ĐẠO KIỀU & KINH KIỀU QUA PHẦN KẾT THÚC CỦA TRUYỆN KIỀU

Loading

PHONG THUỶ CỦA NHÀ KIM VÂN KIỀU
“Quan lộc”, “điền trạch”, “phúc đức” là ba cung liền nhau trên bản đồ tử vi 12 cung, mà liên quan rất lớn đến phong thuỷ.
“Phúc đức” mang tính hướng nội liên quan đến sinh dưỡng, bảo tổn và phát triển dòng máu, “quan lộc” mang tính hướng ngoại, liên quan đến công danh, địa vị, tài lộc xã hội. Đất bao gồm vườn, đồng thuộc về điền và nhà, bao gồm ao hồ, kênh rạch thuộc về trạch. Điền là cấu trúc, trạch là vận hành, là hơi thở của điền. Cung “điền trạch” ở giữa cung “phúc đức” và cung “quan lộc”, kết nối và cân bằng hai cung này, trong đó điền có tính kim hoả thổ thì vuông vức, an định, hiện hữu, nhất quán, làm đế trụ vững vàng, còn trạch có tính mộc thuỷ khí thì đa dạng, linh hoạt, biến hoá, ẩn hiện, giấu mình.
Người xưa cho rằng, phong thuỷ tốt đẹp, đặc biệt là mộ phần cha ông và nhà cửa của con cháu (hai lĩnh vực chính của điền trạch) sẽ ảnh hưởng đến việc truyền thừa hồng phúc tổ tiên cho các thế hệ sau, giúp con cháu sinh sôi nảy nở đầy đàn (phúc đức) và làm ăn phát đạt công danh phú quý (quan lộc).
Cung “Phúc đức” đi liền với cung “Phụ mẫu” như câu nói “Phúc đức tại mẫu” và “Con hơn cha là nhà có phúc”. “Quan lộc” đi liền với “Nô bộc”, vì nô bộc là những người ở trong quan hệ thày trò và quan hệ xã hội với người đứng chủ của bản Tử vi.
Phong thuỷ của nhà Kim Vân Kiều được đúc kết lại ở cuối truyện Kiều bằng sáu câu thơ sau
Một nhà phúc lộc gồm hai,
Nghìn năm dằng dặc, quan giai lần lần.
Thừa gia chẳng hết nàng Vân,
Một cây cù mộc, một sân quế hoè.
Phong lưu phú quý ai bì,
Vườn xuân một cửa để bia muôn đời.
– Một nhà phúc lộc gồm hai : “Nhà” liên quan đến cấu trúc ngôi nhà dành cho gia đình và bộ đất đai đi cùng gồm sân vườn ao chuồng của đại gia đình nhiều thế hệ, đồng ruộng và mộ phần của gia đình, dòng họ. “Phúc” là sự bảo vệ phát triển mở rộng của thế hệ con cháu nói riêng và sự phát triển của dòng máu, dòng tộc nói chung. “Lộc” là hưng thịnh và dồi dạo của tiền bạc, địa vị, công danh xã hội của người trong gia đình quay về lại dưỡng nuôi cho gia đình. “Phúc” là luồng phát triển mở rộng gia đình và “lộc” là luồng tích tụ trở về “nhà”, qua trung gian là đất. “Một nhà phúc lộc gồm hai” nghĩa là “nhà” của Kim Vân Kiều có cả hai thứ “phúc đức” và “quan lộc” thống nhất như “một” qua nhà đất hay điền trạch.
– Nghìn năm dằng dặc, quan giai lần lần : “Nghìn năm dằng dặc” nói về cái phúc của gia đình, mà sẽ kéo dài rất nhiều năm theo các thế hệ con cháu, chút chít. Có phúc của từng người, phúc của cả gia đình, phúc của cả dòng họ, và phúc đặc biệt liên quan đến việc sinh dưỡng con cái cho nên có câu “phúc đức tại mẫu” và “con hơn cha là nhà có phúc”. “Quan giai lần lần” là quan lộc phát triển tuần tự và chắc chắn theo các phẩm cấp, thứ bậc, địa vị xã hội (giai). “Quan giai” chủ yếu liên quan đến thành công của người đàn ông ở chốn quan trường, ở ngoài xã hội. “Quan giai lần lần” cũng có thể hiểu là theo dòng thời gian, lần lượt ở các thời khắc mấu chốt của lịch sử dòng họ sẽ có các nhân tài ở các vị trí khác nhau có sứ mệnh gánh vác đất nước và xã hội.
