![]()
Quy y Tam Bảo, Tứ diệu đế, Bát chánh đạo là những nền tảng của đạo Phật, do đức Phật Thích Ca trực tiếp đưa ra.
Bát chánh đạo là một bộ nguyên tắc lý thuyết và thực hành, mà được coi là hơi thở của người tu theo đạo Phật, gắn với biểu tượng bánh xe pháp luân.
“Bát chánh đạo” là tâm pháp nên rất khó nắm bắt, càng khó làm theo, ngay cả người làm được nó và nhận thức đước nó còn rất khó giảng, vì đạo mà giảng được thì đạo đã thành giáo, không còn là đạo nữa rồi, nhưng đạo mà không giáo hoá được thì không giúp một người chạm đến được bản chất của hiện thực.
Bát chánh đạo là cực kỳ quan trọng với người muốn đưa ra một hạnh nguyện để vững đi trên đường đạo qua sự phát triển nhận thức và thực hành đúng đắn suốt đời.
Bát chánh đạo giữ cho một người ở trên đường đạo chân chính, không phân biệt đó là đạo Phật, đạo Nho hay đạo Lão, hay cả ba Tam giáo đồng nguyên này.
Bát chánh đạo giúp cho một Phật tử giữ được vòng quay của bánh xe Pháp
– Bát chánh đạo giúp cho một Phật tử buông được dính mắc với một loại kinh sách, một loại thực hành quá cụ thể của Phật giáo, để giữ được con đường Phật Pháp, con đường Phật tính, con đường Đạo.
– Bát chánh đạo giúp các Phật tử bị phụ thuộc vào sư và chùa, quay về với Phật tâm, Phật Pháp, với Tam Bảo từ chính nhận thức và thực hành của cá nhân mình.
– Bát chánh đạo giúp một Phật tử có sự sùng bái Phật giáo, rồi phủ nhận các tôn giáo khác, nhưng lại không nhận thức được tính đạo của đạo Phật và các đường đạo khác, các đức tin khác, bao gồm các truyền thống tín ngưỡng của dân tộc, quay về được với trung đạo và sự quan tâm về bản chất của toàn bộ hiện thực, chứ không phải là các giáo lý đúng sai phải trái.
– Bát chánh đạo giúp một Phật tử, sùng bái cá nhân Đức Bổn sư Thích Ca Mâu Ni Phật đến mức phủ nhận luôn tổng thể đạo Phật, phủ nhận sự tồn tại các vị Phật khác ngoài đức Thích Ca vì không được đức Thích Ca nhắc đến và phủ nhận Phật tính của chính mình, làm cho con đường tu đạo Phật trở thành vô nghĩa, vì không còn mục đích.
Bát chánh đạo không chỉ hữu ích với Phật tử mà còn hữu ích với bất kỳ ai muốn sống đúng với vận mệnh của mình, vì đây rõ ràng là một bộ nguyên tắc không phân biệt tôn giáo.
Bát chánh đạo là năng lực tự vệ của người đi trên đường đạo, chấp nhận nghiệp quả, chấp nhận tuỳ duyên, chấp nhận vô thường, sống trong hiện thực, nhưng đủ năng lực để tích hợp, chuyển hoá, đẩy lùi nhưng chướng ngại và cản trở từ chính mình và từ môi trường sống, thành trải nghiệm hữu ích trên đường đạo.
Một xu thế của mạt pháp là sự phát triển rầm rộ của đủ loại phong trào tâm linh và chữa lành, đủ loại thực hành tâm lý học, các dạng luyện tập thân tâm phiến diện về cả nhận thức và thực hành, không thể coi là đạo, không thể đưa một người đến đạo, nhưng lại thu hút số đông bị rơi vào tình trạng sùng bái kiểu mạt coi đó là đạo. Bát chánh đạo giúp một người đi qua các trải nghiệm này đủ sâu sắc để đạt được sự thấu hiểu về “hiện thực như nó chính là” mà vẫn buông được dính mắc với chúng, để đi trên con đường đạo của mình.
“Bát chánh đạo” mang tính đạo hơn là tính giáo lý, cho nên không gắn với bản thân đức Phật, không gắn với Phật giáo nói chung hay bất kỳ giáo phái Phật giáo nào bao gồm Phật giáo nguyên thuỷ, càng không gắn với tăng đoàn, kinh sách, với chùa.
Hãy thử hiểu Bát chánh đạo trên góc độ phi tôn giáo của một người bình thường, ứng dụng Bát chánh đạo để quan sát bản chất của hiện thực, qua một số ví dụ khá phức tạp, vượt ngoài mức độ mà tư duy bình thường của chúng ta có làm được, là hơi thở và truyện Kiều như một bộ kinh của người Việt.
BÁT CHÁNH ĐẠO
Bát chánh đạo hiểu đơn giản là tám con đường để đạo vận hành, biểu tượng của nó là bánh xe pháp 8 trục.
