TAM TÒNG TRONG TRUYỆN KIỀU

Loading

Trong đoạn trường, từ lúc bán mình chuộc cha đến lúc bị lừa bởi Hồ Tôn Hiến, Kiều đã đi trọn một vòng Tam Tòng, và trở lại trạng thái này khi kết thúc Đoạn trường nhưng với tâm thế mới

  • Tại gia tòng phụ : Bán mình chuộc cha
  • Xuất giá tòng phu :
  • Phu tử tòng tử : Từ Hải chết, nhảy xuống sông Tiền Đường

TẠI GIA TÒNG PHỤ

Sư kiện Kiều bán mình chuộc cha là sự kiện tiêu biểu của “Tại gia tòng phụ”.

Sao cho cốt nhục vẹn tuyền?
Trong khi ngộ biến tòng quyền biết sao?
Duyên hội ngộ, đức cù lao,
Bên tình, bên hiếu, bên nào nặng hơn?
Để lời thệ hải minh sơn,
Làm con, trước phải đền ơn sinh thành.

Lúc xảy ra biến với gia đình, Kiều đã làm lễ xe tơ kết tóc với Kim Trọng, nhưng khi cân nhắc “bên tình, bên hiếu, bên nào nặng hơn”, Kiều đã xác định “làm con, trước phải đền ơn sinh thành”.

Đau lòng tử biệt, sinh ly!
Thân còn chẳng tiếc, tiếc gì đến duyên!

Quyết tâm này được Kiều nhắc lại lần nữa rằng “thân còn chẳng tiếc, tiếc gì đến duyên!”.

Hạt mưa sá nghĩ phận hèn,
Liệu đem tấc cỏ quyết đền ba xuân.

Sau khi bị Mã Giám Sinh hại, Kiều toan quyên sinh nhưng nghĩ đến việc của cha mẹ chưa xong, sợ làm liên luỵ đến cha mẹ, nên thôi

Tiếc thay một đoá trà mi,
Con ong đã mở đường đi, lối về.
Một cơn mưa gió nặng nề,
Thương gì đến ngọc, tiếc gì đến hương.
Đêm xuân một giấc mơ màng,
Đuốc hoa để đó, mặc nàng nằm trơ.
Giọt riêng tầm tã tuôn mưa,
Phần căm nỗi khách, phần nhơ nỗi mình:
“Tuồng chi là giống hôi tanh,
Thân nghìn vàng để ô danh má hồng!
Thôi còn chi nữa mà mong,
Đời người thôi thế là xong một đời!”
Giận duyên, tủi phận, bời bời,
Cầm dao, nàng đã toan bài quyên sinh.
Nghĩ đi nghĩ lại một mình:
“Một mình thì chớ, hai tình thì sao?
Sau dầu sinh sự thế nào,
Truy nguyên, chẳng kẻo luỵ vào song thân.

XUẤT GIA TÒNG PHỤ

Từ khi rời nhà theo Mã Giám Sinh, thì Kiều lần lượt rơi vào cảnh “xuất gia tòng phụ”, với những người đàn ông chính được nêu trong truyện Kiều là Mã Giám Sinh, Sở Khanh, Thúc Sinh, Từ Hải.

Mã Giám Sinh là “người chồng” đầu tiên của Kiều

Miếng ngon kề đến tận nơi,
Vốn nhà cũng tiếc, của trời cũng tham.
Đào tiên đã bén tay phàm,
Thì vin cành quít cho cam sự đời.
Dưới trần mấy mặt làng chơi,
Chơi hoa, đã dễ mấy người biết hoa!
Nước vỏ lựu, máu mào gà,
Mượn màu chiêu tập lại là còn nguyên.
Mập mờ đánh lận con đen,
Bao nhiêu cũng bấy nhiêu tiền, mất chi?
Mụ già hoặc có điều gì,
Liều công mất một buổi quỳ mà thôi.
Vả đây đường sá xa xôi,
Mà ta bất động, nữa người sinh nghi.”
Tiếc thay một đoá trà mi,
Con ong đã mở đường đi, lối về.
Một cơn mưa gió nặng nề,
Thương gì đến ngọc, tiếc gì đến hương.
Đêm xuân một giấc mơ màng,
Đuốc hoa để đó, mặc nàng nằm trơ.

Sở Khanh không hẳn là chồng Kiều theo nghĩa đen của từ này, nhưng là người đàn ông mà Kiều đã dựa vào để chay trốn khỏi lầu xanh của Tú Bà.

Nghĩ người thôi, lại nghĩ mình,
Cám lòng chua xót, lạt tình chơ vơ.
Những là lần lữa nắng mưa,
Kiếp phong trần biết bao giờ là thôi?
Đánh liều nhắn một hai lời,
Nhờ tay tế độ vớt người trầm luân.
Mảnh tiên kể hết xa gần,
Nỗi nhà báo đáp, nỗi thân lạc loài.
Tan sương vừa rạng ngày mai,
Tiện hồng nàng mới nhắn lời gửi sang.
Trời tây lãng đãng bóng vàng,
Phúc thư đã thấy tin chàng đến nơi.
Mở xem một bức tiên mai,
Rành rành “tích việt” có hai chữ đề.
Lấy trong ý tứ mà suy:
“Ngày hai mươi mốt, Tuất thì phải chăng?”