Một nhà phúc lộc gồm hai
Nghìn năm dằng dặc, quan giai lần lần
Cả hai câu nghĩa là gia đình Kim Văn Kiều sẽ phát triển thành một dòng họ có phúc nghìn năm và lần lượt có các nhân tài gánh vác trách nhiệm với đất nước xã hội. Đây chính là mục đích của phong thuỷ.
– Thừa gia chẳng hết nàng Vân : “Thừa” có nghĩa là truyền thừa, bao gồm nhận truyền thừa và trao truyền thừa. “Gia” là gia đình, gia tiên, gia phong, gia nghiệp. “Thừa gia” là trao nhận, đảm đương, gánh vác, tiếp quản trách nhiệm gia đình, gia tiên, gia phong, gia nghiệp tổ tông, trong đó có trao nhận truyền thừa về việc nối dõi tông đường. Sinh dưỡng con cái là một trong những trọng trách cơ bản nhất của người phụ nữ trong dòng truyền thừa, vì không có con cháu thì gia đình, gia phong, gia nghiệp sẽ không truyền được sang thế hệ sau. Câu này được thày Thích Nhất Hạnh trong cuốn “Thả một bè lau” diễn giải là Thuý Vân sẽ sinh các em bé. Truyền thừa dòng họ không bao giờ chỉ do một mình nàng Vân gánh vác mà do một nhóm người gánh vác xuyên đời, sao cho sự phát triển của dòng máu gốc không bao giờ bị đứt đoan, nói cách khác là “chẳng bao giờ hết”.
– Một cây cù mộc, một sân quế hoè : “Cù mộc” về cấu trúc là cây thân lớn có cành lá trĩu xuống bảo vệ, che chở, nâng đỡ, làm trụ cột cho các cây khác ở bên dưới nó và leo bám vào nó, ví như người chồng/người cha và người vợ/người mẹ trụ cột và đức độ. “Cù mộc” về vận hành là tổng hợp, cần cù và lặp lại theo chu kỳ vòng tròn như đèn cù. Trong ngữ cảnh của truyện Kiều, “cù mộc” là Kim Trọng và Thuý Kiều âm dương thống nhất như một. “Quế” là cây cho hương thơm. “Hoè” tượng trưng cho con cháu đông đúc, học hành thành tài và vinh hiển, theo điển tích xưa, nhà họ Vương trồng ba cây hòe ở sân, sau sinh con đỗ đạt lớn. Trong phong thuỷ, “cù mộc” là cây trụ huyệt, “quế hoè” là cây phát tán năng lượng từ huyệt lan đi các nơi và từ các nơi tụ về huyệt. Trong gia tiên “cù mộc” đại diện cho ông bà đầu nhau, “quề hoè” đại diện cho con cháu, đặc biệt là bà cô ông mãnh và ông thày bà mụ. “Sân” đại diện cho trạng thái sum họp của bộ “quế hoà”, cùng trầu về “cù mộc”. “Sân quế hoè” tượng trưng cho con cháu đông đúc, học hành thành tài và vinh hiển, dưới sự dưỡng nuôi, bảo vệ, nâng đỡ của bộ cù mộc, dù lớn lên luôn trầu về lại bộ cù mộc gốc, là Kim Trọng và Thuý Kiều.
Câu hỏi là tại sao chỉ có Thuý Vân gánh vác “thừa gia chẳng hết”, trong khi Thuý Kiều và Kim Trọng thì cứ thảnh thơi đồng điệu “khi chén rượu, lúc cuộc cờ/Khi xem hoa nở, khi chờ trăng lên” với nhau ?
– Thuý Kiều và Kim Trọng là bộ “cù mộc” gốc, giữ năng lượng Phụ Mẫu của cây dòng họ. Thuý Kiều đã đảm nhận thừa gia từ ban đầu, vì cái gốc của thừa gia chính là “hiếu nghĩa”. Việc Kiều bán mình chuộc cha mở đầu cho đoạn trường là cách vận hành hy sinh bản thân (cái ngọn) vì cha mẹ (cái gốc). Kim Trọng đã gánh vác thừa gia cùng với Kiều, bằng cách thay Kiều chăm sóc cha mẹ và các em của Kiều.
