển sang đọc sách về trải nghiệm và thực hành.

Sau khi đi chuyển sang dạy học và dạy thiền, tôi cũng đọc nhiều sách Thông thiên học, dòng sách của Annie Besant, Leadbeater, Helena Blavatsky. Cuốn sách được tôi sử dụng nhiều nhất làm hình minh hoạ cho các khoá học lý thuyết (khoá học minh triết) của mình là “Thought-Forms” (1905) của Besant and C. W. Leadbeater.

Sau thời gian đọc Thông thiên học, tôi đọc sang dòng sách New Age. Với các tác giả hâm mộ, tôi đặt cả bộ sách của họ để chuyển từ nước ngoài về Việt Nam. Cuốn sách duy nhất trong dòng sách tâm linh này tôi đọc bằng tiếng Việt là “Phong thần diễn nghĩa”.

Sau đó tôi đọc sang dòng sách Thiền chữa lành như Hands of Light, Light Emerging, Core light healing của Barbara Ann Brennan. Tôi cũng đọc nhiều sách về cơ thể năng lượng và hào quang, vì tôi đã dạy về Thiền ánh sáng từ năm 2014 và sau đó còn dạy rất nhiều về cơ thể năng lượng. Các sách về châm cứu, bấm huyệt và đặt tay của các tác giả nước được tôi tìm đọc khá nhiều, vì tôi muốn so sánh phương pháp của họ với các phương pháp chữa lành của tôi.

Thời gian ham mê đá quý tôi đọc sách về đá quý, làm việc với đá quý, chất đá quý đầy nhà. Thời gian ham mê cây cối và tinh linh thiên nhiên, về tinh linh và thân linh của các nguyên tố, tôi cũng mua sách mảng đó về đọc, rồi ra vườn vừa làm vừa suy ngẫm.

Tôi đọc nhiều sách về trạng thái xuất vía, cận tử, sau khi chết và các sách về nghiệp quả của các nhà chữa lành viết. Một cuốn sách về Sổ nghiệp quả và Thiết kế cuộc đời của một bậc thày tâm linh nước ngoài viết, được một người bạn của tôi ở nước ngoài, tìm thấy gửi bản mềm cho tôi. Trải nghiệm với cuốn này đã đưa tôi thẳng lên hội đồng nghiệp quả, bàn thiết kế cuộc đời. Sau này tôi sang các thiền viện ở Myanmar cũng vì lời nhắn của hội đồng nghiệp quả. Ba khoá về Thiết kế cuộc đời và hàng loạt khoá thiền của tôi mở ra được là nhờ có cuốn sách này. Tôi không thể sách này không thể tìm thấy trên thị trường và luôn vô cùng biết ơn người bạn này của tôi.

Trên thị trường có bốn cuốn sách tâm linh, một cuốn do tôi trực tiếp viết từ hồi còn đang đi làm ở ngân hàng, hai cuốn tôi chịụ trách nhiệm dịch khi đã đi dạy thiền và một một tôi cuốn giới thiệu xuất bản. Tất cả các cuốn sách này đều là sách của một người thày, một người làm nghề chữa lành, viết về các ca chữa lành, tư vấn tâm linh và trải nghiệm tâm linh của cuộc đời họ, bao gồm cuốn sách mà tôi là tác giả. Tất cả các cuốn sách này đều được xuất bản vào những năm đầu dạy thiền của tôi.

Sau một thời gian dạy thiền chữa lành, tôi thấy chẳng vấn đề thân tâm nào có thể chữa lành được vì quá nặng, nên tôi không còn tin vào việc đọc sách tâm linh hay việc đến các lớp học tâm linh có thể thức tỉnh người không có thực hành chuyên sâu. Tôi chuyển hẳn sang dạy chuyên sâu thực hành, và lớp lý thuyết của tôi cũng gắn chặt với lớp thực hành. Tôi thậm chí còn chứng kiến vài trường hợp học sinh của tôi bị gián đoạn hoàn toàn con đường thiền chữa lành, sau khi quá sa đà vào việc đọc sách và đi học đủ thể loại lớp học trong đó có lớp tâm linh.