Sau khi bị Tú Bà bắt lại sau khi Sở Khanh đã “quất ngựa truy phong”, Kiều phải nghe theo Tú Bà để tiếp khác, lúc này Tú Bà lại đóng vai “phu”, là người ra lệnh và kiểm soát Kiều.

Vừa tuần nguyệt sáng, gương trong,
Tú Bà ghé lại thong dong dặn dò:
“Nghề chơi cũng lắm công phu,
Làng chơi ta phải biết cho đủ điều.”
Nàng rằng: “Mưa gió dập dìu,
Liều thân, thì cũng phải liều thế thôi!”
Mụ rằng: “Ai cũng như ai,
Người ta ai mất tiền hoài đến đây?
Ở trong còn lắm điều hay,
Nỗi đêm khép mở, nỗi ngày riêng chung.
Này con thuộc lấy tấm lòng:
Vành ngoài bảy chữ, vành trong tám nghề.
Chơi cho liễu chán, hoa chê,
Cho lăn lóc đá, cho mê mẩn đời.
Khi khoé hạnh, khi nét ngài,
Khi ngâm ngợi nguyệt, khi cười cợt hoa.
Đều là nghề nghiệp trong nhà,
Đủ ngần ấy nét, mới là người soi.“
Gót đầu vâng dạy mấy lời,
Dường chau nét nguyệt, dường phai vẻ hồng.
Những nghe nói, đã thẹn thùng,
Nước đời lắm nỗi lạ lùng khắt khe!
Xót mình cửa các, buồng khuê,
Vỡ lòng, học lấy những nghề nghiệp hay!
Khéo là mặt dạn, mày dày,
Kiếp người đã đến thế này thì thôi!

Thúc Sinh là người mà Kiều đã nương theo để ra khỏi lầu xanh Tú Bà

Dưới trăng quyên đã gọi hè,
Đầu tường lửa lựu lập loè đâm bông.
Buồng the phải buổi thong dong,
Thang lan, rủ bức trướng hồng tẩm hoa.
Rõ màu trong ngọc, trắng ngà,
Dày dày sẵn đúc một toà thiên nhiên.
Sinh càng tỏ nết, càng khen,
Ngụ tình, tay thảo một thiên luật Đường.
Nàng rằng: “Vâng biết lòng chàng,
Lời lời châu ngọc, hàng hàng gấm thêu.
Hay hèn lẽ cũng nối điêu,
Nỗi quê nghĩ một hai điều ngang ngang.
Lòng còn gửi áng mây vàng,
Hoạ vần, xin hãy chịu chàng hôm nay.”
Rằng: “Sao nói lạ lùng thay!
Cành kia chẳng phải cỗi này mà ra?”
Nàng càng ủ dột thu ba,
Đoạn trường lúc ấy giở mà buồn tênh:
“Thiếp như hoa đã lìa cành,
Chàng như con bướm lượn vành mà chơi.
Chúa xuân đành đã có nơi,
Ngắn ngày, thôi chớ dài lời làm chi!”
Sinh rằng: “Từ thuở tương tri,
Tấm riêng, riêng những nặng vì nước non.
Trăm năm, tính cuộc vuông tròn,
Phải dò cho đến ngọn nguồn lạch sông.”
Nàng rằng: “Muôn đội ơn lòng,
Chút e bên thú, bên tòng dễ đâu.

Tuy nhiên, Thúc Sinh lại không phải là người đàn ông Kiều có thể nương theo, vì bản Thúc Sinh lại phải nương theo Hoạn Thư, cho nên Kiều đã chạy trốn khỏi nhà Hoạn Thư

Nàng càng e lệ ủ ê,
Rỉ tai, hỏi lại Hoa tì trước sau.
Hoa rằng: “Bà đến đã lâu,
Dón chừng đứng núp độ đâu nửa giờ.
Rành rành kẽ tóc chân tơ,
Mấy lời nghe hết, đã dư tỏ tường.
Bao nhiêu đoạn khổ, tình thương,
Nỗi ông vật vã, nỗi nàng thở than.
Dặn tôi đứng lại một bên,
Chán tai rồi mới bước lên trên lầu.”
Nghe thôi kinh hãi xiết đâu:
“Đàn bà thế ấy, thấy âu một người!
Ấy mới gan, ấy mới tài!
Nghĩ càng thêm nỗi sởn gai rụng rời!
Người đâu sâu sắc nước đời,
Mà chàng Thúc phải ra người bó tay!
Thực tang, bắt được dường này,
Máu ghen, ai cũng chau mày nghiến răng.
Thế mà im chẳng đãi đằng,
Chào mời vui vẻ, nói năng dịu dàng!
Giận dầu ra dạ thế thường,
Cười dầu mới thực khôn lường hiểm sâu.
Thân ta, ta phải lo âu,
Miệng hùm, nọc rắn, ở đâu chốn này!
Ví chăng chắp cánh cao bay,
Trèo cây lâu cũng có ngày bẻ hoa.
Phận bèo bao quản nước sa,
Lênh đênh đâu nữa cũng là lênh đênh.
Chỉn e quê khách một mình,
Tay không chưa dễ tìm vành ấm no!”
Nghĩ đi, nghĩ lại quanh co,
Phật tiền, sẵn có mọi đồ kim ngân.
Bên mình giắt để hộ thân,
Lần nghe canh đã một phần trống ba.
Cất mình qua ngọn tường hoa,
Lần đường theo bóng trăng tà về tây.
Mịt mù dặm cát đồi cây,
Tiếng gà điếm nguyệt, dấu giày cầu sương.
Canh khuya thân gái dặm trường,
Phần e đường sá, phần thương dãi dầu!
Trời đông vừa rạng ngàn dâu,
Bơ vơ nào đã biết đâu là nhà.

