![]()
BẢY SÔNG BẢY NÚI CỦA ĐÔNG NAM BỘ & TÂY NAM BỘ
Ở Tây Nam Bộ có bộ bảy sông bảy núi nổi tiếng là
– Bảy Núi (Thất Sơn) ở An Giang
– Sông Ngã Bảy ở Cần Thơ.
Bộ bảy sông bảy núi này nằm phía tây của sông Hậu, nói cách khác là phía Tây của Tây Nam Bộ
Ở Đông Nam Bộ cũng bộ bảy sông bảy núi nổi tiếng là
– Sông Ngã Bảy (Thất Kỳ Giang) đổ ra vịnh Gành Rái
– Cụm 7 núi của Vũng Tàu (Thất Kỳ Sơn) nằm ngay bên bờ vịnh Gành Rái (về phía Vũng Tàu)
Bộ bảy sông bảy núi này nằm ở phía Đông của của sông Đồng Nai, nói cách khác là phía Đông của Đông Nam Bộ
Ca dao có nhiều bài về Thất Sơn, Bảy Núi linh thiêng nổi tiếng của An Giang, và ca dao cũng có mấy bài về sông Ngã Bảy đổ ra vịnh Gành Rái.
Hai bộ bảy sông bảy núi này là âm dương của nhau, ôm trọn lấy cả vùng Nam Bộ
– Thất Sơn An Giang (núi Sam là núi ẩn trong bộ này)
– Sông Ngã Bảy của vịnh Gành Rái (sông Xoài Rạp là sông ẩn trong bộ này)
—o—
TÂY NAM BỘ – THẤT SƠN BẢY NÚI
Thất Sơn Còn có tên là Bảy Núi, chỉ hệ thống 37 ngọn núi mọc giữa đồng bằng Tây Nam Bộ, nằm trong địa phận hai huyện Tịnh Biên và Tri Tôn, tỉnh An Giang. Bảy ngọn núi tiêu biểu được dùng để gọi tên cả dãy Thất Sơn bao gồm:
– Núi Cấm (Thiên Cấm Sơn) : Cao nhất 705m, được ví như “nóc nhà” miền Tây với đỉnh Bồ Hong nổi tiếng.
– Núi Dài (Ngọa Long Sơn) : Ngọn núi dài nhất trong vùng.
– Núi Cô Tô (Phụng Hoàng Sơn) : Núi cao, hùng vĩ, cảnh quan đẹp.
– Núi Tượng (Liên Hoa Sơn): Nơi có nhiều hang động và di tích lịch sử.
– Núi Ông Két (Anh Vũ Sơn): Nổi tiếng với mỏm đá hình đầu chim két
– Núi Nước (Thủy Đài Sơn): Núi thấp nhỏ, cảnh quan sông nước.
– Núi Dài 5 Giếng (Ngũ Hồ Sơn): Nổi tiếng với các vũng nước tự
Thất Sơn bảy núi nằm kề,
Khi đi thì trắng, khi về thì đen.
Đây là một trong các câu ca dao bí hiểm nhất về Thất Sơn. Trắng đen là hai nửa nằm hai bên chữ S của vòng tròn âm dương, mà đại diện bằng vận hành khép kin đi về. Trắng đại diện cho trời thì đen đại diện cho đất, hoặc ngược lại. Trắng đại diện cho nước thì đen đại diện cho lửa, hoặc ngược lại. Trắng đen cũng là hai trạng thái cơ bản của Phật Thày Tây An, trong đó Phật Trùm là đen, Sư Vãi Bán Khoai là trắng.
– BẢY NÚI & SÔNG MÊ KÔNG
Thất Sơn ai đắp mà cao,
Sông Tiền, sông Hậu ai đào mà sâu.
– NÚI CẤM
Tu Phật Phú Yên,
Tu Tiên Núi Cấm
Núi Cấm nói riêng và Bảy Núi nói riêng được coi là nơi hội tụ tinh hoa đất trời, tâm linh huyền bí, là nơi tu tập của nhiều đạo sĩ, tôn giáo (đặc biệt là Bửu Sơn Kỳ Hương).
