![]()
CA DAO VỀ NHÀ BÈ
Nhà Bè nổi tiếng nhờ một câu ca dao mà dường như ai cũng đã từng nghe qua, dù có thể chưa từng đặt chân đến Nhà Bè, thậm chí không biết Nhà Bè thực sự ở đâu.
Nhà Bè nước chảy chia hai
Ai về Gia Định, Đồng Nai thì về
Gia Định là đất định bằng biên, định bằng gia, xưa có tên là Phiên Trấn (khác với đất định bằng tâm hay bằng trục). Gia Định thuộc về Đông Nam Bộ, về phía tây nam giáp với Đông Nam Bộ. Đồng Nai – Biên Hoà là vùng Trấn Biên của đất Gia Định về phía Tây Nam. Sông Nhà Bè là biên của Gia Định, nơi có cái cổng để đi từ Biên Hoà – Đồng Nai sang Gia Định và ngược lại.
Cảnh Nhà Bè tấp thuyền ngang dọc được mô tả trong câu ca dao
Nhà Bè nước chảy trong ngần
Buồm nâu buồm trắng chạy gần chạy xa
Thon thon hai mái chèo hoa
Lướt qua lướt lại như là gấm thêu
Người được cho đã đóng bè tre trên dòng sông Xoài Rạp, tạo nên cái tên sông Nhà Bè là Thủ Huồng, cho nên ca dao lại có câu
Ai ơi có đến Nhà Bè
Nhớ ơn nước ngọt, bè tre Thủ Huồng
ĐỊA LÝ “NHÀ BÉ NƯỚC CHẢY CHIA HAI”
Nhà Bè là một ngã ba sông mang đầy màu sắc huyền thoại của Gia Định nói riêng, của Đông Nam Bộ và Tây Nam Bộ, cả miền Nam nói chung, và rộng hơn nữa là ngã tư sông Nam Bộ, Tây Nguyên và Duyên Hải Miền Trung tính từ Đèo Ngang
Nhà Bè là đoạn sông nằm ở ngã ba của
– Sông Xoài Rạp (chảy ra biển về phía Đông về phía nam)
– Sông Lòng Tàu (chảy ra biển về phía Đông về phía bắc)
Thượng nguồn của Nhà Bè là cảng Cát Lái, lại là một ngã ba của
– Sông Sài Gòn : nguồn là núi Bà Đen – hồ Dầu Tiếng
– Sông Đồng Nai : nguồn núi Langbian – thác Pongua – hồ Tà Đùng – hồ Trị An
Như vậy Nhà Bè là giao của bốn sông tạo nên một chữ Vạn
– Sài Gòn (phương dọc)
– Đồng Nai (phương chéo dọc)
– Xoài Rạp (phương ngang)
– Lòng Tàu (phương chéo ngang)
Sông Xoài Rạp trước khi ra biển Đông đi qua ngã ba với sông Vàm Cỏ, đây là ngã ba của
– Đông Nam Bộ (hướng Nhà Bè)
– Tây Nam Bộ (hướng ngã ba Vàm Cỏ Đông, Vàm Cỏ Tây)
Sông Lòng Tàu trước khi đi ra vịnh Gành Rái hội tụ với sáu con sông tạo nên sông Ngã Bảy (Thất Kỳ Giang), nằm ở chân núi Thất Kỳ Sơn
Sông Đồng Nai trước khi lên Tây Nguyên đi qua ngã ba với sông Bé ở Cát Tiên
Sông Sài Gòn trước khi đi lên núi Bà Đen – hồ Dầu Tiếng, qua Củ Chi nằm ở biên Sài Gòn – Tây Ninh
Ai về Gia Định đi theo cả bốn con sông hội tụ ở Nhà Bè
– Đi theo sông Sài Gòn lên Hồ Dầu Tiếng – Núi Bà Đen, mà là biên của Đông Nam Bộ (Gia Định – Tây Ninh) và Tây Nam Bộ (Đồng Tháp – Tây Ninh)