– Thuý Vân và Thuý Kiều là một bộ lưỡng nghi tính nữ. Sinh con và báo hiếu là điểm mạnh của Thúy Kiều. Kết thúc và “hy sinh đời bố, củng cố đời con” là diểm mạnh của Thuý Vân. Thuý Vân có thể đột ngột gánh vác tình duyên của Thuý Kiều với Kim Trọng khi được cậy nhờ, rồi cũng rất dứt khoát trả lại tình duyên của Thuý Kiều với Kim Trọng, khi Kiều về lại với gia đình. Ở góc độ nào đó, Thuý Vân là người bắt đầu và kết thúc đoạn trường của Kiều về mặt quan hệ tình yêu và gia đình với Kim Trọng, còn Đạm Tiên là người bắt đầu và kết thúc đoạn trường của Kiều về mặt thân thể và xã hội, liên quan đến Từ Hải.
– Người giữ vai trò thừa gia trong bộ ba Kim Vân Kiều, mà trước hết là nhận lại dòng truyền thừa khởi phát từ Thuý Kiều và Kim Trọng chính là Thuý Vân. Đầu tiên là Thuý Vân nhận tín vật định tình của Thuý Kiều và Kim Trọng, khi Kiều trao duyên cho em. Hành động trả duyên lại cho chi gái của Thuý Vân chính là thừa nhận Thuý Kiều và Kim Trọng mới là cái gốc của quan hệ tình yêu gia đình với Kim Trọng.
– Sau 15 năm sống với Kim Trọng, Thuý Vẫn vẫn chưa sinh em bé, chỉ sau khi Thuý Kiều quay về sống cùng với Thuý Vân và Kim Trọng, gia đình ba người này mới có thể có em bé, để tạo nên một dòng họ nghìn năm. Con của Thuý Vân hay Thuý Kiều thực chất vẫn là con của cả bộ ba Kim Vân Kiều, mà đầy đủ hơn là con của bộ bốn Thuý Kiều Thuý Vân Đạm Tiên Giác Duyên sinh ra từ lưỡng nghi tính nữ của bà Thị và bộ đôi Kim Trọng Từ Hải, sinh ra từ đối kháng tính nam của ông Công và ông Táo.
Thừa gia chẳng hết nàng Vân,
Một cây cù mộc, một sân quế hoè.
Hai câu trên vừa nói về phong thuỷ nhà đất của Kim Vân Kiều, vừa nói về vai trò của bộ ba Kim Vân Kiều trong sự phát triển về phúc đức của cây dòng họ của ba người.
– Phong lưu phú quý ai bì : “Phong lưu” và “phú quý” đối xứng với “phúc lộc gồm hai”. “Ai bì”, trạng thái so sánh bên ngoài với bên trong, đối xứng với “một nhà” là trạng thái tổng hợp âm dương bên trong.
– Vườn xuân một cửa để bia muôn đời : “Vườn xuân” là biểu tượng của gia đình đông đúc, sinh sôi nảy nở con đàn cháu đống. “Một cửa” là vận hành và tinh thần thống nhất như một, vì trong phong thuỷ, cửa nhà mở ra hướng nào, thì luồng vận hành và tinh thần của ngôi nhà đi theo hướng đó. “Vườn xuân một cửa” là biểu tượng của gia đình đông đúc, sinh sôi nảy nở con đàn cháu đống, nhưng tinh thần và vận hành vẫn đi theo một hướng nhất quán. “Để bia muôn đời”, đối xứng với “nghìn năm dằng dặc, quan giai lần lần”. “Vườn xuân một cửa để bia muôn đời” mô tả trạng thái khuôn mẫu của gia đình Kim Vân Kiều, mà sẽ phát triển thành một dòng họ vững bền muôn đời để xã hội nhìn vào, công nhận và noi theo.
Phong lưu phú quý ai bì
Vườn xuân một cửa để bia muôn đời
Hai câu trên nói về khả năng truyền thừa dòng máu gốc mà cực kỳ phong phú đa dạng trọn vẹn sang thế hệ tiếp theo.: “Vườn xuân một cửa” là gia đình sinh sôi nảy nở đa dạngm phong lưu, phú quý như khu vườn mùa xuân nhưng dòng máu không bị hao tán đi, mà vẫn truyền thừa nhất quán và trọn vẹn được sang các thế hệ sau theo “một cửa”.