– NÚI KÉT
Thương em Bảy Núi cũng trèo
Ghét em núi Két vượt đèo cũng không
Đường Nhà Bàng nó trơn như mỡ
Đường ngoài chợ lạnh tợ thâm sương
Giăng tay se sợi chỉ hường
Kết duyên chồng vợ kiếm đường ra vô
Nhà Bàng : Địa danh nay là một thị trấn thuộc huyện Tịnh Biên, tỉnh An Giang, nằm dưới chân núi Két (Anh Vũ sơn) và núi Kỳ Lân, cách thị xã Châu Đốc 17km. Theo Sơn Nam, tên Nhà Bàn có từ thời Pháp thuộc và được Nguyễn Liên Phong minh chứng thêm trong bài diễn ca được đăng trong Nam kỳ phong tục nhân vật diễn ca, in năm 1909. Nhưng theo các nhà nghiên cứu hiện đại, từ Nhà Bàng là đúng hơn vì nó bắt nguồn từ tên cây cỏ bàng, mọc nhiều tại đây trong thời khai hoang, lập ấp.
– THẤT SƠN & NGŨ HÀNH SƠN
Năm non ở tại núi Đà
Bảy núi Châu Đốc gọi là Thất Sơn
– BẢY NÚI & TÀ LƠN
Anh đi lên Bảy Núi
Anh chạy thẳng núi Tà Lơn
Căn nợ keo sơn, thấu đến ông Trời
Ngó lên trời thấy trời cao
Ngó xuống đất thấy đất thấp
Anh đến tam cấp
Lập cửu trùng đài
Thời hư trời khiến, anh lập hoài cũng phải nên.
Tà Lơn Tên người dân Tây Nam Bộ gọi núi Bokor, nay là công viên quốc gia Bokor, Vườn quốc gia Preah Monivong), thuộc tỉnh Kampot của vương quốc Campuchia. Nằm ở độ cao 1.080m so với mực nước biển, cao nguyên Bokor có diện tích 1580 km2, là nơi sinh sống của nhiều loại động thực vật quý hiếm. Núi Bokor có nhiều hang động thâm u, kỳ bí đã dựng nên nhiều truyền thuyết về những hảo hán, giang hồ lặn lội từ Việt Nam sang để luyện bùa chú, học võ. Đây là một trong những điểm du lịch hấp dẫn nhất tại Kampot, Campuchia. Bokor theo tiếng Khmer nghĩa là cái gù của con bò, xuất phát từ hình dáng của núi.
– DANH NHÂN CỦA THẤT SƠN
Cử Đa là tiên,
Đoàn Minh Huyên là Phật,
Huỳnh Phú Sổ là Thánh
Nguyễn Trung Trực là Thần.
Bốn nhân vật Thần Tiên Thánh Phật nổi tiếng tại vùng Thất Sơn Bảy Núi là
– Nguyễn Thành Đa, Cử Đa, đạo hiệu là Ngọc Thanh được cho là tu tiên đắc đạo
– Đoàn Minh Huyên (1807-1856) Phật Thày Tây An, người sáng lập ra giáo phái Bửu Sơn Kỳ Hương
– Huỳnh Phú Sổ, giáo chủ đạo Hòa Hảo
– Nguyễn Trung Trực (1838 – 1868) anh hùng chống thực dân Pháp
Liên quan đến Phật Thày Tây An có rất nhiều vị tu hành ở Thất Sơn
– Có các vị được coi là truyền nhân kiếp sau của Phật Thày
– – – Phật Trùm
– – – Đức Bổn Sư Ngô Lợi, người sáng lập đạo Tứ Ân Hiếu Nghĩa
– – – Sư Vãi Bán Khoai
– Có 12 đại đệ tử
– – – Quản Cơ Trần Văn Thành (hay Đức Cố Quản), đứng đầu dòng Võ
– – – Đạo Thới (Nguyễn Văn Thới), đứng đầu dòng Văn
– – – Đạo Xuyến (Nguyễn Văn Xuyến)
– – – Đạo Ngoạn (Đặng Văn Ngoạn)
– – – Đạo Lập (Phạm Thái Chung hoặc Lý Chánh Trung)
– – – Đạo Lãnh
– – – Đạo Thơm (Nguyễn Văn Thơm)
– – – Đạo Kỉnh (Huỳnh Văn Kỉnh)
– – – Đạo Kiểm
– – – Ông Đình Tây (Bùi Văn Tây)
– – – Ông Hương bộ Nguyễn Văn Tặng
– – – Ông Cả Đặng Văn Được
Đối xứng với Thánh Huỳnh Phú Sổ bên đạo Hoà Hảo là các vị bên Đạo Cao Đài, đặc biệt là hai vị
– Ngô Văn Chiêu, khai sáng đạo Cao Đài, dòng nội môn Minh Chiêu, liên quan đến mạch núi Tà Lơn – Thất Sơn.