Nhiều năm gần đây, tôi không còn đủ thời gian đọc bất kỳ cuốn sách tiếng Anh và tiếng Việt nào mà vẫn con chất đống trên giá sách của tôi, vì tôi còn không đủ thời gian soạn bài giảng và viết lại tất cả những nội dung giảng dạy của chính tôi. Nhưng những năm gần đây khi tự nghiên cứu tôi phải tra cứu internet rất nhiều, nên có thể coi internet là một cuốn sách mở cho tôi. Tôi có dùng AI, dù thường xuyên thấy AI trả lời sai, vì những thông tin tôi quan tâm, thì thông tin trên mạng đều nói nửa sai nửa đúng, nên đương nhiên AI tổng hợp lai cũng chẳng đúng.

Mặc dù tôi chịu ảnh hưởng sâu sắc với dòng sách Thông thiên học, Nhân học và New Age, tôi cho rằng dòng sách này đặc biệt Thông thiên học chỉ hợp với người có sẵn khả năng tự thực hành và tự chứng nghiệm những điều viết ra trong sách. Tôi thường đem thẳng những điều sách viết vào thực hành, vào thân thể, vào thiên nhiên, vào lớp thiền chữa lành để kiếm chứng và so sánh với những điều tôi đang nghĩ và những việc tôi đang làm. Tôi thường không thấy sách viết sai mà thấy sách chỉ viết về một trường hợp tiêu biểu nào đó, mà có thể mô tả lại dễ dàng trong sách, thực tế sẽ phức tạp hơn nhiều. Ví dụ tiêu biểu là các sơ đồ hào quang của sách Hands of Light, chỉ là một dạng rất định của hào quang của những người dòng máu phương Tây, trong môi trường phương Tây và cũng được quan sát bởi người phương Tây. Ở trạng thái âm thanh, trong môi trường cực kỳ mạnh về thanh âm, với một người quan sát thiên về âm, một người mang dòng máu đặc trưng phương Đông sẽ cho những hình ảnh khác xa.

Một trong những nguyên nhân tôi phải bỏ hết dòng sách Krishnamurti không phải vì ông viết sai, mà vì ông viết những điều thuần tuý đã được đúc kết ra, ông không viết về trải nghiệm cá nhân của ông để chứng nghiệm ra những điều đó, mà rất nhiều trải nghiệm cá nhân của ông tôi chưa trải qua và chưa hiểu được, nên tôi không thể nào mà đọc nổi thêm một cuốn sách nào của ông nữa. Tâm trí tôi bị quá tải vì nó đã bay quá xa với trải nghiệm và thực hành.

Như vậy có thể tạm coi là tôi có chí tự học từ lúc vào đại học, tự lấy tiền của mình đi mua loại sách mình cần để đọc và duy trì thói quen học này được đến tận bây giờ. Trước đó, tôi chỉ đọc sách bố mua, chưa có cái chí tự đọc sách, tự chọn sách, đừng nói đến cái chí tự học. Bố tôi khéo léo mở sẵn con đường đọc sách để tôi theo mà thôi. Nếu như Khổng Tử mồ côi bố từ 2 tuổi, ông độc lập rất sớm, còn tôi suốt cả tuổi thơ là cái đuôi của bố, bố là cây cao bóng cả trùm bóng xuống cả cuộc đời tôi.