Từ Hải người duy nhất mà Kiều có nương tựa đúng theo “Xuất giá tòng phu”

Lần thâu gió mát trăng thanh,
Bỗng đâu có khách biên đình sang chơi.
Râu hầm, hàm én, mày ngài,
Vai năm tấc rộng, thân mười thước cao.
Đường đường một đấng anh hào,
Côn quyền hơn sức, lược thao gồm tài.
Đội trời, đạp đất ở đời,
Họ Từ tên Hải, vốn người Việt Đông.
Giang hồ quen thú vẫy vùng,
Gươm đàn nửa gánh, non sông một chèo.
=Qua chơi thấy tiếng nàng Kiều,
Tấm lòng nhi nữ cũng xiêu anh hùng.
Thiếp danh đưa đến lầu hồng,
Hai bên cùng liếc, hai lòng cùng ưa.
Từ rằng: “Tâm phúc tương cờ,
Phải người trăng gió, vật vờ hay sao?
Bấy lâu nghe tiếng má đào,
Mắt xanh chẳng để ai vào, có không?
Một đời được mấy anh hùng,
Bõ chi cá chậu, chim lồng mà chơi?”
Nàng rằng: “Người dạy quá lời,
Thân này còn dám xem ai làm thường!
Chút riêng chọn đá, thử vàng,
Biết đâu mà gửi can tràng vào đâu?
Còn như vào trước, ra sau,
Ai cho kén chọn vàng thau tại mình?”
Từ rằng: “Lời nói hữu tình!
Khiến người lại nhớ câu Bình Nguyên Quân.
Lại đây xem lại cho gần,
Phỏng tin được một vài phần hay không?”
Thưa rằng: “Lượng cả bao dung,
Tấn Dương được thấy mây rồng có phen.
Rộng thương cỏ nội, hoa hèn,
Chút thân bèo bọt, dám phiền mai sau.

PHU TỬ TÒNG TỬ

Hồ Tôn Hiến là trường hợp khá đặc biệt, mà Kiều đã nương theo khi bên cạnh đã có Từ Hải. Vậy trường hợp này có phải Kiều đã sai về Tam Tòng không ?

Nàng thì thật dạ tin người,
Lễ nhiều, nói ngọt, nghe lời dễ xiêu.
Nghĩ mình mặt nước, cánh bèo,
Đã nhiều lưu lạc, lại nhiều gian truân.
Bằng nay chịu tiếng vương thần,
Thênh thênh đường cái thanh vân hẹp gì.
Công, tư, vẹn cả hai bề,
Dần  rồi sẽ liệu về cố hương.
Cũng ngôi mệnh phụ đường đường,
Nở nang mày mặt, rỡ ràng mẹ cha.
Trên vì nước, dưới vì nhà,
Một là đắc hiếu, hai là đắc trung.
Chẳng hơn chiếc bách giữa dòng,
E dè sóng gió, hãi hùng cỏ hoa.
Nhân khi bàn bạc gần xa,
Thừa cơ, nàng mới bàn ra, nói vào.
Rằng: “Ơn thánh đế dồi dào,
Tưới ra đã khắp, thấm vào đã sâu.
Bình thành công đức bấy lâu,
Ai ai cũng đội trên đầu biết bao.
Ngẫm từ dấy việc binh đao,
Đống xương Vô Định đã cao bằng đầu.
Làm chi để tiếng về sau,
Nghìn năm ai  khen đâu Hoàng Sào.
Sao bằng lộc trọng, quyền cao,
Công danh ai dứt lối nào cho qua?”

Có thể khi Kiều nghe lời Hồ Tôn Hiến, thuyết phục Từ Hải quy hàng, thì Kiều đã tự đặt mình vào cảnh “Phu tử tòng tử”, vì khi Hồ Tôn Hiến xuất hiện, Kiều không còn sự yên tâm khi “tòng phu” Từ Hải nữa, nhưng vì Kiều chưa có con nên, lại có xu hướng quay về nương tựa cha mẹ. 

Như vậy thời điểm gặp Hồ Tôn Hiến, Tam Tòng của Kiều lại quay lại về trạng thái “Tại gia tòng phụ”

TẠI GIA TÒNG PHỤ

Chia sẻ:
Scroll to Top