![]()
Rằm tháng sáu là ngày Đức Phật chuyển pháp luân. Sau khi đắc đạo, vào ngày đó Đức Phật đã giảng pháp cho năm anh em Kiều Trần Như. Năm người này trước đó đã biết đức Phật khi ngài theo pháp tu khổ hạnh. Sau này Đức Phật đi theo con đường trung đạo, đắc đạo đã tìm gặp năm anh em giảng về Tứ Diệu Đế (khổ, tập, diệt, đạo). Bài giảng đầu tiên này sau được gọi là Kinh chuyển pháp luân, còn năm anh em trở thành tăng đoàn đầu tiên.
Cách đây hơn mười hai năm tôi tham gia khóa thiền Vipassana mười ngày. Khi bắt đầu khoá thiền sinh được yêu cầu quy y Phật, Pháp, Tăng. Mặc dù được giảng giải về bản chất của quy y nhưng tôi không sao chấp nhận được việc quy y tăng. Với tôi quy y pháp là đương nhiên vì Pháp là chân lý, quy y Phật cũng là đương nhiên vì Phật chính là chân ngã tối cao, còn Tăng là cái gì và vì sao phải quy y Tăng.
Sau khi kiểm tra tình hình lớp học của học sinh mới, tôi cảm giác tôi không đủ sức trùm nặng lượng lên đỡ lớp nữa, việc này tôi đã biết từ lâu, tình hình khá tệ, sợ rằng học sinh khó mà chịu được các cuộc mâu thuẫn tâm thế tiếp theo. Tôi rất nản, tôi muốn bỏ lớp học này lắm nhưng cảm giác không thể, nhưng làm tiếp thì không biết phải làm gì.
Lúc này tôi nhận ra một người đi trên đường đạo Phật thực sự chính là người thực sự ở trong trường Phật, trường Pháp, và trường Tăng, nói cách khác là họ quy y.
Lớp học của tôi dạy thiền Vipassana nhưng lại thiếu mất trường Tăng. Điều này làm cho các học sinh một khi bị mất nội thế thân và nội thế tâm, nhảy sang ngoại thế, nói cách khác là mắc lỗi sai về pháp, bị vô pháp, sẽ bị văng ra khỏi lớp ngay, vì thiếu sự hỗ trợ của trường Tăng.
Phật vẫn luôn hiện diện ở mọi nơi chốn nhưng không thể đỡ được các trường hợp vô pháp, bởi vì một khi đã vô Pháp thì chắc chắn cũng vô Phật.
Ví dụ Phật sẽ không đỡ cũng chẳng phạt các chùa mê tín di đoan, cùng các sư vô pháp, Phật vẫn luôn là Phật, mà luật nhân quả tự nó sẽ vận hành.
Ví dụ khác là sùng bái, sùng bái chính là vô pháp. Một người sùng bái đức Phật, coi đức Phật là trung tâm, là đỉnh cao của con đường tu của họ sẽ mất nội, mất thân, mất tâm và mất toàn bộ năng lực tự quan sát, là năng lực cơ bản của thiền. Sùng bái nào cũng là sùng bái, đều là tình trạng hướng ngoại sẽ phá nội thế, mà tạo năng lực trụ tâm và năng lực tự quan sát nội tâm của một người. Sùng bái đức Phật mãi nhưng lai không thiền được, đức Phật thì xa vời chả có hiện diện với người sùng bái, nên cuối cùng người sùng bái sẽ hướng sự sùng bái ấy đến nhưng đối tượng khác, mà sẽ lợi dụng triệt để sự sùng bái này. Lúc này luật nhân quả sẽ vận hành.
Nếu tôi không thể xây dựng lại được trường Tăng này, tương đương với việc phải đóng lớp học lại hoặc chỉ có thể tiếp tục dạy theo cách cũ, tiểu thừa. Sau mười hai năm dạy thiền tôi vẫn chưa thề quy y Tăng, tôi thật sự không cam lòng nếu phải quy y Tăng, tôi vẫn muốn đi một mình, hướng về Phật, hướng về Pháp là đủ rồi, tóm lại là tôi không muốn quy y tăng.