Ý CHÍ TỰ HỌC KHÁC VỚI Ý CHÍ ĐẾN LỚP, ĐẾN TRƯỜNG

Chí tự học năm 15 tuổi khởi đầu cho ý chí tu thân của Khổng Tử khác với chí học hỏi theo người khác, theo thày, theo bạn, theo nhóm.
Chí tự học khác hoàn toàn với chí đến trường, đến lớp.
Quan điểm cá nhân của tôi, là trẻ con phải thích nghi với hệ thống giáo dục vì đây là kỹ năng sống, nhưng trẻ con phải phân biệt được ý chí tự học của mình và việc theo học ở trường, thì sau này mới có thể tu thân, nói cách khác là tự học làm người.
Trẻ con hiện nay bắt đầu đi học từ 6 tuổi, thậm chí còn sớm hơn, liên tiếp đến hơn chục năm. Có người thậm chí ở trong hệ thống giáo dục đến vài chục năm đạt được đủ loại bằng cấp, nên đồng hoá luôn việc học của mình với việc đi theo trường lớp. Hệ thống trường học, hệ thống sách vở, hệ thống bằng cấp là có sẵn, trẻ con bị đặt vào đó, và buộc phải chạy theo nó, đến mức có thể mất luôn năng lực tự học, mất luôn nhận thức về bản chất của tự học.
Việc tự học của cá nhân phải do các nhân chịu trách nhiệm, việc học của cá nhân nên linh hoạt, bền vững, độc lập so với hệ thống giáo dục theo hệ thống áp đặt của chính quyền, mà chính quyền chịu trách nhiệm.
Học sinh đến trường có rất nhiều loại
– Học sinh thích học và thích trường học. Ví dụ, một người quen của tôi, thích đi học từ mẫu giáo, bất kỳ thực hành nào cũng xuất phát từ lý thuyết sách với, đánh giá, phân tích, tư vấn và khuyên bảo người khác những vấn đề như ăn uống, tình cảm, thân thể, giới tính … cũng đều chịu ảnh hưởng lớn từ học thuyết nào đó hoặc mang thẳng một cuốn sách ra tư vấn.
– Học sinh không thích trường học, cũng chẳng thích học, chẳng thích thi, nhưng biết không thể thoát khỏi việc học sớm được, phải thích nghi. Nhiều học sinh thích nghi quá tốt, học được, thậm chí hoc giỏi, quan hệ với thày cô và bạn bè đều ổn, nên có khi quên mất cả việc trong sâu thẳm mình chẳng thích trường học. Nhiều học sinh thích nghi không tốt, bị hổng kiến thức, quan hệ bạn bè và thày cô không tốt, rồi sinh ra trầm cảm hoặc chống đối. Nhiều học sinh không thích trường học nhưng lại thích đến trường để gặp bạn bè, cũng không ngại va chạm trong các quan hệ học đường, không thích học nhưng lại yêu quý thày cô, không thích thi nhưng cũng không ngại điểm kém, vì thế mà vừa lười học, vừa học dốt, chỉ thích ăn, thích ngủ, thích chơi điện tử, nhưng nhất định không chịu bỏ học. Ví dụ, tôi may mắn tìm được trường nghề cấp 3 cho con trai tôi với nhiều trường hợp dạng này. Tôi luôn nói với con trai tôi là con không cần thích trường học, không cần thích học, vì tôi cũng thế, nhưng con cần chủ động thích nghi. Tôi đã từng có ý định kèm con học nhưng không kèm nổi, rất chán nản và con tôi nhân đó đổ luôn trách nhiệm học sang cho tôi. Tôi đã phải cho con tôi nghỉ học vào năm lớp 11 để kéo con ra khỏi cơn hôn mê trôi dạt trong hệ thống trường học từ năm này qua năm khác. Sau 2 năm con tôi tự nguyện quay lại học từ lớp 10, vẫn lê lết nhưng cũng tốt nghiệp được cấp 3 và vào đại học.
– Học sinh không hợp với hệ thống học đường, nên nổi loạn chống trường học, chống thầy cô, thậm chí đến mức bị đúp hay bị đuổi học.
– Học sinh không hợp với hệ thống học đường, cũng không thích học, nhưng không chống lại nó, mà biến nó thành sân chơi của mình. Nhiều người học không giỏi nhưng lại là đại ca trường học. Trong số đại ca cũng có những đứa bắt nạt bạn bè, cũng có những đứa nghĩa hiệp ra tay bảo vệ bạn bè.
