CHỮ CÔNG TRONG VẬN KẾT THÚC CÔNG NGUYÊN

Loading

CÔNG có hai chữ gốc là
– CÔNG 工, mang tính cấu trúc, thế thẳng gồm các phương dọc ngang (ngang trời, ngang đất, dọc chính, ngang khoá dọc, ứng với công trời, công đất, công dọc trời đất, đây chính là thế Thích Ca đản sinh)
– CÔNG 公, mang tính vận hành, thế chéo gồm các phương chéo (chéo dọc trái, chéo ngang phải thoải, chéo ngang chếch, chéo dọc phải). Chữ Công này cũng như những chữ Công bản giáp cốt, chia làm 2 phần, phần trên ứng với công mở, công sinh, công thuận, công phân tách, phần dưới ứng với công đóng (lúc thì đóng thành hình vuông, lúc thì đóng dạng hình tròn, lúc thì đóng dạng tam giác), công tử, công nghịch, công tổng hợp. Hai phần này kết hợp trong vận hành phản ánh luật cân bằng tử sinh, luật vô thường.
Phụng công thủ pháp
—o—
BỘ CÔNG 公 (vận hành)
Tôi có nhờ một người quen, mang năng lượng Công đặc trưng giải thích chữ Công 公 vận hành trong tên của anh ấy và anh ấy giải thích cho tôi như sau
1) hình vẽ 八 mang ý chia tách (một cái gì đó) ra (Ideograph representing division)
âm gán cho hình vẽ 八 đọc là BÁT (âm Hán Việt) ; bā (âm Quan Thoại) ; baat3 (âm Quảng Đông) rất gần với những âm thuần Việt (âm Nôm) mang cùng nghĩa chia tách như bóc (bóc tách) …; bửa, bẻ…
2) hình vẽ 厶 mang ý một cái gì đó cong (quăn) queo, không thẳng (Curved line suggesting lack of straight–forwardness)
âm gán cho hình vẽ 厶 đọc là TƯ (âm Hán Việt) ; sī (âm Quan Thoại ; si1 (âm Quảng Đông) rất gần với những âm thuần Việt (âm Nôm) mang cùng nghĩa cong (quăn) queo như xoăn, xoắn [sī] (curly, not straight)
3) khi đặt hình vẽ 八 bên trên trên và hình 厶 ở dưới thì tạo ra một chữ hội ý 公, đọc là CÔNG, Ý chữ này là tuốt cho thẳng (八) những gì còn cong queo (厶)
CÔNG 公
– Công : Chung cho tất cả những gì trong trời đất, đối xứng với “Tư” (chữ “Tư” nằm sẵn bên trong và bên dưới chữ Công, nghĩa là trong “Công” đã có “Tư”)
– – – công cộng, công chính, công bằng, công tâm
– – – công ty, công đoàn, công an, công quyền,
– – – công chức, công hầu khanh tướng, tam công 三公, công hầu bá tử nam 公侯伯子男.
– – – công sản, công quỹ, công lập, công sở, công hải
– – – công án, công sự
– Công : Chuyển hoá và cân bằng tử sinh giữa cái chung và cái riêng : chuyển “Tư” thành “Công” nhưng trong “Công” vẫn có “Tư” chính là cách sinh công, còn chuyển “Công” thành “Tư” chính là cách tử “Công”
– – – sung công,
– – – công khai, công bố, công nhiên
– – – công cử, công nhận
– Làm con đực, làm cha, làm ông, làm cụ ông, cách sinh tử của con đực (Công), đối xứng với cách dưỡng nuôi của con cái (Mẫu), cách làm mẹ, làm bà, làm cụ bà
– – – “công kê” 公雞 gà trống, “công dương” 公羊 cừu đực.
– – – “ngoại công” 外公 ông ngoại.
– – – “công công” 公公 cha chồng, “công bà” 公婆 cha mẹ chồng
– – – 張公 ông Trương;
– – – “chủ công” 主公 chúa công,
– – – “lão công công” 老公公 ông cụ
– – – công tước
Bao giờ thiện mã qua sông
Thì thôn Mỹ Lại mới không công hầu!