Một người đi trên con đường tiểu thừa chỉ cần quy y Phật và quy y pháp. Họ sống theo pháp và hướng thẳng về đức Phật. Họ không cần và không muốn liên quan dính dáng đến bất kỳ tăng đoàn nào cả. Điều này là cực kỳ cần thiết đối với tiểu thừa, mà đòi hỏi nội thế phải cực kỳ vững vàng.
Tinh thần tiểu thừa thể hiện ở cái bi trí dũng của một cá nhân, tự chịu trách nhiệm, tự thề nguyền với chinh mình, tự đi trên con đường đạo, tự giữ lấy Pháp, tự hướng về đức Phật.
“Thiên thượng thiên hạ, duy ngã độc tôn” – câu nói của Đức Phật sau khi sinh ra
“Đời đục một mình ta trong, đời say một mình ta tỉnh” – câu nói của Khuất Nguyên
Cho nên những người đang tự thiền, đang muốn tập trung vào nội thế cá nhân ít nhiều đều không ưa tất cả các tình trạng đám đông, trong đó có tăng đoàn, mà ngoại thế là cực kỳ nặng nề.
Vấn đề trọng tâm của lớp học là làm sao học sinh giữ được nội thế, giữ được sự quan sát được nội tâm của mình ngay cả khi cảm xúc bi kích động mạnh, lý trí và ý chí gào thét. Hình dung trường thiền của học sinh là cái chuông úp, làm thế nào để học sinh ngồi yên trong cái chuông đó để quan sát nội tâm mình thì chừng đó học sinh còn thiền được.
Nguy hiểm nhất với thiền quán thân chính là mất thân. Điều này gần như đương nhiên, hiển nhiên. Vấn đề là người mất thân không có năng lực nhận ra người ấy mất thân, vì những cảm giác chân thật của thân, như tim đập, chân run, hồi hộp lồng ngực… bản năng và trực giác đến từ thân của họ gần như không có, các sự đồng cảm liên quan đến thân cũng gần như rất nông cạn.
Ví dụ, 1 người mất màu cơ bản không thể biết được tình trạng của mình, vì đây là nội thế thân của họ. Giả sử một người thân thiết lâu năm nhận ra bệnh mất màu này của họ thì cũng chỉ hiểu tàm tạm là như thế. Ví dụ 1 người không phân biệt được sắc tím hồng và tím xanh, nếu như 1 người khác phát hiện ra điều này bảo họ, thì họ cũng chả hiểu, vì với họ 2 màu này y chang nhau. Như vậy bất kỳ cái gì rơi vào 2 gam màu này trong con người họ, ở xung quanh họ, trong cả vũ trụ này, tất cả trạng thái cảm xúc giao đông giữ 2 màu đó với họ là vô nghĩa. Muôn vàn vấn đề nghiêm trọng tương tự như mù màu xảy ra với các trạng thái mất thân khác.
Cấp độ nguy hiểm thứ hai của thiền quán thân là ngoại thế thân.
Khi người mất thân bắt người khác giải thích và giải quyết vấn đề cho mình, thì không khác gì bắt người không mù màu phải chứng minh và giải quyết vấn đề mù màu cho người mù màu. Điều vô nghĩa vì thân ai người nấy biết, thân ai người nấy lo, không ai sống thay cho thân ai được. Một người mất thân thì luôn có những kỳ vọng kiểu phi lý như thế về thân thể, họ có những cảm xúc, có những lỹ lẽ và có những ý chí hoàn toàn phi thân thể cho các vấn đề thân thể. Nếu lý trí, xúc cảm và ý chí của họ đủ tinh thế, họ có thể nhân ra có điều gì đó … sai sai trong các kỳ vọng của mình. Cách duy nhất để cứu lấy thân là phải trụ thân, dùng thân, có thêm trải nghiệm sâu sắc về thân.
Ngay khi tình trạng ngoại thế thân xảy ra cho các vấn đề nội thế thân,
Nguy hiểm nhất với