Bát chánh đạo chia làm 4 cặp mà luôn đi đôi hỗ trợ cho nhau
– Chánh kiến – Chánh tư duy
– Chánh ngữ – Chánh nghiệp
– Chánh mạng – Chánh tinh tấn
– Chánh niệm – Chánh định
1. Chánh kiến : Nhân quả
– Nhân : bất kỳ cái gì cũng có nhân, bao gồm sự tồn tại của chúng ta, thân thể, tinh thần và cuộc đời của chúng ta, đến cha mẹ đất nước, dân tộc, thời đại, Trái đất và vũ trụ mà chúng ta thuộc về, và cũng là nhân của sự tồn tại của chúng ta.
– Quả : bất kỳ cái gì cũng có quả, không có kết thúc tuyệt đối, sự kết thúc nào cũng sinh ra quả của nó, bao gồm cái chết
Quan hệ nhân quả là quan hệ
– cái này sinh ra cái kia : cái này là nhân của cái kia
– cái kia kết thúc cái này : cái kia là quả của cái này
Từ nhân quả, có các khái niệm trọng yếu của đạo Phật là Duyên – Nghiệp – Luân hồi – Vô thường
– Duyên : Chúng ta là quả của hợp duyên, rồi chúng ta là nhân, cùng những đối tượng hữu duyên khác tạo nên quả.
– Nghiệp : Chúng ta trong quá khứ là nhân của chính chúng ta trong hiện tại, chúng ta trong hiện tại là quả của chính chúng ta trong tương lai. Nghiệp liên quan đến bản thân chúng ta hơn là liên quan đến quan hệ của chúng ta và những đối tượng khác như duyên.
– Luân hồi : Luân hồi là một chuỗi đầu thai gắn với một chuỗi thân đi qua một chuỗi sinh tử của thân, mà cũng là một nhân quả gắn với thân. Luân hồi chịu tác động của cả duyên và nghiệp, nhưng tính quy luật, tính định, tính nghiệp của luân hồi rất cao. Muốn ra được khỏi luân hổi phải hiểu được quy luật của luân hồi, vừa phải định vừa phá được định, vừa chấp nhận nghiệp vừa phải giải được nghiệp của luân hồi.
– Vô thường : Vô thường là kết quả của nhân quả mà tạo nên bởi duyên. Vô thường liên quan đến tính nghịch lý, tính bất định, hoặc vô thường chính là quy luật định trong sự biến đổi.
Có thể nói, một người tin vào nhân quả, duyên nghiệp, vô thường và luân hồi thì người đó ít nhiều có cảm tình với đạo Phật, và ngược lại khi một người không tin vào nhân quả, duyên nghiệp, vô thường và luân hồi, người này cũng không tin hoặc không thực sự biết đến đạo Phật.
2. Chánh tư duy : Xuất thế, nhập thế, trung thế (trung đạo)
– Tư duy như thế nào, thì cuộc đời như thế. Đây chính là nguyên tắc nhân quả của Chánh kiến, ứng dụng vào tư duy. Tâm lý học có câu cửa miệng là “thay đổi tư duy thay đổi cuộc đời”. Vấn đề là, một người, một dân tộc, một thời đại …, luôn vận hành trong một dạng thức tư duy nào đó, giống như cá bơi trong nước, chim bay trên trời. Một người chỉ có thể thay đổi muôn vàn suy nghĩ và thay đổi muôn vàn đối tượng của suy nghĩ trên nền tảng của cùng một kiểu tư duy cũ, người đó không thể nào ra khỏi dạng thức tư duy nền tảng của mình để mà “thay đổi tư duy, thay đổi cuộc đời” được, giống như con cá làm sao mà có thể bay, con chim làm sao có thể bơi.
– Khi một người bị đóng khung trong một trạng thái tư duy không phù hợp với hiện thức cốt lõi, dù hợp với xu thế, thì người này ở trạng thái nhập xu thế mà lại không chánh tư duy. Xuất thế cho phép quan sát được tư duy mà trước đã nhập thế, từ đó đạt được chánh tư duy qua chuyển thế tư duy. Cơ bản một người chỉ có thể xuất khỏi một thế đã nhập và chỉ hiểu được một thế mà chính mình đã nhập. Đạo Phật là đạo xuất thế, kỹ thuật cơ bản để đạt được chánh tư duy thiền, mà dành cho cả Phật tử xuất gia và cư sỹ tại gia. Xuất thế mới là cái gốc của đạo Phật, trong đó xuất gia là một trạng thái cụ thể của xuất thế. Thiền là một kỹ thuật xuất thế, mà người xuất gia hay không xuất gia đều làm được.
Chánh kiến và chánh tư duy là một bộ đôi, lấy ví dụ với nhân quả
– Trong rất nhiều người tin vào nhân quả, rất ít người có Chánh kiến, nghĩa là hiểu một cách chắc chắn về nhân quả và Chánh tư duy là suy nghĩ đúng đắn về nhân quả.