TẠI SAO KIỀU “HẠI MỘT NGƯỜI CỨU MUÔN NGƯỜI” ?
Cổ tích về tình yêu của công chúa và hoàng tử kết thúc rằng “Công chúa và hoàng tử sẽ hạnh phúc bên nhau mãi mãi”. Một câu chuyện cổ tích có thể kết thúc nhưng tình yêu của hoàng tử và công chúa sẽ sống mãi.
Truyện Kiều của Nguyễn Du cũng kết thúc bằng những ngôn từ đậm sắc cổ tích về tình yêu của ba người Kim Vân Kiều như “môt nhà phúc lộc nghìn năm dằng dặc”, “vườn xuân để bia muôn đời”.
Một nhà phúc lộc gồm hai,
Nghìn năm dằng dặc, quan giai lần lần.
Thừa gia chẳng hết nàng Vân,
Một cây cù mộc, một sân quế hoè.
Phong lưu phú quý ai bì,
Vườn xuân một cửa để bia muôn đời.
Bình thường người ta chỉ nói “vợ chồng trăm năm hạnh phúc”, không ai nói “phúc lộc nghìn năm dằng dặc”. Bình thường người ta chỉ chúc “vợ chồng sống với nhau đến đầu bạc răng long”, không ai chúc “vườn xuân một cửa để bia muôn đời”.
Chỉ có cổ tích mới nói về tĩnh yêu vĩnh cửu, tình yêu mãi mãi. Cách kết thúc của truyện Kiều cho thấy mối tình của Kim Vân Kiều là một khuôn mẫu có tính cổ tích.
Đoạn trường mà Kiều trải qua giống như bốn lần chết đi sống lại của Tấm trong hoá thân chim vàng anh, cây xoan đào, khung cửi và quả thị, để cuối cùng Kiều gặp lại được Kim Trọng, như Tấm gặp lại hoàng tử.
Nói theo ngôn ngữ phương Tây, công chúa và hoàng tử trong cổ tích yêu nhau mãi mãi vì họ là hai linh hồn sinh đôi twin-flames. Nói theo ngôn ngữ dân gian Việt, Kim Vân Kiều có duyên nợ ba sinh. Trong đạo Phật, duyên nợ ba sanh hay tam sinh là duyên nợ đời quá khứ, đời hiện tại và đời tương lai.
Ghi lời hẹn ước ba sinh
Theo nhau trong trọn nghĩa tình phu thê
hay
Chim quyên hút mật bông quỳ
Ba sanh còn đợi, huống gì ba năm
hay
Chẳng qua duyên nợ ba sinh
Mơ màng ngó xuống cõi trần làm chi
Hành động bán mình chuộc cha của Kiều, được Tam Hợp Đạo Cô trong tiên tri về tương lai của Kiều mô tả là “hại một người cứu muôn người”, tạm hiểu là Kiều đã chủ động hại mình, chủ động hy sinh chính mình để cứu cha. Hành động cứu cha của Kiều là khởi đầu của việc cứu thế cả gia đình dòng họ, mà sau đoạn trường sẽ được Kim Vân Kiều cùng nhau phát triển để tồn tại nghìn năm dằng dặc và lần lượt có những nhân tài giữ các vị trí trọng trách của xã hội.
Xét trong tội nghiệp Thuý Kiều,
Mắc điều tình ái, khỏi điều tà dâm.
Lấy tình thâm, trả nghĩa thâm,
Bán mình đã động hiếu tâm đến trời.
Hại một người, cứu muôn người,
Biết đường khinh trọng, biết lời phải chăng.
Thửa công đức ấy ai bằng,
Túc khiên đã rửa lâng lâng sạch rồi.
Khi nên, trời cũng chiều người,
Nhẹ nhàng nợ trước, đền bồi duyên sau.
KINH KIỀU & ĐẠO BA KIM VÂN KIỀU
Cây dòng họ của Kiều phải quan trọng đến mức nào để sự hy sinh của Kiều để cứu cây dòng họ cũng là “cứu muôn người” ?