– Đi theo sông Đồng Nai lên Hồ Thác Mơ – Núi Bà Rá (qua ngã ba Cát Tiên với sông Bé), mà là biên của Đông Nam Bộ (Gia Đinh – Tây Ninh) và Tây Nguyên
– Đi theo sông Xoài Rạp ra qua ngã ba với sông Vàm Cỏ – Vàm Cỏ Đông – Vàm Cỏ Tây, nơi có Miếu ông Bần Quỳ (Xà Hương), mà là biên của Đông Nam Bộ và Tây Nam Bộ, rồi đi tiếp lên Bến Lức, Long An (sông Vàm Cỏ Đông) sẽ là biên của Gia Định và Tây Nam Bộ
– Đi theo sông Lòng Tàu ra vịnh Gành Rái, mà là biên của duyên hải miền Trung với Đông Nam Bộ
Ai về Gia Định sẽ về được cả Nam Bộ vì sông Xoài Rạp nối với Vàm Cỏ có hai nhánh
– Vàm Cỏ Tây nối sang Tây Nam Bộ (sông Mê Kông)
– Vàm Cỏ Đông nối sang Đông Nam Bộ (sông Sài Gòn)
Ai về Đồng Nai, cũng xuất phát từ Nhà Bè
– Đi theo sông Đồng Nai lên Cát Tiên theo sông Bé, là biên Tây Nguyên và Đông Nam Bộ
– Đi theo sông Đồng Nai lên Cát Tiên lên Tây Nguyên (Đồng Nai Thượng) là biên của Tây Nguyên và Duyên Hải Miền Trung
– Đi theo sông Lòng Tàu về vịnh Gành Rái (Đồng Nai Hạ), là biên Duyên hải miền Trung và Đông Nam Bộ
AI về Đồng Nai sẽ về được cả Tây Nguyên và duyên hải Miền Trung theo sông Đồng Nai mà chia đôi
– Tây Nguyên
– Chiêm Thành (duyên hải Miền Trung)
Khoá chữ Vạn của Tây Nguyên nằm ở Ayun Hạ (nơi có sự tích vua Nước vua Lửa vua Gió và các tháp Chăm trên Tây Nguyên)
– Sông Đồng Nai
– Trường Sơn của Tây Nguyên là khối Langbian – Bidoup – Núi Bà – Lâm Viên (đầu nguồn sông Đa Nhim – Đồng Nai) và khối Ngọc Linh – Kon Ka Kinh
– Sông Ba
– Đèo Chư Sê, An Khê, Măng Giang chạy giữa khối Kon Chư Răng và khối Chư Yang Sin
Nằm phía Tây Bắc của Tây Nguyên là Biển Hồ và lòng chảo Măng Đen còn nằm phía Đông Nam của Tây Nguyên là Hồ Lak và Đà Lạt
Ranh giới cắt ngang nam bắc của cả Tây Nguyên và Chămpa cũng cắt ngang Lào, Thái Lan và Myanmar, chính là biên của Chân Lạp Thuỷ và Chân Lạp Thổ.
SỰ TÍCH ÔNG THỦ HUỒN
Một số tài liệu xưa ghi chép, Thủ Huồng tên thật là Võ Thủ Hoằng (có tài liệu ghi là Võ Hữu Hoằng), bị đọc trại từ “Hoằng” thành “Huồng” hay “Huồn”. Ông sống khoảng nửa cuối thế kỷ 18 đến đầu thế kỷ 19, đầu đời Nguyễn, trên vùng đất Biên Hòa – Đồng Nai xưa. Có tài liệu ghi ông là người châu Đại Phố tức Cù lao Phố. Truyền rằng, Thủ Huồng làm chức thư lại, có tài liệu ghi là Thủ Huồng đứng đầu một đồn trạm canh gác kiểm soát đường sông hoặc trại kiểm soát trên bộ. Chức vụ này có thể là coi việc bảo an cho khu vực hay lo việc thu thuế. Nhờ có chức vụ lại biết mánh khóe, Thủ Huồng kiếm được nhiều tiền, còn cho vay nặng lãi, chiếm đoạt khá nhiều ruộng đất, trở nên giàu có.