– Các lý luận kiểu “điều khí để tăng cường sức khoẻ”, “uống thuốc để khỏi bệnh”, “chăm chỉ và học giỏi để thành công”, “hư bị ma bắt”, “ngoan được mẹ yêu”, “đọc kinh, chăm đi nhà thờ, đi chùa để lúc chết được siêu độ gặp Phật, gặp Chúa”, “sống lành mạnh, ăn uống ngủ nghỉ điều độ, tập thể dục thường xuyên sao vẫn bị ung thư” … là sai về bản chất của nhân quả. Thử đặt câu hỏi kiểu “thuốc là nhân hay là quả của bệnh ?, “chăm chỉ, học giỏi là nhân hay quả của thành công ?”, “con ngoan là nhân quả của tình yêu của mẹ, còn con hư là nhân quả của việc bị ma bắt ?”, “nhà thờ, chùa, kinh là nhân quả của Phật và Chúa ?” … và hãy tự trả lời.
– Biết nhân quả đúng theo Chánh kiến và Chánh tư duy là rất khó, cần có minh triết của thiền. Những bước đi đầu tiên là quan sát nhân quả sai trong các suy nghĩ thông thường để buông bỏ và cố gắng đừng tạo ra thêm và dính mắc thêm vào các nhân quả sai hoặc phiến diện.
3. Chánh ngữ : Thấu hiểu, lựa chọn và chịu trách nhiệm về nhân quả của lời nói nói riêng và thanh âm nói chung.
– Chánh ngữ liên quan đến ngôn ngữ, mà phản ánh sự biểu đạt của hiện thực theo các ngôn ngữ khác nhau. Chánh ngữ bị vi phạm khi một người không hiểu được bản chất của hiện thực, mà chấp nhặt vào ngôn ngữ biểu đạt hiện thực đó. Chánh ngữ liên quan đến lắng nghe sự thật, lắng nghe tiếng lòng, hay lắng nghe với tâm “trọng ý khinh lời”. Ví dụ con cái khó chịu với giọng của cha mẹ, bỏ ngoài tai lời nói của cha mẹ vì cha mẹ hay nhắc nhở hay sai bảo việc này việc khác.
– Chánh ngữ liên quan đến tên gọi gốc của một đối tượng bao gồm họ tên của một người, mà ở dạng thanh âm, trước khi chuyển sang một dạng ngôn ngữ nào đó. Khi một người làm lễ xuất gia và quy y tam bảo, người này sẽ được nhận pháp danh, vì Phật tử không được dùng tên do cha mẹ đặt nữa. Pháp danh hoàn toàn không bắt buộc với cư sỹ tại gia. Cư sỹ tại gia trước hết nên hiểu và trân trọng cái tên cha mẹ đặt cho mình, dù cư sỹ tại gia có thể tự đặt pháp danh hoặc nhờ thày chùa đặt pháp danh, nhưng việc này là không cần thiết, cư sỹ tại gia không cần quá quan tâm về việc các thày chùa hay các Phật tử khác gọi mình thế nào. Trong thời mạt pháp, mọi người hầu hết không hiểu bản chất tên gọi của chính mình và rất tuỳ tiện trong việc thay đổi họ tên, nghệ danh, biệt danh, tên gọi ở nhà … Tên là một thứ khó hiểu như tên gọi thì tốt nhất là không nên đụng vào, mà cứ sử dụng tên họ gốc bằng âm mà cha mẹ đặt cho là được. Việc tuỳ tiện tự đặt, tự sửa đổi, hoặc nhờ người khác hoặc nhận lấy pháp danh hay các dạng tên gọi khác là hành động khá là không lành.
– Chánh ngữ liên quan đến đọc, hiểu, sống và giảng các nguyên tắc cơ bản của đạo Phật như Quy y Tam bảo, Tứ diệu đế, Bát chánh đạo. Chánh ngữ cũng liên quan đến đọc, hiểu, sống và giảng các kinh điển nói chung bao gồm kinh điển Phật giáo, Nho giáo, Đạo Lão và sử thi hay ca dao tục ngữ dân gian. Sự khác biệt của Đạo Phật nguyên thuỷ với đạo Phật các nhánh khác chính là họ chỉ chấp nhận các lời Phật dạy là Quy y Tam bảo, Tứ diệu đế, Bát chánh đạo, mà không chấp nhận kinh do các đệ tử của đức Phật và những đời sau soạn, ngay cả các bộ kinh soạn bởi Ananda, người được cho là chép lại lời Phật dạy theo trí nhớ cá nhân, bởi vì kinh là công cụ của giáo trong khi nguyên lý là chỉ dẫn về đạo. Chánh ngữ như đã nói thuộc bộ Bát chánh đạo, không phải là giáo lý, không phải là kinh.
– Chánh ngữ không chỉ liên quan đến biểu đạt ngôn ngữ, mà còn liên quan đến tất cả các dạng biểu đạt thanh âm và nhịp điệu như thở, ca, múa, đàn, hát …, mà chính là các dạng biểu đạt tâm thế, bởi vì âm thế trước hết liên quan đến âm, đến hồn, sau đó mới liên quan đến hình, đến thân, là lĩnh vực của Chánh nghiệp.