– Học sinh không thích trường học nói chung, không thích thi cử nói chung, không thích ngồi trong lớp học nhưng lại thích có nhiều quan hệ bạn học, nên là chủ động học ở trường môn nào thích, đối phó môn nào ghét. Đó là trường hợp của tôi.
Tóm lại, việc có chí tự học và sở thích học hành không nên bị đánh đồng với những sở thích khác như
– Thích các môn học ở trường : Người có chí tự học phải có chí tự tìm thứ mà mình cần học, nhưng cần chấp nhận và thích nghi với những môn bắt buộc phải học.
– Thích được người khác dạy học : Người có chí tự học phải tự học là chính, cần thích nghi với mọi dạng giáo viên, không đổ lỗi cho giáo viên, nhưng cũng không chờ đợi tìm được giáo viên tốt nhất như chân sư, minh sư. Việc tự học của cá nhân, khác hoàn toàn với việc học ở trường, ở lớp, học với giáo viên. Khi một người quá thích học đủ thứ bên ngoài, thì con đường tu thân của họ sẽ bị sập, vì họ quá phụ thuộc vào môi trường học tập do người khác tạo ra và kiến thức do người khác đem tới. Tôi có nhiều học sinh rất chăm học, học đủ thứ, mà đến một ngưỡng nào, việc này giết ý chí tự thân của họ, trong cả học hành, trong cả tu thân, trong cả gia đình, trong cả công việc mà họ phải chịu trách nhiệm nhiều hơn, phải hành động vất vả hơn.
– Thích thi cử : Người có chí tự học không học vì thi cử, nhưng cần chấp nhận và thích nghi với thi cử.
– Thích bằng cấp : Người có chí tự học không học vì bằng cấp, nhưng vẫn cần có đủ bằng cấp được xã hội công nhận, để thích nghi với xã hội.
– Thích giáo viên : Người tự học không để việc học của mình phụ thuộc vào giáo viên, nhưng người ấy cũng không thể phủ nhận vai trò của giáo viên với giáo dục và phải biết tìm giáo viên phù hợp vào lúc phù hợp. Giáo viên giỏi là người tự học và biết dạy cho học sinh tự học.
– Thích lớp học : Học sinh là một phần của lớp học, dù thích học hay không, họ nên thích nghi với lớp học, để sinh tổn, để trường thành, và để hưởng thụ đời sống của học sinh mà liên quan chính đến các quan hệ trong lớp học
– Thích trường học : Người có chí tự học hầu hết không thích trường học, cùng tất cả những dạng giáo dục tập trung và bắt buộc.
Những người có chí tự học khi ra đời vẫn có khả năng tự theo đuổi các môn học mình thích, thậm chí tự theo đuổi các môn học mình không thích, mình dốt, nếu như nhận thấy nó thực sự quan trọng. Rất nhiều hoc sinh của tôi không thích trường học, chỉ đối phó tốt, thích nghi tốt, rồi sau này lại tự đến với lớp thiền, và cũng phải thích nghi và đối phó khi quá chán thiền, nhưng cảm thấy thiền quan trong, mình chưa đi tới đích nên không bỏ. Nhiều học sinh gặp khó khăn chồng chất với thiền, như không thấy gì, bị gia đình cản trở, bản thân bận rộn, tài chính eo hẹp mà vẫn theo lớp thiền. Có người khi gia đình và công việc khó khăn thì tìm được sự chia sẻ và sự vững tâm ở thiền, có người từ bé đến lớn ghét học mà nói rằng chưa học cái gì lâu như thiền. Là giáo viên dạy thiền, điều khiến tôi xúc động nhất chính là những học sinh như vậy, vì chính những người này mới là người có cái chí tự học và có tâm với thiền.
Khi nhớ lại trải nghiệm đi học, mẫu số chung là tôi chẳng thích trường học và thờ ơ với lời thày cô nói.