Một nguồn khác lại nói rằng, ngày xưa ở Gia-định có một người tên là Thủ Huồn. Hắn xuất thân làm thơ lại. Trong hơn hai mươi năm luồn lọt trong các nha các ti, hắn đã làm cho bao nhiêu gia đình tan nát, bao nhiêu người bị oan uổng; do đó hắn đã vơ vét được bao nhiêu là tiền của.
Ngoài số chôn cất, hắn đem tiền tậu ruộng làm nhà. Ruộng của hắn cò bay thẳng cánh, mỗi mùa thu hoạch kể hàng ngàn “giạ” lúa.
Của nải đầy nhà nhưng hai vợ chồng Thủ Huồng lại không có con, vợ lại còn mất sớm. Thủ Huồng sau khi làm ma chay cho vợ linh đình đã từ quan về sống đời giàu sang. Rỗi nhàn, có nhiều tiền bạc nhưng chỉ có một thân một mình, Thủ Huồng đi chơi đó đây tứ xứ cho biết, vừa là cho vơi nỗi nhớ vợ.
Một hôm, có người mách cho Thủ Huồn biết chợ Mạnh-ma ở Quảng-yên là chỗ người sống và người chết có thể gặp nhau. Muốn gặp người chết, người sống phải chờ đến mồng một tháng Sáu, mang một món hàng vào chợ hồi nửa đêm mà đi tìm. Thủ Huồn là người rất yêu vợ. Tuy vợ chết đã ngoài mười năm nhưng hắn vẫn không lúc nào quên. Hắn bèn giao nhà lại cho người bà con rồi làm một chuyến du lịch ra Bắc, mong gặp lại mặt vợ cho thỏa lòng thương nhớ bấy lâu.
Khi gặp vợ, Thủ Huồn không dám hỏi vì thấy vợ ăn mặc rất đài các. Sau cùng người đàn bà ấy cũng nhận ra được. Thủ Huồn mừng quá vội dắt vợ ra một chỗ kể cho vợ nghe cảnh sống của mình từ lúc âm dương cách biệt. Rồi hắn hỏi vợ:
– Mình lâu nay làm gì?
– Tôi làm vú nuôi trong cung vua. Cuộc đời của tôi không có gì đáng phàn nàn. Tôi có một gian nhà riêng trong hoàng cung, cái ăn cái mặc được chu cấp đầy đủ.
Hắn nói:
– Tôi nhớ mình quá. Tôi muốn theo mình xuống dưới ấy ít lâu có được không?
– Đi được. Nhưng chỉ trong vài ngày là cùng, nếu quá hạn sẽ nguy hiểm.
Thủ Huồn và vợ cùng đi. Qua mấy dặm đường tối mịt, chả mấy chốc đã đến cõi âm. Hắn rùng mình khi lọt qua bao nhiêu cổng trước lúc vào thành nội, qua những tên quỷ gác cổng có những bộ mặt gớm ghiếc. Nhờ có vợ nên chỗ nào cũng vào được trót lọt. Đến một gian nhà thấp, vợ bảo chồng:
– Đây là nhà bếp, đằng kia là nhà ngục, trước mặt là cung hoàng hậu, chỗ tôi túc trực hàng ngày. Qua khỏi đấy là cung vua. Cứ ẩn tạm trong buồng vắng này vì không thể lên buồng tôi trên kia được. Tôi sẽ kiếm cách cho chàng đi xem một vài chỗ, nhưng rồi phải về ngay.
Chiều hôm đó người vợ về trao cho Thủ Huồn một mảnh giấy phép và nói:
– Chỉ có cung vua và cung hoàng hậu thì đừng có vào còn mọi nơi khác chàng cứ đi xem cho thỏa thích.
Hắn lượn mấy vòng xung quanh nhà bếp rồi tiện chân đến nhà ngục. Chưa lọt khỏi cổng mà những tiếng kêu khóc, tiếng la hét ở phía trong làm cho hắn bồn chồn. Qua mấy phòng chuyên mổ bụng, móc mắt, cắt tay, v.v… hắn thấy đây quả là nơi hành hạ tội nhân kinh khủng, đúng như lời đồn ở trên trần thế.