– Chánh ngữ liên quan đến chánh hơi thở. Hơi thở là bí mật của sự sống ở trong từ cá thể và trong toàn vũ trụ, mà vượt ngoài nhận thức của mỗi chúng ta. Chánh kiến hay hiểu về nhân quả của hơi thở là cực kỳ khó. Chánh tư duy về hơi thở cũng là cực kỳ khó. Xuất thế hơi thở khác nào là chết, chỉ là xuất thế đến đâu và chết trên khía cạnh nào, thay đổi hơi thở chắc chắn là một dấu hiểu đổ nghiệp hoặc dấu hiệu tái sinh. Chánh ngữ đích thực đòi hỏi một người phải vô cùng thận trong với hơi thở và trước hết phải biết quan sát hơi thở để nhận thức trạng thái thở của chính mình. Điều hơi thở, chỉnh hơi thở, đặc biệt theo người khác, theo thày trước khi tự quan sát được hơi thở của chính mình trong các vận hành bình thường và các vận hành tập luyện là một lỗi chánh ngữ, chánh tư duy và chánh kiến, để lại hậu quả rất khốc liệt về lâu dài, mà “tàu hoả nhập ma” chỉ là một ví dụ mà thôi.
4. Chánh nghiệp : Thấu hiểu, lựa chọn và chịu trách nhiệm về nhân quả của hành động của chính mình.
– Một người tự tạo nghiệp cho mình từ các kiếp trước và ở trong kiếp này, và tạo nghiệp cho chính người ấy ở kiếp sau. Chánh nghiệp liên quan đến hành động tự thân, hành động dùng thân thể, hành động của bản thân, trong khi chánh ngữ liên quan nhiều hơn đến tâm ý và tinh thần.
– Chánh nghiệp không phân biệt trong tứ nghiệp, sỹ nông công thương cái nào cao, cái nào thấp. Tứ nghiệp liên quan đến nhập thế bằng một nghề nghiệp nào đó.
– Chánh nghiệp liên quan đến sự nghiệp, đến thành ngữ quen thuộc “thân thế sự nghiệp”. Chánh nghiệp đặt ra câu hỏi về sự nghiệp cuộc đời : “Cái gì mới là sự nghiệp cuộc đời mà một người phải theo đuổi ?”. Chánh nghiệp liên quan đến xuất thế một nghề nghiệp cụ thể và nhập thế sự nghiệp cuộc đời của chính mình – tu đạo.
– Giảng dạy về đạo Phật và dạy thiền bản thân nó không phải là chánh nghiệp, nếu việc giảng dạy này không được dẫn dắt bởi bát chánh đạo. Khi một người coi việc giảng dạy đạo Phật và thiền là sự nghiệp cuộc đời, thì đây là một ví dụ về kết hợp sự nghiệp và nghề nghiệp theo chánh nghiệp.
Chánh nghiệp và chánh ngữ là một bộ đôi
– Chánh nghiệp liên quan đến nhân quả của thân thể, trong khi chánh ngữ liên quan nhân quả tinh thần.
– Chánh nghiệp liên quan đến thân thế, hình thế và tư thế, với các tư thế cơ bản đi đứng nằm ngồi mà trong đạo Phật gọi là oai nghi. Chánh ngữ liên quan đến tâm thế, thanh thế và tình thế.
– Chánh nghiệp liên quan đến nghiệp, chánh ngữ liên quan đến duyên.
5. Chánh mạng : Tự nuôi mạng sống của mình bằng nghề nghiệp chân chính
– Mạng sống trong chánh mạng gồm sinh mạng, mạng sống của thân thể và tử mạng, mạng sống tinh thần, gộp chung thành vận mạng, mà gắn với năng lực duy trì đường đạo cùng với duy trì vận mạng.
– Chánh mạng đầu tiên thể hiện ở việc phải tự kiếm sống và kiếm sống đúng đắn. Cư sỹ tại gia đương nhiên phải tự kiếm sống, hoặc chăm lo việc nhà nếu không làm việc kiếm tiền mà người nhà sẽ làm việc kiếm tiền. Người xuất gia, đặc biệt tu sỹ khất thực sống nhờ cúng dường, cúng dường giúp người xuất gia giữ được chánh mạng. Người xuất gia ở chùa hay các dạng am tu, không đi khất thực cũng có thể lao động để kiếm sống.
– Chánh mạng liên quan sâu sắc đến việc kiếm tiền, nhận tiền, giữ tiền và sử dụng tiền. Nếu một cư sỹ có hạnh nguyện làm các nghề nghiệp liên quan đến giảng dạy và chữa lành qua việc thiền, họ chắc chắn có cam kết về tiền bạc liên quan, mà thường là nhận tiền hợp lý cho công việc của mình, chứ không phải làm việc đó theo kiểu từ thiện hay kiểu truyền đạo, mà đẩy cả người cho vào người nhận vào trạng thái mất cân bằng, trực tiếp làm lung lay Chánh mạng.