Tôi nhớ rõ mẫu giáo tôi không thích phải ngủ dạy sớm để đi học, ngày nào tôi ăn vạ trên giường rất lâu, mặc dù được cha mẹ đèo đến trường tôi vẫn không thích phải lên xe. Buổi sáng, bố mẹ tôi thường đến bên giường, dụ tôi rằng có một bạn học mẫu giáo tên là Mai Lan Hương đợi tôi ở cầu thang để cùng đi học thì tôi mới chịu dạy đi học. Chẳng hiểu sao hồi mẫu giáo tôi thích bạn này thế, hay là tôi cần một cái cớ để ra khỏi giường đến trường. Tôi thường rất thờ ơ với lời cô giáo nói, ở lớp chả bao giờ biết cô nói gì, đầu óc lơ tơ mơ, chỉ quan tâm đến các bạn đặc biệt là bạn Mai Lan Hương.
Tôi nhớ rất rõ một kỷ niệm ở lớp mẫu giáo. Cô giáo bảo cả lớp về nhà vẽ cành đào, rồi mang đến lớp. Tết năm nào nhà tôi cũng bày đủ cả đào và quất. Tết năm nào bố tôi cũng đèo tôi đến vườn của bạn thân của bố trên Quảng Bá để chọn mua cây, bố tôi và bạn bố đứng ngắm cây tứ phía xem nó có đủ tròn không, bạn bố tôi còn dạy bố tôi rất nhiều kỹ thuật của dân trồng cây và chơi cây. Tôi rất thích đào phai, không thích đào thắm, nhưng có năm bố tôi lại mua đào thắm, nên tôi đã vẽ một cành đào tròn xoe đúng chuẩn vẻ đẹp của dân chơi đào, rồi tô đúng màu hồng đào để khẳng định rằng tôi thích đào phai. Cô giáo đặc biệt khen tranh của tôi đẹp, khen cành đào của tôi rất tròn. Thế là các bạn khác đều nhìn vào cành đào tôi vẽ, vì hình các bạn không hiểu cành đào tròn là gì. Mấy tuần sau, cô giáo bảo cả lớp vẽ con mèo, tôi vẽ mèo rất khó vì nhà tôi không nuôi mèo. Tôi thỉnh thoảng thấy vài mèo của hàng xóm, và ấn tượng nhất với một con mèo đen với hai con mắt sáng quoắc, nên tôi vẽ một con mèo to, rồi ra sức tô đen cho nó. Con mèo tôi vẽ to trọn cả trang giấy lớn, nên tô mất công kinh khủng. Cô giáo ngạc nhiên vì con mèo đen to đùng chiếm cả trang giấy của tôi, chê màu của con mèo tối tăm quá, lần sau hãy vẽ con mèo màu khác, rực rỡ hơn. Cô giáo chỉ nói mỗi thế mà lúc đó tôi trả lời luôn cô trong lòng rằng sau này tôi thích cái gì thì tôi vẽ, tôi thích vẽ thế nào thì tôi vẽ, tôi sẽ không vẽ cái cô yêu cầu, tôi sẽ không vẽ cái cô thích, tôi cũng chẳng quan tâm cô có thích hay không, nếu như bây giờ tôi đã không quan tâm.
Nhớ lại kỷ niệm tôi thấy buồn cười quá, không ngờ mới mẫu giáo mà tôi đã đanh đá thế. Đứa trẻ là tôi khi đó luôn có cảm giác ngày nào mình cũng phải ngồi trong cái lớp xa lạ này, bị cô giáo xa lạ này yêu cầu làm cái này cái kia, tôi đã làm rồi lại còn bị nhận xét này khác, tôi muốn lớn nhanh để được tự do. Nhưng sự kiện con mèo đen này không hiểu vì sao đã làm ý thức chống đối trường học ngấm ngầm của tôi bật lên thành một lời thề chối bỏ những lời nói áp đặt của thày cô, mà trùm tai tôi trong cái bọc năng lượng, làm tôi điếc một cách nào với lời nói của giáo viên, kiểu như lời cô giáo nói với tôi cứ như nước đổ đầu vịt. Kể từ sau sự kiện đó, tôi rất thờ ơ với lời cô giáo nói đến mức tôi gần như chả nhớ nổi cô mẫu giáo hay các thày cô khác nói cái gì nữa, thày cô nói gì tôi cũng vâng vâng dạ dạ nhưng đầu óc thì luôn trên mây.
Nhìn thấy cái bịt tai năng lượng với lời thề mẫu giáo này mà tôi cũng quá choáng với chính tôi, vì nó đã ở trên tai tôi hơn bốn mươi năm, ca mổ tai năm tôi 17 tuổi cũng không làm nó mất đi. Nghe quá đáng nhưng có thể đây cũng là một dạng ý chí tự học bộc phát kiểu tiêu cực của những đứa trẻ con ghét bị nhét vào hệ thống trường học. Tôi e rằng con trai tôi phải có cả rổ bịt mắt, bịt tai với mẹ mất, vì tôi chắc chắn đã đưa ra hàng tá lời khuyên cho con trai tôi mà vô duyên gấp triệu lần lời nhận xét hết sức giản dị của cô mẫu giáo. Khổ thân cô giáo quá. Cuộc đời cũng quá trớ trêu cho cái đứa ghét trường học như tôi lớn lên lại đi dạy học, đó cũng có thể là lý do, tôi cực kỳ vật vã khi phải chấp nhận làm nghề dạy thiền chữa lành, vì tôi không muốn ai bảo tôi làm gì, thì tôi cũng không thích chỉ bảo người khác phải làm gì.