CÔNG 彸 (xích 彳)
– Xích công
CÔNG 蚣 (trùng 虫)
– Ngô công
—o—
BỘ CHỮ GHÉP TỪ CÔNG 工 (cấu trúc)
CÔNG 工
– công việc,
– công trình
– công nhân
– nhân công
– thi công
Công dung ngôn hạnh
CÔNG 功 (lực 力)
– Công lao
– Công sức
– Công lực
– Công cán
– Công hiệu
– Công suất
– Công dụng
– Công trạng
– Công đức
– Công danh
– Thành công
– Dụng công
– Luyện công
– Chấm công
– Kể công
– Tính công
– Lập công
– Hoài công
– Uổng công
– Phí công
– Vô công : Vô công rồi nghề, “Đồ lao vô công” 徒勞無功
Công thành danh toại
Công cha như núi Thái Sơn
Nghĩa mẹ như nước trong nguồn chảy ra
Một lòng thờ mẹ kính cha
Cho tròn chữ hiếu mới là đạo con
Chim trời ai dễ đếm lông,
Nuôi con, ai dễ kể công tháng ngày.
Công đâu công uổng công thừa
Công đâu gánh nước tưới dừa Tam Quan
Công đâu công uổng công hoang
Công đâu gánh nước Tam Quan tưới dừa
Dã tràng xe cát biển Đông
Nhọc nhằn mà chẳng nên công cán gì
Cố công đẽo một cái cày
Đẽo được ba ngày, ra chiếc chìa vôi
Công anh bắt tép nuôi cò
Cò ăn cò lớn, cò dò lên cây
Uổng công anh chăn nghé đã lâu
Bây giờ nghé lớn thành trâu ai cày
Uổng công anh giăng lưới quăng chài
Con cá kia không giữ để ai câu rồi
Công anh làm rể ba năm
Chiếu chả được nằm, đất lại cắm chông
Con bà bà lại gả chồng
Để tôi vất vả tốn công nhiều bề
Công anh chẻ nứa đan bồ
Con chị đi mất, anh vồ con em
Công anh rọc lá gói nem
Con chị đi mất, con em lộn chồng
Công em vun vén cây hồng
Phải cây hồng đực cực lòng em thay.
Công danh chi nữa mà chờ
Nấu cơm cho vợ đặng nhờ tấm thân
Công danh đeo đuổi mà chi
Sao bằng chăm chỉ giữ nghề canh nông
Sớm khuya có vợ, có chồng
Cày sâu bừa kỹ mà mong được mùa
CÔNG 攻 (phác攵)
– tấn công : Tấn công là cách phòng thủ tốt nhất
– phản công
– vi công
– mãnh công
– động công
– tĩnh công
– gia công
– công kích
– công kim, công ngọc
– công thủ : Công thủ toàn diện
Trong Công có Thủ, trong Thủ có Công : Giống như trong Công có Tư, trong Tư có Công
CÔNG 扛 (thủ 扌)
– thủ công
CÔNG 紅 (mịch 糹)
– công mịch
– công hồng
– nữ công, nữ công gia chánh, công dung ngôn hạnh
– công đồng (ban thờ)
CÔNG 釭 (kim 金)
– kim công, chuyển âm thành kim cang
—o—
BỘ CHỮ GHÉP CÔNG CẤU TRÚC & VẬN HÀNH (GIỮ ÂM, MẤT HÌNH)
CÔNG 灨 (thuỷ 水)
– Ông Công, ông Táo Công (竈公) trong bộ Táo Quân, bộ Đầu nhau gồm ông Công, ông Táo và bà Thị
– Công Cám : Trong lưỡng nghi thuỷ của tính nữ là Tấm và Cám, mà thống nhất trong bà Thị (đoạn cô Tấm thành quả Thị) thì ông Công đối ứng với Cám trong quan hệ công việc, còn ông Táo đối ứng với Tấm, trong quan hệ gia đình. Khi kết hợp hai quan hệ này, ông Công và ông Táo kết hợp trong một người đàn ông song toàn công việc và gai đình, và bà Thị song toàn lưỡng nghi Tấm Cám.
Thế gian một vợ một chồng
Chẳng như vua bếp hai ông một bà
CÔNG
– Chim Công
Sáo mượn lông công
Quạ cắm lông công
—o—
BỘ CHỮ GHÉP CÔNG CẤU TRÚC & VẬN HÀNH (GIỮ HÌNH, MẤT ÂM)
TÙNG 松
Tùng là loài cây 木 có tính cương (công kim 釭, tính kim cang, tính kim cương) mọc thẳng, nên chỉ cần ghép chữ Công 公 với chữ Mộc 木 là ra chữ Tùng 松, với chữ Mộc đứng Công I cấu trúc đằng trước và Công 公 vận hành ở đằng sau
Mai trúc cúc tùng
Tiếc công vun quén cây tùng
Săm soi trên ngọn, gốc sùng không hay
Chia sẻ:
Scroll to Top