Sau cái bàn xẻo thịt là cả một kho gông. Trong đó có một cái gông đặc biệt: nó vừa to vừa dài, làm bằng những thanh gỗ nặng như sắt. Thủ Huồn lân la hỏi người cai ngục:
– Thứ gông này để làm gì?
– Để chờ một thằng ác nghiệt ở trần xuống đây. Bao nhiêu những cái gông trong này đều đã có chủ cả. Cứ xem gông to hay nhỏ thì biết tội ác của nó.
Thủ Huồn lại hỏi:
– Thế cái thằng sẽ đeo cái gông vừa to vừa dài đó là ai?
Lão cai ngục thủng thỉnh giở một cuốn sách vừa to vừa dày chỉ vào một hàng chữ, đọc: “Hắn là Võ Thủ Hoằng tức là Thủ Huồn”. Rồi nói tiếp:
– Thằng cha đó ở Đại-nam quốc, Gia-định tỉnh, Phúc-chính huyện…
Nghe nói thế, Thủ Huồn giật mình mặt xám ngắt. Nhưng hắn vẫn giữ được vẻ bình tĩnh. Hắn hỏi thêm:
– Thế nào? Hắn có tội gì?
Lão cai ngục mắt vẫn không rời quyển sách.
– Khi làm thơ lại hắn bẻ mặt ra trái làm bao nhiêu việc oan khốc đến nỗi tội ác của hắn đen kín cả mấy trang giấy đây. Này nghe tôi đọc này: năm Ất sửu hắn sửa hai chữ “ngộ sát” thành “cố sát” làm cho hai mẹ con thị Nhân bị chết để cho người anh họ chiếm đoạt gia tài. Việc này Thủ Huồn được mười nén vàng và mười nén bạc, một trăm quan tiền. Cũng năm đó, hắn làm cho ông Ngô Lai ở thôn Bình-ca bị hai mươi năm tội đồ chỉ vì trong nhà có cái áo vải vàng, để đoạt không của ông ta mười hai mẫu ruộng. Năm…
Thủ Huồn tái mặt, không ngờ mỗi một cái cất tay động chân của mình trên kia, dưới này đều rõ mồn một. Hắn ngắt lời đánh trống lảng.
– Thế vợ hắn có cùng đeo gông không hở ông?
– Ồ! Ai làm người ấy chịu chứ! Vợ hắn nghe đâu là người tốt đã xuống đây rồi.
Thủ Huồn lại hỏi gặng:
– Ví thử hắn muốn hối cải thì phải làm thế nào?
Lão cai ngục hạ sách xuống bàn, đáp:
– Đã vay thì phải trả! Nếu hắn muốn thì phải đem những thứ của cải cướp giật được đó bố thí và cúng lễ cho hết đi.
Từ biệt lão cai ngục và những hình cụ khủng khiếp, Thủ Huồn không còn bụng dạ nào để đi xem nơi khác nữa. Vợ thấy chồng đòi về, lại đưa chồng ra khỏi hoàng cung của Diêm vương và ra khỏi mấy dặm đường tối tăm mù mịt. Lúc sắp chia tay hắn bảo vợ:
– Tôi về trang trải công nợ có lẽ ba năm nữa tôi lại xuống. Mình nhớ lên chợ đón nghe!
Về tới Gia-định. Thủ Huồn mạnh tay bố thí. Hắn tập hợp những người nghèo khó trong vùng lại, phát cho họ tiền, lúa. Hắn đem ruộng đất của mình cúng cho làng, cho chùa, chia cho họ hàng thôn xóm. Hắn mời hầu hết sư, sãi các chùa gần vùng tới nhà mình cúng đơm, tốn kém kể tiền vạn. Người ta lấy làm lạ không hiểu tại sao một tay riết róng như hắn bây giờ trở nên hào phóng một cách lạ thường. Ai xin gì được nấy. Có những người trước chửi hắn bây giờ lại đâm ra thương hại hắn. Nhiều người bảo nhau: – “Thứ của vô nhân bất nghĩa ấy không trước thì sau thể nào cũng đội nón ra đi mà thôi!” hay là: – “Có lẽ hắn không con, biết để của cũng chả làm gì nên tự làm cho vợi bớt”. Thủ Huồn có nghe rất nhiều lời đàm tiếu về mình, nhưng hắn chẳng nói gì sất, cứ việc quẳng của không tiếc tay.