6. Chánh tinh tấn : Ngăn chặn sự sinh khởi và tăng trưởng các bất thiện pháp và làm sinh khởi và tăng trưởng các thiện pháp, từ đó giữ được sự tinh tấn trên đường đạo suốt cuộc đời
– Con đường tu tập phải có cơ chế cho phép người tu đạo tinh tấn trên đường đạo. Nếu không có tinh tấn, không gọi là tu đạo. Cơ chế này gọi là chánh tinh tấn.
– Chánh tinh tấn bao gồm indriya-samvara, “canh giữ các giác quan”, kiểm soát các giác quan, để hoá giải được tà kiến, tà tư duy, tà ngữ, tà nghiệp, tà mạng, tại gốc, chính là giác quan, vì giác quan là nơi ý chí, suy nghĩ, lời nói, hành động được khởi lên.
– Mọi phép tu luyện đều có nguyên tắc luyện tập hàng ngày, như hành thiền hàng ngày, đọc kinh hàng ngày, quỳ lậy hàng ngày, sám hối hàng ngày … , tập võ hàng ngày, tập viết chữ hàng ngày, tập đàn hát hàng ngày, tập làm việc gì đó hàng ngày … Vấn đề là, một hành vi được lặp lại hàng ngày sẽ chỉ giúp được người tiến bộ lúc đầu trong thực hành hẹp này, mà không tiến bộ về lâu dài, không tiến bộ trên cả con đường làm người, con đường đạo. Nói cách, tinh tấn trong một lĩnh vực nhỏ mà chiếm quá nhiều thời gian của tu tập và được đem ra làm thước đo kết quả cho tu tập, thay vì làm đông lực khởi đầu cho tu tập không phải là chánh tinh tấn.
– Trở thành chuyên gia trong một lĩnh vực nhỏ, đôi khi cản trở việc một người giữ được tâm trong sáng hồn nhiên trong chính lĩnh vực ấy và chuyển được sang lĩnh vực khác, do đó một chuyên gia rất khó có được sự tinh tấn trong các nhận thức và thực hành dạng cơ bản, không có một khung quy chuẩn cụ thể. Một số người trong tăng đoàn của đức Phật được biết đến với một năng lực đặc biệt ví dụ Mục Kiền Liên là thần thông đệ nhất, Xá Lợi Phất (Sariputta) là trí tuệ đệ nhất, Ma Ha Ca Diếp là đầu đà đệ nhất, nhưng họ chỉ dùng năng lực đệ nhất này làm động lực tu hành của mình thôi, chứ không đem cả con đường tu đaọ của mình giam trong cái năng lực đệ nhất này. Một số người tu không những không tìm ra cái năng lực đệ nhất của mình để lấy đó làm động lực tinh tấn, mà tự giam mình trong một năng lực đệ nhất của mình, thậm chí tệ hơn là chạy theo năng lực đệ nhất và chạy theo năng lực đệ nhất của thày. Một số người tu tìm thấy theo năng lực đệ nhất, rồi đắm đuối học hết cái này đến cái khác.
– Chánh tinh tấn chính là điều làm nên sự phân biệt giữa người đang đi trên đường đạo với một người thường xuyên luyện tập một cái gì đó có tính chất lặp đi lặp lại và với một chuyên gia. Nếu chúng ta học và luyện tập một cái gì đó thường xuyên, chúng ta nhất định tiến bộ hơn với riêng cái đó. Nếu chúng ta là một chuyên gia, chúng ta nhất định sẽ có hiểu biết hơn bình thường về riêng lĩnh vực nào đó. Điều đó không có nghĩa là chúng ta có chánh tinh tấn suốt cuộc đời trên đường đạo, vì một thực hành nhỏ, một chuyên gia hẹp có thể làm toàn bộ đường đời của chúng ta tắc nghẽn và đổi hướng, mặc dù bề ngoài có vẻ chúng ta đang thành công vững vàng, nhưng cả con đường tu đạo và mục đích cuộc đời của chúng ta sẽ sụp đổ.
Chánh mạng và chánh tinh tấn là bộ đội. Nó đặt ra vấn đề là để tinh tấn trên đường đạo cả đời, thì một người rất nên kiếm sống với một nghề nào đó giúp họ tu đạo được hoặc đưa được nguyên tắc đạo vào nghề nghiệp đó.
– Một số người thay vì dùng Bát chánh đạo để định hướng sự nghiệp cuộc đời, thì lại tìm cách nâng tầm công việc liên quan đến tập luyện viết chữ, luyện tập sức khoẻ, các trường phái ăn uống phiến diện, các dạng nghỉ dưỡng hay các tương tác thiên nhiên môi trường … lên tầm “đạo”, đồng thời nhảy phắt từ các lĩnh vực rất hẹp này sang thiền, mà không hề nắm được bản chất của thiền, là minh sát về toàn bộ hiện thực. Bằng việc nâng cấp quá đà, nâng cấp ảo tưởng này, họ cảm thấy mình vừa có Chánh tinh thấn, vừa có Chánh mạng, mà thực ra đạp đổ cả hai.