Tôi có linh cảm rằng cái bịt tai này của tôi phát huy tác dụng với bất kỳ ai sử dụng quyền lực ngầm dạy tôi phải làm gì cho đúng, bao gồm mẹ tôi, chồng tôi, và người sếp cũ mà hay dạy nhân viên sống sao cho đúng. Tôi có linh cảm rằng cái bịt tai này của tôi đã bảo vệ tôi khỏi các dạng tà thuật mà thường phát ra những âm thanh quyền lực bẻ gãy ý chí cá nhân của người nghe, biến họ thành nô lệ sùng bái, xưng tụng thày cô là minh sư, là cha mẹ.
Bây giờ tôi không biết có nên gỡ nó ra không, tôi quá choáng váng với chính tôi, nhưng tôi nhận ra người nuôi dưỡng khát vọng sống tự do bên ngoài hệ thống và khát vọng tự học này trong tôi là bố tôi. Nhớ lại, tôi phát khóc vì biết ơn bố, không có bố thì không có tôi hôm nay.
Tôi luôn nhớ cực kỳ rõ kỷ niệm ngày khai giảng lớp 1, bố dẫn tôi đến trường, hôm đó tôi làm quen được một bạn, cũng được bố dẫn đi khai giảng. Chiều đó, bố tôi dẫn tôi sang nhà bạn và chúng tôi vẫn là bạn đến bây giờ. Tối hôm đó bố tôi mang một tờ giấy to, dạy tôi ký tên tôi Thu Hương và bố cũng dạy tôi ký tên bố tôi. Bố bảo tôi từ bây giờ tôi biết ký chữ của bố rồi, thì mỗi khi cô giáo gửi sổ liên lạc hay thông tin gì về cho bố mẹ, tôi cứ đọc rồi thay bố ký luôn. Tôi tập ký tên bố cả tối đó, mà không hề biết rằng tôi là đứa duy nhất ở lớp được trao cái quyền kiều này, thế là số liên lạc với phụ huynh hàng tuần, cô viết gì tôi chẳng bao giờ đọc mà cứ ký xoèn xoẹt. Tóm lại, tôi là đứa học sinh chăm ngoan nhưng luôn bịt tai và bịt mắt với những lời thày cô nói chỉ bảo riêng cá nhân mình, thày cô cứ nói những điều khách quan với cả lớp thì không sao cả, tai tôi vẫn nghe bình thường. Sau này, chồng tôi và mẹ tôi cứ hỏi sao tôi không kiểm tra việc học của con, tôi trả lời rằng ngày xưa mẹ còn không biết tôi học lớp mấy, nên tôi cũng vô cùng ngại phải kiểm tra việc học của con, nên cuối cùng bỏ luôn, nhóm zalo giáo viên phụ huynh, tôi thỉnh thoảng cũng phải thả tim nhưng hầu như chả đọc. Thực ra vì con tôi học hành rất khổ sở, nên tôi nhiều lúc đã lên gân muốn kèm cặp con, nhưng rồi tôi đều bỏ cuộc. Tôi thấy cái phong cách bố trao cho tôi đã làm nên con người tôi từ ngày bé, lớn lên không thể thay đổi nổi.
Vụ này cùng vụ bịt tai của tôi làm cho tôi trải qua 12 năm học ở trường theo kiểu đến trường mà không hiện diện ở trường. Cái trò này của tôi cũng lại thành phong cách học cao học, rồi phong cách đi làm ở cơ quan, cơ quan cứ đánh nhau, tôi sẽ cố gắng né và phòng thủ kiểu tôi không tồn tại hoặc anh không tồn tại.
Thời lớp 1, bạn rủ tôi ra bờ sông Hồng chơi cả ngày, tối về nhà, buồn ngủ quá lên giường luôn, không biết là nhà trường và bố mẹ tôi phải lục tung cả Hà Nội lên để tìm tôi. Sáng sau bố mẹ đưa tôi đi học bình thường, tự dưng thấy cả trường được nghỉ học và hiệu trường cho cả trường một bài diễn văn dài, mà cái con bịt tai như tôi có nghe đâu. Sau đó vào lớp học, cô giáo kể cho cả lớp câu chuyện về việc một đứa bé chăn cừu giả vờ bị mất cừu. Các bạn học của tôi có thể cũng chả hiểu thày cô làm cái trò ám chỉ gì cả, vì chính tôi còn không hiểu. Tối về tôi kể là hôm nay chả phải học gì, lạ lắm, toàn nghe thày cô nói gì đó, thì bố mẹ tôi bảo là chắc là vì hôm trước cả trường và bố mẹ phải đi tìm con, lần sau con đi đâu nhớ báo cho bố mẹ. Dù có sự kiện này nhưng bố mẹ tôi sau này vẫn luôn cho tôi đi chơi ở nhà bạn qua đêm, việc mà các bạn tôi đều không được phép.