Cứ như thế sau ba năm, Thủ Huồn tính ra đã phá tán được ba phần tư cơ nghiệp. Nhớ lại lời hẹn, hắn lại khăn gói ra Bắc tìm đến chợ Mạnh-ma. Ở đây, hắn dỗ khéo được vợ cho hắn xuống thăm cõi âm một lần nữa.
Khi trở lại nhà ngục. Thủ Huồn thấy quang cảnh vẫn như cũ. Lão cai ngục vẫn là lão cai ngục ba năm về trước. Cách bố trí y hệt như xưa: cũng có nơi mổ bụng, nơi móc mắt, cắt tay: v.v… Duy chỗ để gông thì có ít nhiều thay đổi. Bên cạnh những cái vẫn còn nguyên hình như xưa thì lại có những cái trước bé nay đã lớn lên, có cái trước lớn, nay nhỏ hẳn đi. Đặc biệt cái gông mà Thủ Huồn chú ý nhất thì bây giờ đã rút ngắn lại tuy vẫn còn to và dài hơn các thứ gông thường một tý. Hắn lân la hỏi lão cai ngục:
– Cái gông để ở nơi này trước kia tôi nhớ hình như to lắm thì phải.
– Đúng đấy! Lão đáp. Có lẽ gần đây ở trên dương thế thằng cha ấy đã biết chuộc lỗi nên nó đã nhỏ lại. Nếu hắn gắng hơn nữa, thì rồi sẽ có phúc lớn.
Thủ Huồn lại lên đất, trở về Gia-định. Hắn lại làm tiếp công việc bố thí và cúng dàng. Lần này hắn bán hết tất cả những gì còn sót lại, kể cả nhà của của mình. Hắn đến Biên-hòa dựng một ngôi chùa lớn để cúng Phật. Hắn xuôi sông Đồng-nai để làm một việc nghĩa cuối cùng.
Thời bấy giờ, việc đi lại giữa hai dinh Trấn Biên và Phiên Trấn (Gia Định) vì chưa có đường bộ, nhiều nơi còn hoang vu dã thú rình rập nên chủ yếu bằng ghe đò đường sông. Để giúp nhân dân đi lại thuận tiện, Thủ Huồng đã bỏ tiền của kết một chiếc bè lớn bằng tre, trên bè dựng nhà có chỗ ngả lưng, có bếp nấu cơm với đủ nồi niêu, củi gạo mắm muối. Khách đi đò lỡ đường có thể trú lại chờ con nước mà không lo đói khát, tốn kém. Hắn cho họ trú ngụ tại bè của mình kẻ năm ba ngày, người một đôi tháng mà không lấy tiền. Hắn làm công việc đó mãi cho đến ngày xuống âm phủ thật sự.
Ngã ba nơi hợp nhau của dòng Đồng Nai và Sài Gòn có chiếc bè tre cưu mang dân đi đò ấy sau này được gọi là ngã ba Nhà Bè. Các địa danh khác mang tên Nhà Bè cũng từ đây mà có.
Sau đó khá lâu, có lần một ông vua tên là Đạo Quang bên Trung-quốc lúc mới lên ngôi có cho sứ sang Việt-nam hỏi lai lịch một người ở Gia-định. Số là khi nhà vua mới sinh, người ta thấy trong lòng bàn tay vua có mấy chữ: “Đại-nam, Gia-định, Thủ Hoằng”, nên nhà vua cần biết rõ gốc gác Thủ Hoằng là ai. Sau khi sứ giả cho biết rõ lai lịch Thủ Huồn, vua Trung-quốc có cúng vào ngôi chùa Biên-hòa ba pho tượng vàng. Do việc đó người ta bảo Thủ Huồn nhờ thành thực hối lỗi, chẳng những làm tiêu mất cái gông chờ hắn ở coi âm, mà còn được Diêm vương cho đi đầu thai làm vua Trung-quốc.