Hãy xem xét một cây dòng họ cũng quan trọng đến như thế được nói đến trong kinh Cựu ước của Ki-tô giáo lẫn các kinh của Do thái giáo và Hồi giáo – Cây dòng họ của Abraham. Abraham đã quyết định hy sinh con trai Isaac của mình để hiến tế cho Thiên Chúa, nhưng sau đó Abraham được Thiên Chúa ngăn lại vì Thiên chúa chỉ muốn thử thách về đức tin của Abraham mà thôi. Abraham trải qua nhiều thử thách trên con đường phụng sự Thiên Chúa, nhưng đây là một trong các thử thách lớn nhất của ông. Từ dòng máu của Abraham đã sinh ra tộc người Do Thái và tộc người Ả râp, trong đó Isaac là tổ phụ của người Do Thái, dân tộc giữ truyền thờ Chúa. Cả người Do Thái và người Ả rập mà cùng thờ Thiên Chúa theo truyền thống của Abraham. Ngoài ra còn phải kể đến Kitô giáo và một loạt tôn giáo thờ Chúa trời theo truyền thống của Abraham, mà nguồn gốc của những tôn giáo và dân tộc này phải tính từ Noah, tổ 10 đời của Abraham. Sự hy sinh của Abraham có thể gọi là hại một người để cứu muôn người, thuộc nhiều dân tộc, như sự hy sinh của Kiều trong đoạn trường.
Tuy truyện Kiều không nói rõ nguyên nhân và cách thức để Kiều “cứu muôn người”, như là trong Kinh thánh nói rõ về sự hy sinh và dòng truyền thừa về sắc tộc và đức tin của Abraham, nhưng có thể hiểu rằng vị trí mà Kiều nắm giữ trong nhóm sắc tộc và tín ngưỡng văn hoá Hoa Việt cũng phải trọng yếu như vị trí mà Abraham nắm giữ trong nhóm sắc tộc và tín ngưỡng văn hoá Trung Đông và phương Tây.
Cuộc đời của Abraham được mô tả trong Kinh thành còn cuộc đời của Kiều được mô tả trong truyện Kiều, mà bản chất là kinh của một tín ngưỡng dân gian mà người Việt gọi là đạo Ba.
Làm người giữ trọn đạo ba
Sau dầu có thác cũng là thơm danh
Đạo Ba, còn gọi là đạo Ba sinh Ba tử, hay đạo cùng sinh tử, cùng phát triển với nhau của Ba người thuộc về một bộ linh hồn sinh đôi hay linh hồn âm đương gốc. Đạo Ba là đạo của ông bà đầu nhau, đạo về tình nghĩa duyên nghiệp vợ chồng xuyên đời, mà Kim Vân Kiều chính là đại diện.
Cùng nhau cho trọn đạo ba
Thà là lìa thác, chẳng thà lìa sinh
Bộ ba Kim Vân Kiều là đạo ba của 2 bà 1 ông, còn bộ ba ông Công ông Táo là đạo ba của 2 ông 1 bà. Đây là các nhóm ba người giữ bộ năng lượng gốc của các giống loài, trong đó có năng lược gốc của dân tộc. Trong từng giống loài, từng dân tộc, lại có các bộ ba giữ năng lượng gốc của các nhánh dòng họ và chi họ.
Trong dân gian đạo Ba được thể hiện qua các sự tích và các lễ Tết sau
– Ngưu Lang Chức Nữ gặp nhau vào ngày Thất Tịch
– Hậu Nghệ bắn chín mặt trời cứu Hằng Nga, liên quan đến Trung thu
– Lễ cúng ông bà đầu nhau vào ngày 23 tháng Chạp
– Sự tích thần bếp : Thế gian một vợ một chồng, chẳng như vua bếp hai ông một bà
– Trầu cau : Anh em Tân Lang và vợ của người anh, sau hoá thành cây cau, tảng đá vôi và cây trầu
– Tấm Cám : Tấm Cám & hoàng tử, liên quan đến bộ năng lượng gốc của cây lúa trong đó hoàng tử là vỏ trấu
– Chử Đồng Tử, Tiên Dung và người vợ thứ hai
VƯỜN XUÂN MỘT CỬA CỦA CHÚA CHA & MẪU MẸ
“Vườn xuân một cửa” là trạng thái của những gia đình của các bậc Thánh nhân có truyền thừa gốc của Chúa Cha và Mẫu Mẹ, và chỉ có những gia đình như thế thì mới “để bia muôn đời” được. Sự phong lưu phú quý của các gia đình không chỉ về quan lộc, tiền bạc, tài sản, địa vị, mà còn về năng lực tinh thần, về nghệ thuật cầm kỳ thi hoạ, xuyên qua nhiều thế hệ, bởi vì sự phong lưu ấy nằm sẵn trong gốc dòng máu của Chúa Cha và Mẫu Mẹ.