Lớp ba, bố mẹ bị cô mời đến nhắc nhở vì việc học tập của tôi lúc cao, lúc thấp. Bố mẹ lại về bảo tôi là phải giữ nguyên vị trí lưng chừng đứng thứ 15 -20 gì đó của lớp cũng cũng được, nhưng không nên vào nhóm đứng đầu, gây chú ý và làm mất thời gian của bố mẹ. Tôi hiểu là tôi nên chịu trách nhiệm hết về mọi việc học ở trường đi, xoay xở kiểu gì cũng được, miễn là đừng để bố mẹ phải đến trường gặp cô, vì bất kỳ hành vi bất thường nào của tôi. Hồi đấy tôi điên tiết lắm, vì làm sao mà tôi biết được tư dưng lại xếp thứ cao, tôi chẳng biết tôi đã làm gì nhưng sau đó tôi lại tụt về thứ 15 quen thuộc. Cô giáo này còn lấy của tôi mấy cái đồ chơi Nga mà tôi ngu quá mang đến lớp khoe, nên cô hỏi tôi có muốn tặng bộ đô chơi đó cho trường làm dụng cụ học tập không, tôi cứng miệng không từ chối được, nên tôi lại càng ghét sự áp đặt của trường học.
Tôi có cảm giác sự kiện cấp 3 làm tôi đưa ra một lời nguyện rằng tôi sẽ vô hình trong trường lớp hay gì đó, khiến cho người ta không chú ý đến tôi. Tôi không xem được rõ sự kiện này, chỉ hiểu rằng tôi sẽ lựa chọn đi đường âm chứ không đinh hình hay nổi bật trong hệ thống. Thực ra đây là bản tính cố hữu xuyên đời của tôi rồi, chỉ vì sự kiện lớp 3 này mà bật lên thêm thôi. Sau này xem sổ học bạ, thấy cô viết là tôi có giọng nói đặc biệt, tôi tự dưng suy nghĩ quá, hoá ra mỗi cô giáo cũng chịu bao áp lực bao gồm phải chú ý đến từng điểm tốt và xấu của học sinh, gặp cái loại học sinh như tôi, cô giáo cũng không vui vẻ gì. Và việc tôi lựa chọn chỉ hiện âm mà không hiện hình dường như ảnh hướng đến cái nhận xét trong học bạ này.
Lên cấp hai, tôi nhớ trải nghiệm bị đuổi học, bị mời phụ huynh, trải nghiệm đi muộn, bị sao đỏ điểm danh ở cổng trường … Nhưng lúc đó, tôi đã có cái bịt tai, có thói quen ký thay bố, đã có bản năng ẩn thân vô hình rồi, nên tôi chả nhớ được nhiều lắm và chả có cảm xúc gì về những sự kiện này. Lần tôi bị đuổi học, bố mẹ tôi phải nghỉ làm đến trường xin lỗi cô để tôi được đi học lại, bố mẹ bảo tôi là lần sau cô bảo tôi có lỗi gì, thì vâng dạ nhận lỗi luôn, để bố mẹ khỏi mất công đến trường, bố mẹ đến thì cũng vâng dạ nhận lỗi thôi, hơn gì tôi đâu. Bố mẹ chẳng hỏi tôi có lỗi gì, chắc bố mẹ tôi cũng nghe cô kể, chắc bố mẹ cũng thấy cô giáo nói sai, nhưng việc tôi không nhận lỗi để đến nối bị đuổi học là việc làm vô cùng dở hơi của tôi. Nói chung ký ức đi học của tôi vô cùng lơ tơ mơ, cái gì bố mẹ nói thì tôi nhớ hơn nhiều.
Hồi tôi còn bé, chẳng có nhiều lựa chọn về trường học, như trẻ con bây giờ có trường công, trường tư, trường tây, trường phong cách này, phong cách khác, nên tôi luôn xác định sẽ thích nghi. Rồi bỗng nhiên, tôi nhớ cấp 2 bố tôi mua sách “Tottochan cô bé ngồi bên cửa sổ”, cho tôi đọc. Tôi mất ngủ nhiều đêm, buồn rầu sao mình không ở Nhật để được học cái trường đó. Lúc đó tôi mới biết là có sự lựa chọn về trường học và tôi lại có ước mơ về kiến tạo hệ thống giáo dục nào đó, mà như cái trường bên Nhật đó. Hồi tưởng lại thấy mình quá tăng động, đụng việc gì không như ý là thề nguyền với cả ước mơ.