Trịnh Hoài Đức trong “Gia Định thành thông chí” (bản dịch Lý Việt Dũng), có chép: “Thuở ấy, dân cư còn thưa thớt, ghe đò hẹp nhỏ, hành khách thổi cơm, đun trà rất khổ, vì vậy có người phú hộ ở tổng Tân Chánh là Võ Thủ Hoằng kết tre lại làm bè, trên che lợp phòng ốc, sắm đủ bếp núc, gạo, củi và đồ ăn để dưới bè cho hành khách tùy ý dùng mà không bắt phải trả tiền. Sau đó khách buôn cũng kết bè nổi bán đồ ăn nhiều đến 20, 30 chiếc, nhóm thành chợ trên sông, nên mới gọi xứ ấy là Nhà Bè. Sau này đường thủy, đường bộ lưu thông, dân cư đông đúc, người qua lại đều dùng ghe nhà nên đò dọc phải dẹp bỏ. Trải qua cuộc loạn Tây Sơn, Nhà Bè tan rã, đến nay cũng không làm lại”.
Dân Biên Hòa xưa có câu ca dao:
“Ai ơi có đến Nhà Bè
Nhớ ơn nước ngọt, bè tre Thủ Huồng”.
Câu ca dao nổi tiếng hơn là:
“Nhà Bè nước chảy chia hai
Ai về Gia Định, Đồng Nai thì về”
Sách “Nam Kỳ phong tục nhơn vật diễn ca” có đoạn đề cập sự tích này: “Phú hộ là ông Thủ Hoằng, Thương người khổ não lăng xăng tư bề. Bó tre lên cất nhà bè, Sắp đồ thập vật ê hề làm ơn”.
Truyền rằng sau chuyến về từ âm phủ ông Thủ Huồng cũng đến Cù Lao Phố dựng chùa cúng Phật. Ngôi chùa này hiện nằm tại số 542A2, xã Hiệp Hòa, TP Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai. Ban đầu chùa có tên là Chúc Đảo, sau đổi là Chúc Thọ (vì chữ “Đảo” tự dạng giống chữ “Thọ” mà lại có ý nghĩa hơn). Vì gắn liền nhân vật dựng chùa, chùa còn được gọi là chùa Thủ Huồng, ngoài ra cũng được gọi là chùa Sau (vì nằm phía sau chùa Đại Giác).
Ngoài ra, trên địa bàn Biên hòa có một số địa danh gắn liền với nhân vật Thủ Huồng, như cầu Thủ Huồng, rạch Thủ Huồng ở làng Mỹ Khánh, phường Bửu Hòa. Con rạch Thủ Huồng chạy ngang qua đường Tân Vạn vòng qua Quốc lộ 1A đi Sài Gòn, truyền rằng xa xưa do Thủ Huồng sai vét nên sau mang tên ông.
Chiếc cầu đá trên đường gần sông Đồng Nai đi Tân Vạn cũng gọi cầu Thủ Huồng, xa xưa Thủ Huồng đã xây dựng một cây cầu bằng gỗ. Năm 1910, cây cầu gỗ đã xuống cấp nên có một người phụ nữ bỏ tiền ra xây dựng một cây cầu bằng gạch đá, bê tông theo nguyên bản và ngay vị trí của cầu ván Thủ Huồng xưa.
Đao Quang, Thanh Tuyên Tông (16 tháng 9 năm 1782 – 26 tháng 2 năm 1850), Tây Tạng tôn vị Văn Thù Hoàng đế, là vị Hoàng đế thứ 8 của triều đại nhà Thanh, cai trị Trung Quốc từ năm 1820 đến 1850, tổng 30 năm. Cả triều đại của ông chỉ dùng niên hiệu Đạo Quang (道光), còn gọi là Đạo Quang Đế (道光帝). Thời kỳ cai trị của ông gắn liền với sự kiện rất quan trọng trong lịch sử nhà Thanh đó là cuộc Chiến tranh Nha phiến và ngăn chặn truyền bá đạo Công giáo vào Trung Hoa. Cuộc chiến tranh này đã mở đầu cho việc các nước Phương Tây xâm nhập và xâu xé Trung Quốc. Việc Trung Quốc thua Anh trong cuộc chiến Nha Phiến đã buộc Trung Quốc phải nhượng Hồng Kông cho Anh. Trong triều đại của ông, ở dãy Himalaya, Đế quốc Sikh đã cố gắng chiếm Tây Tạng nhưng đã bị đánh bại trong cuộc chiến tranh Trung-Sikh (1841-1842).