– Một số người, không phân biệt là tu sỹ hay cư sỹ có cam kết về việc giảng dạy và tư vấn dựa trên các nguyên lý của Phật giáo và thiền, như một nghề nghiệp chính hoặc nghề nghiệp song hành với nghề nghiệp chính, để làm mạnh nguyên tắc Chánh mạng và Chánh tinh tấn của mình
7. Chánh niệm : Duy trì sự quan sát
– Kỹ thuật quan sát của đạo Phật là thiền Vipassana. Nguyên tắc cơ bản của Vipassana là “minh sát về toàn bộ hiện thực”, “quan sát hiện thực như nó chính là”.
– Vipassana là một kỹ thuật quan sát nền tảng, có bản chất phi tôn giáo y như là Bát chánh đạo, nhưng cách quan sát của Vipassana cực kỳ hợp với đạo Phật, vì nội tâm thế để thiền Vipassana khác với ngoại tâm thế của số đông bình thường, mà đạo Phật là đạo xuất thế. Với cư sỹ tại gia, Vipassana rõ ràng là trạng thái xuất thế được thực hiện trong tình trạng nhập gia.
– Chánh niệm là duy trì sự quan sát mọi nơi mọi lúc, bởi vì hiện thực hiện diện ở mọi nơi và mọi lúc, và tu tập vì thế cũng diễn ra mọi nơi mọi lúc. Tuy nhiên thời gian đầu, do khả năng quan sát còn kém, chúng ta cần dành thời gian riêng và kỹ thuật riêng cho thiền, nhưng càng ngày chúng ta càng hướng được các đối tượng của thiền ra toàn bộ hiện thực bao gồm hiện thực căn bản của thân thể và đời sống, đến các hiện tượng phổ quát. Khi thiền đã trở thành trạng thái thường xuyên và một người có thể quan sát chính mình trong đời thường, sửa mình trong đời thường, lúc này người ấy đạt được thế trung đạo, mà cân bằng giữa xuất thế và nhập thế quan sát, và chính thức đi được trên con đường của chánh niệm.
– Các dạng thiền để tĩnh tâm và dưỡng thân, bao gồm sự tĩnh dưỡng nằm bên ngoài hiện thực bệnh tật của thân tâm và hiện thực cuộc đời, … là những mục đích chống lại chánh niệm.
– Chánh tư duy sẽ đạt được đầu tiên trong thiền, vì họ quan sát sâu được hiện thực để chỉnh sửa nhận thức của mình. Chánh kiến thường đạt được dễ hơn nếu một người có thể thiền về luân hồi đầu thai, lúc này nhân quả sẽ được quan sát dễ hơn.
– Khi một người thường xuyên quan sát bản thân thì sẽ có được chánh ngữ và chánh nghiệp.
– Khi một người thường xuyên quan sát bản thân, thì tự nhiên sẽ chỉnh sữa chữa được bản thân, do đó đạt chánh tinh tấn và chánh mạng.
8. Chánh định : Chánh định là xác định một đối tượng, giữ được kết nối hay quan sát với đối tượng đó, hiểu hay chạm được vào bản chất của đối tượng đó.
– Chánh định liên quan đến định thân vào một tư thế nào đó, định tâm vào một trạng thái nào đó, đinh cả thân tâm vào một đối tượng nào đó, ví dụ như công việc.
– Khi học bất kỳ cái gì hay làm bất kỳ việc gì cũng phải có đối tượng. Thiền hay tu đạo cũng vậy. Đối tượng của toán, văn, lý, hoá, sử, địa còn kho, đối tượng của học tập nói chung còn khó hơn. Đối tượng của việc nấu nướng, làm thủ công, đối tượng của lao động nói chung còn khó hơn. Đối tượng của ăn uống tắm rửa còn khó hơn nữa, vì càng hành vi cơ bản hàng ngày càng khó xác định đúng đối tượng, ví dụ ăn để sinh tồn, ăn để no hay ăn để ngon, ăn để cho thân thể, ăn để cho tinh thần hay ăn cho con người nói chung, cái gì được gọi là đối tượng của ăn. Hình dung định được đối tượng của thiền hay tu đạo khó đến thế nào.
– Chánh định xảy ra trước khi quan sát, ví du lựa chọn đối tượng hơi thở, tìm hiểu về hơi thở, rồi mới bắt đầu quan sát hơi thở. Chánh định xảy ra trong khi quan sát, ví dụ phải định được hơi thở trong suốt quá trình thiền, không đánh mất sự quan sát, không lao tâm trí về các đối tượng khác, không mất kiểm soát hơi thở. Chánh định xảy ra sau khi quan sát, ví dụ phải định được tốt hơn bản chất của hơi thở sau mỗi lần quan sát.