Trường cấp 3 của tôi tự do hơn nhiều so với cấp 1 và cấp 2. Ý thức tự đi học, tự học của tôi lúc đó tốt hơn nhiều rồi. Nhưng tôi nhớ trong buổi họp lớp sau khi ra trường nhiều năm, thầy chủ nhiệm nhận tên và gọi tên từng người của lớp, đến lượt tôi, thầy đứng sững lại không thể nhớ ra tôi tên là gì. Tôi cảm giác cái lệnh hào quang vô hình của tôi được hình thành từ sự kiện lớp 3 góp phần tạo ra trạng thái vô danh của tôi trong lớp. Tôi cá rằng con tôi cũng có cái nguyện y hệt như tôi, chỉ không biết sự kiện nào gây ra lời nguyện đó của nó. Nhớ lại những chuyện này, tôi thấy cũng buồn cười vì câu chuyện của hai mẹ con tôi.
Nhìn lại cả quá trình học của mình, tôi thấy điều quan trong nhất là tôi phân biệt rõ ràng việc tự học mà tôi phải theo đuổi suốt đời với việc đi học trường công mà tôi phải thích nghi và đối phó. Lòng biết ơn lớn nhất của tôi khi nhớ lại về ý chí tự học của tôi là dành cho bố. Tôi cảm giác cái thư viện bố tôi tạo ra ở nhà để tôi tự đọc đủ loại sách đã dẫn tôi vào con đường tự học, độc lập khỏi trường học, một cách vô cùng tự nhiên. Việc bố mẹ tôi giao phó hết việc học hành ở trường cho tôi thể hiện một niềm tin rất lớn vào con cái mà sau này tôi đã không có được cho con tôi. Tôi hiểu rằng khi tôi đến tuổi ham học, ham tìm hiểu, ham đọc mà tôi không thích trường học, không hợp với trường học, thì tôi phải có một cái khác để yêu, phải có cái khác để dành thời gian cho nó, và bố tôi đã để sẵn một tủ sách ở nhà cho tôi.
Tôi cảm giác bố tôi là người như thế nào thì tôi tự nhiên sẽ giống bố, bắt chước bố, mà bố tôi không cần nói gì cả, không cần làm gì cả, chỉ cần tôi yêu bố, tôi theo bố là tôi sẽ tự bắt chước bố. Cái này chính là “Tại gia tòng phụ” trong Tam tòng. Tôi thấy đời tôi hoàn toàn đúng với Tam tòng, mà đặc biệt đúng với câu “Tại gia tòng phụ”, vì bố tôi là cây cao bóng cả quá lớn trong cuộc đời, trong trái tim và trong ký ức của tôi.
Càng biết ơn bố, tôi càng buồn vì tôi chẳng có cái uy và cái tinh tế như thế với con. Tôi găp cực kỳ nhiều khó khăn và vấp váp với việc dạy con trai. Tôi lo lắng, tôi rối tinh, tôi tức giận, tôi gào thét, tôi bảo ban, tôi bỏ mặc … Tôi gặp nhiều khó khăn khi nhớ lại ký ức dạy dỗ con học thế nào, vì giống như tôi không chấp nhận nổi sự thất bại của tôi, đặc biệt là trong việc dạy cho con tôi ý chí tự học và tách rời ý chí cá nhân khỏi ý chí hệ thống, mà đầu tiên là hệ thống trường học.
Tôi chẳng biết tôi đã giáo dục con thế nào. Tôi thấy con tôi không thích trường học như tôi thì rõ ràng, nhưng thích nghi với trường thì không tốt như tôi (có thể con trai có ý thức chống đối hoặc tính mặc kệ cao, con gái có nhiều sự chấp nhận). Tôi không thấy con tôi học bao giờ, chỉ thấy chơi điện tử, nhưng mà cấp hai, khi đi du lịch, tôi phát hiện con tôi nói tiếng Anh giỏi hơn tôi. Tôi bèn cho con tôi phỏng vấn vào trường Tây, thầy giáo Tây ngạc nhiên vì giọng nó khác hẳn giọng các đứa trẻ đi học tiếng Anh bồi ở các trung tâm, và tôi trả lời là tôi không biết con tôi học tiếng Anh lúc nào, tôi không dạy con tôi, càng không cho con tôi đi học thêm. Con tôi chẳng nói nó học lúc nào và học như thế nào cả, nên tôi chỉ biết hy vọng rằng nếu nó tự học được tiếng Anh thì sau này nó sẽ tự học được cái khác, miễn là nó biết nó thích cái gì.

 

Chia sẻ:
Scroll to Top