Sự tích chợ Mảnh Ma ở Nam Định :
Tỉnh Nam Định ngày xưa có vợ chồng ông Phú nọ tên là Hải. Ông bà rất hiếm con, chỉ sanh được một gái diện mạo xinh đẹp.
Năm mười ba tuổi đứa con gái mang bệnh ngặt và chết. Ông bà xiết bao sầu thảm.
Hay tin, thiên hạ đồn rằng ở Quảng Yên, hằng năm đến ngày mùng một tháng sáu có chợ Mảnh Ma. Ông bà hết sức mừng rỡ. Theo lời truyền lại, kỳ hội chợ Mảnh Ma, người ở âm phủ sẽ được tự do trở về dương thế buôn bán.
Lam sao tìm được đứa con gái yêu quý? Ông bà chợt nhớ trong nhà còn cái quả bằng bạc, xưa kia sắm riêng cho con. Bà đến chợ đem trầu cau để trên quả, giả dạng làm bạn hàng.
Hồi lâu có người con gái mặc áo trắng đến nhìn cái quả rồi hỏi:
– Thưa bà, cái quả này mua ở đâu vậy?
Bà đáp:
– Của tôi sắm cho con gái …
Cô mặc áo trắng quỳ xuống khóc lóc. Vợ chồng ông Phú đã nhận được đứa con gái bạc phước năm nọ. Đứa con gái nói:
– Âm dương cách trở biết sao bây giờ … Thôi cha mẹ hãy đi dạo âm phủ vài ngày với con.
Ông bà vui lòng. Đứa con gái bước vào một căn nhà sang trọng cách đó không xa. Trong nhà, một cậu thanh niên cau mày hỏi:
– Hai người lạ mặt này là ai mà mình dẫn về đây?
Cô gái trả lời:
– Đó là cha mẹ ruột của tôi …
Rồi cô nói với cha mẹ:
– Người ấy là chồng của con.
Ông “rể ma.” nọ chào cha mẹ vợ rồi lẩm bẩm:
– Sẵn đây, xin cha mẹ qua phòng giam kế bên.
Ông bà rất đổi ngạc nhiên. Trong phòng tối om có cái gông rất nặng, trên gông khắc rành rành tên họ của mình.
Ông bà hỏi thì chàng rể đáp:
– Bởi vì cha mẹ cho vay nặng lời nên Diêm chúa chờ ngày làm tội …
– Bây giờ làm sao cứu được cha mẹ …?
– Thì cứ trở về cho vay nhẹ lời. Ngày rằm, cha me nên làm chay bố thí.
Trở về dương thế, ông bà phú hộ lo tu nhân tích đức. Kỳ hội chợ Mảnh Ma năm sau, ông bà xuống âm phủ thăm con, thấy cái gông nọ đã nhẹ bớt. Vài năm sau, ông bà thấy cái gông không còn nữa.
Đứa con rể nói:
– Tội cha mẹ đã sạch rồi.
Hiện nay không ai biết chợ Mảnh Ma họp ở đâu. Nam Định có chợ Viềng rất nổi tiếng, cùng là một dạng chợ âm dương, nhưng không họp vào mùng 1 tháng 6 âm lịch. Tuy nhiên sự tích chợ Mảnh Ma nảy rất tương đồng với những gì được nêu trong chuyện về ông Thủ Huồn.
Địa danh Quảng Yên nổi tiếng nhất ở Miền Bắc là vùng sông Bạch Đằng, nơi đây cũng có nhiều chợ cổ nổi tiếng trong đó có chợ Rừng nằm ngay ở bến Bạch Đằng. Bạch Đằng ở miền Bắc là cửa sông có nhiều nét tương đồng với cửa biền Xoài Rạp – Lòng Tàu ở miền Nam.
Nguồn