– Dù đối tượng của Vipassana là toàn bộ hiện thực, nhưng nhận thức thông thường không thể nào đinh được toàn bộ hiện thực. Cho nên, bốn nền tảng chánh niệm theo Kinh Tứ Niệm Xứ là 1. Quán thân là quan sát cơ thể, tư thế và hơi thở, để thấy vô thường. 2. Quán thọ là quan sát các cảm giác sinh hoá của thân như đau, mỏi, tê, bì … 3. Quán tâm là quan sát ý chí, lý trí và xúc cảm. 4. Quán pháp là quan sát các quy luật của thân, thọ, tâm và các chân lý thể trời đất phản ánh qua thân, thọ, tâm. Bốn đối tượng của Tứ Niệm Xứ tạo nên sự chánh định, để đỡ cho chánh niệm. Thiền quán hơi thở chính là một dạng đặc biệt của quán thọ, mà phải định được sự quan sát hơi thở, định được trong vận hành của hơi thở, định vị được hơi thở là gì
– Đối tượng Không là khó đinh và khó quan sát nhất. Không quan sát được đối tượng cần quan sát không phải là thấy đối tượng vô thường, như không định được đối tương không phải là tâm định ở không hay tâm không. Thiền tâm không bản chất là thiền với tâm định ở không, nói cách khác đối tượng thiền là không có cái gì cả, không có đối tượng cụ thể. Đây là cấp thiền của người đắc đạo, người thiền mà không thiền, người thiền mọi nơi mọi lúc, bởi vạn vật bên trong và bên ngoài người ấy đều là đối tượng của thiền, lúc này người ấy đạt được vô ngã, đạt được tâm không. Thiền vô ngã, thiền vô thường của đạo Phật là cũng là thiền tâm không ở mức độ thấp cho một đối tượng cụ thể nào đó, cho đến lúc đạt được quán pháp về đối tương để thấy được sự vô thường của đối tượng,
lúc này người quan sát đạt được trạng thái vô ngã đối với riêng đối tượng quan sát này. Đây là trình độ thiền cực kỳ khó.
– Người thiền bình thường phải bắt đầu bằng các đối tượng quan sát cụ thể bình thường mà có thể đinh được, nghĩa là quan sát được A là A, định được A, quan sát được B là B, định được B, sau đó mới có thể quan sát được A là A mà không phải là A như người ta vẫn nói, như mình vẫn nghĩ. Người sơ cơ đã vội kết luận rằng họ thấy cảm thọ là vô thường, thân thể là vô thường, cảm xúc là vô thường, sống chết là vô thường, chứng tỏ rằng họ không định nổi các đối tượng này trong thiền.
– Thiền chữa lành nghĩa là một nhánh nhỏ của thiền trong đó, thân tâm mắc bệnh chính là đối tượng quan sát của thiền và nhờ sự quan sát này mà chữa lành xảy ra. Thiền chữa lành không phải là lấy chữa lành ra làm mục đích của thiền. Nếu chữa lành là mục đích của thiền thì lại đánh mất chánh niệm. Đó là lý do, những người đang thực hành một dạng chữa lành rất hẹp nhảy sang thiền đều trực tiếp phá cái gốc của thiền là chánh niệm và nếu tâm thế này quá nặng, con đường thiền sẽ vĩnh viễn đóng lại, với họ, đồng nghĩa với Chánh niệm, Bát chánh đạo, đạo cũng đóng lại với họ.
Chánh định và chánh niệm là bộ đôi, vì muốn chánh niệm (quan sát) được thì phải chánh định (định đối tượng quan sát) được.
– Những người sơ cơ định một đối tượng để quan sát như hơi thở, cảm thọ ở trong thân, cảm xúc, suy nghĩ còn chưa làm nổi, mà lại dám thiền tâm không thường là vì họ không có năng lực định một đối tượng, họ biến sự mơ hồ thường trực trong tâm trí họ thành một khái niệm bao la vĩ đại. Người yêu thích các loại thiền “tâm không” thường có những buổi thiền mà tâm họ không quan sát được bất kỳ cái gì cụ thể, sâu sắc mà tâm của họ chỉ đi tìm kiếm trải nghiệm, mà bình thường lúc bận rộn họ không thấy được. Việc quan sát được trạng thái bất thường mà họ gọi là tâm không này chẳng qua chỉ là kết quả của trạng thái xuất thế do thiền đem lại. Thiền tâm không là kỹ thuật trấn yểm tâm trí một người không có kinh nghiệm sống về sự tồn tại một cái gì đó thần bí gọi là “đạo”. Sau buổi “ngộ đạo tâm không” này, cả thày và trò đều chẳng ai thiền tiếp, vì không ai duy trì mãi được những thiền buổi thiền lặp lại trạng thái lặp lại trạng thái không đối tượng, không tâm trí này, nhưng không sao cả, vì người đã bị dẫn dắt vào trải nghiệm “ngộ đạo tâm không” sẽ lao đầu vào “đạo”. Không quan sát là vô định và không quan sát là vô niệm, đã dẫn người này vào con đường đạo vô đạo.