Hãy lấy ví dụ về “Vườn xuân một cửa” của dòng Chúa Cha, mà được nói đến trong kinh Cựu ước của Ki-tô giáo lẫn các kinh của Do thái giáo và Hồi giáo – Cây dòng họ của Abraham. Abraham là hậu duệ 10 đời của Noah, người đã cứu truyền thừa của nhân loại qua đại hồng thuỷ theo hướng dẫn của Thiên Chúa. Noah là hậu duệ 10 đời của Adam và Eva. Từ dòng máu của Abraham đã sinh ra tộc người Do Thái và tộc người Ả rập, mà cùng thờ Thiên Chúa theo truyền thống của Abraham. Ngoài ra còn phải kể đến Kitô giáo và một loạt tôn giáo thờ Chúa trời theo truyền thống của Abraham, mà nguồn gốc của những tôn giáo và dân tộc này phải tính từ ba người con của Noah, tổ phụ 10 đời của Abraham. Isaac con trai thứ của Abraham là tổ phụ của người Do Thái, dân tộc giữ truyền thờ Chúa Cha từ Adam, Noah, Abraham. Dân tộc Do Thái sau 40 thế hệ sinh ra Jesus, Chúa Con hiện thân của Chúa Cha. Trong dòng truyền thừa này có Mose, David và Salomon. Vườn địa đàng của Adam và Eva chính là “vườn xuân” và một cửa là trạng thái giữ truyền thừa dòng Chúa Cha của dân tộc Do Thái khởi nguồn từ Abraham và Isaac.
Trong “Vườn xuân một cửa” của nhà Kim Vân Kiều, Kim Trọng giữ truyền thừa dòng thánh Chúa Cha, Kiều giữ truyền thừa dòng Mẫu Mẹ, kết hợp tạo nên “một cây cù mộc”, còn Vân giữ thừa gia dòng thánh nữ (thừa gia chẳng hết nàng Vân), kết nối giữa “một cây cù mộc” và “một sân quế hoè”.
Theo truyền thống dân gian. bộ ba Kim Vân Kiều tạo nên đạo Ba, trong đó Kim Trọng và đóng vai trò Tổ Phụ, Thuý Kiều và Thuý Vân giữ vai trò lưỡng nghi Tổ Mẫu, như bộ ông bà đầu nhau.
Thuý Vân đóng vai trò Thánh nữ kết nối thừa gia kết nối giữa bộ ông thày bà mụ và bà cô ông mãnh sang con cháu, trong đó
– Ông mãnh đi đường Từ Hải
– Bà cô đi đường Giác Duyên
– Ông thày đi đường Viên Quan
– Bà mụ đi đường Đạm Tiên
Trong đạo Mẫu, Kiều giữ truyền thừa của thánh Mẫu Liễu Hạnh, đối xứng với Đức Thánh Trần và vua cha Bát Hải Động Đình, cùng giỗ vào tháng Tám, như câu ca dân gian “tháng Tám giỗ Cha, tháng Ba giỗ Mẹ”
Thuý Kiều đi đường thánh nữ là mẫu Thoải, mẫu Đệ Tam cùng Thúy Vân (mẫu Thượng Thiên đỡ dòng Cha trời Kim Trọng) – Giác Duyên (mẫu Thượng ngàn đỡ cả Kim Trọng và Từ Hải) – tạo nên bộ Tam toà thánh mẫu. Đạm Tiên cùng Kiều giữ bộ Mẫu Địa và Mẫu Quảng cung, trong dòng Tứ Phủ đối xứng Tam Toà.
“Vườn xuân một cửa” của nhà Kim Vân Kiều liên quan đến dòng máu gốc của Mẫu Mẹ, đến từ sông Tiền Đường, nơi Kiều trẫm mình theo lời hẹn với Đạm Tiên và hồ Động Đình cũng cùng mạch với Tiền Đường.
Gió Động Đình mẹ ru con ngủ
Trăng Tiền Đường ấp ủ năm canh
Tiết trời thu lạnh lành lanh
Cỏ cây khóc hạ, hoa cành thương đông
Bống bồng bông, bống bồng bông
Võng đào mẹ bế con rồng cháu tiên
Chia sẻ:
Scroll to Top