BÁT CHÁNH ĐẠO & HƠI THỞ
Bát chánh đạo có thể dùng để quan sát một hiện thực hay một dạng thực hành tu tập nào đó, ví dụ điều khí theo nguyên tắc “Ý dẫn khí, khí dẫn huyết”
– Chánh kiến : Theo nguyên tắc “Ý dẫn khí, khí dẫn huyết” thì ý loạn thì khí huyết loạn, ý thông suốt thì khí thông suốt, ý đi đâu sẽ dồn khí huyết theo về đó, ý rời bỏ đâu, thì khí huyết tại đó cũng suy đi. Tuy nhiên, điều này không có nghĩa là ý là nhân và khí huyết là quả. Nhân quả của khí huyết là cực kỳ phức tạp, nhân quả của việc điều khí bằng ý thông thường vượt xa nhận thức của người có hành vi này.
– Chánh tư duy : Chánh tư duy càng sâu sắc đến mức nào, thì khí huyết càng thông suốt đến mức đó. Nhịp tim của một người có thể rất độc lập với môi trường nhưng hơi thở liên tục có sự tương tác với môi trường, nên tính duyên, tính tương tác, tính phức tạp của hơi thở là cực kỳ lớn, vượt xa suy nghĩ của một người.
– Chánh niệm : Hơi thở là bí mật của sự sống, hơi thở là vận hành cực kỳ nền tảng của sự sống, nên hơi thở là một đối tượng quan sát cực kỳ khó, dù quan sát hơi thở thường được đưa vào những cấp thiền đầu tiên của thân. Quan sát hơi thở không chống lại việc điều hơi thở ở phạm vi cục bộ, nói cách khác, có thể vừa quan sát vừa chủ động tác đông đến hơi thở theo mục đích nào đó. Việc điều một hơi thở trong một phạm vi hẹp chỉ nhằm mục đích định được hơi thở đó trong hơi thở tổng thể của cơ thể, được rõ hơn cho mục đích quan sát, chứ không phải là để định hơi thở đó theo ý chí chủ quan của người thiền. Chỉ quan sát hơi thở trong môt trạng thái nào đó chống lại nguyên tắc của chánh niệm là quan sát “hiện thực như nó chính là”.
– Chánh định : quan sát hơi thở thì phải định được hơi thở là cái gì, hơi thở vận hành như thế nào, hơi thở ở phổi thì như thế nào, hơi thở ở bụng, ở cột sống, hay ra chân tay, ra các cổng vận hành thế nào, với trạng thái bình thường và trạng thái bị phá bởi các dạng thân, thọ, tâm và pháp khác nhau. Thở là vận hành toàn thân, từ cấp lượng tử, cấp tế bào, đến cấp cơ quan bộ phận, cho nên ý tác động đến hơi thở, nhưng không có nghĩa là ý có thể thực sự điều được hơi thở, hoặc nên dùng ý để điều hơi thở. Định hơi thở bằng cách điều hơi thở là hành vi cực kỳ nguy hiểm, rất dễ biến thành tà định.
– Chánh ngữ : Hơi thở và lời nói, tâm ý đi đôi với nhau. Hơi thở là vận hành khí, vận hành thanh âm nền ẩn, trong khi lời nói là vận hành khí, vận hành thanh âm nổi hiện, giống như phần lời và phần nhạc của một bài hát. Một người có chánh ngữ, thận trọng với lời nói, chỉ nói điều mình thực hiểu, thực nghĩ, thì sẽ phải cẩn trọng hơn nữa với hơi thở, mà mình phát ra và thu vào.
– Chánh nghiệp : Hơi thở là nhịp nên tảng của mọi hành động và tương tác của con người. Một người có chánh nghiệp, thận trọng với hành động của mình, thì sẽ cần thận trọng với mọi hành động tác động đến hơi thở như kiểm soát và điều hơi thở.
– Chánh mạng : Hơi thở liên quan đến mạng sống. Điều hơi thở có thể không làm một người mất mạng, vì nếu như vậy người ta sẽ ngừng điều hơi thở ngay, nhưng có thể làm một người mất chánh mạng, vì làm sai hỏng nhịp điệu nền của sự sống. “Tàu hoả nhập hoả” thường được coi là hậu quả của việc luyện công khí công bao gồm điều khí, điều hơi thở sai cách, mà gây điên đại. Điên dại không chỉ là mất chánh tư duy mà là mất cả chánh mạng.
– Chánh tinh tấn : Hơi thở là nhịp sống nền tảng của một người. Hơi thở suy nghĩa là sự sống suy, hơi thở bệnh là sự sống bệnh, hơi thở ngừng, thì sự sống ngừng. Hơi thở có sự chuyển hoá, có sự tinh tấn thì chánh kiến, chánh tư duy, chánh niệm, chánh định, chánh ngôn, chánh nghiệp, chánh mạng đều có sự tinh tấn.