– Phạm Công Tắc khai sáng đạo Cao Đài, dòng ngoại môn, liên quan đến mạch sông Nam Vang (Mê Kông) – Thất Sơn
—o—
TÂY NAM BỘ – SÔNG NGÃ BẢY
Sông Ngã Bảy là địa danh nay là một thị xã thuộc tỉnh Hậu Giang, là nơi gặp nhau của bảy dòng kênh là
– Xẻo Môn : hướng về Rạch Giá
– Xẻo Đông :
– Bún Tàu,
– Lái Hiếu : hướng về Cần Thơ
– Mang Cá : nối ra chợ Mang Cá, sông Kế Sách, chia 2 hướng, hướng đông Rạch Mọp chạy ra sông Hậu ở bến phà Nhơn Mỹ và hướng tây chạy ra Sóc Trăng
– Cái Côn : nối với sông Hậu ở chợ Cái Côn
– Kênh Xáng : chạy ra Cà Mau, chạy thẳng theo mạch Cái Côn, nối sông Hậu về Cà Mau
Trước đây ở đây có chợ nổi Ngã Bảy (cũng gọi là chợ Phụng Hiệp), một khu chợ trên sông nổi tiếng của vùng Tây Nam Bộ, là đầu mối buôn bán giao thương rất sầm uất.
Từ ngã Bảy có đường nối thẳng ra sông Hậu. Từ Ngã Bảy này có thể đi đường sông về tất cả các con sông của miền Tây của Tây Nam Bộ như sông Mỹ Thạnh, sông Gành Hào, sông Bảy Hạp, sông Cửa Lớn, sông ông Đốc, sông Cái Lớn, sông Cái Bé, sông Rạch Giá …
Từ Ngã Bảy này có thể đi đường sông về tất cả các trung tâm lớn miền Tây của Tây Nam Bộ (bờ Tây sông Hậu) như Cần Thơ, Bạc Liêu, Rạch Giá, Cà Mau.
Ca dao có nhiều bài về Kênh/Kinh Xáng với nghĩa là các con kênh được đào bằng máy móc cơ giới
Kinh xáng chảy qua Cái Tre
Giặc vô tới đó, chạy re từng bầy.
Ruộng đồng kinh xáng quê ta
Dân tôi thích một bài ca Tháp Mười
Tháp Mười này Tháp Mười ơi
Đẹp trời đẹp nước, đẹp đời tự do
Kinh Xáng mới đào, tàu đương chạy
Anh thương em thì thương đại
Đừng ngại, bớ điệu chung tình
Kinh Xáng mới đào, tàu Tây mới chạy
Thương em thương đại, đừng ngại gần xa
Ca dao cũng có mấy bài về “xáng” là cái máy xúc đất để đào kênh
Chừng nào chiếc xáng nọ bung vành
Tàu Tây liệt máy, em mới đành bỏ anh
Ăn như xáng xúc
Làm như lục bình trôi
—o—
ĐÔNG NAM BỘ – SÔNG NGÃ BẢY (THẤT KỲ GIANG)
Ca dao nói về sông Ngã Bảy
Gặp em Ngã Bảy hò ơ
Dòng sông bảy ngả tìm em ngả nào?
hoặc
Sông Ngã Bảy chảy về bảy ngả
Thuyền đến đây về ngả nào đây
Buồm không theo kịp chim bay
Xa nhau biết hẹn ngày nào gặp nhau.
Sông Ngã Bảy là một con sông ngắn tại huyện Cần Giờ, Thành phố Hồ Chí Minh, Việt Nam. Đây đúng ra là hạ lưu khúc cuối cùng của sông Lòng Tàu trước khi đổ vào Vịnh Gành Rái. Sông có chiều dài khoảng 15 km, lòng sông rộng, được bắt nguồn từ đoạn hợp lưu sông Lòng Tàu và sông Dừa từ hướng đông bắc đổ tới. Tại đây sông chảy thêm một đoạn khoảng 2 km nữa thì tiếp tục nhận nước từ sông Đồng Tranh từ hướng bắc đổ vào. Chảy thêm khoảng 4 km nữa thì sông đổi hướng nam đổ ra Biển Đông tại vịnh Gành Rái. Trên đường ra chảy ra Biển Đông, ngoài các sông lớn như sông Lòng Tàu, sông Đồng Tranh, sông Dừa, sông còn nhận thêm nước từ các con sông nhỏ khác từ hai bên đổ vào nên có tên gọi là sông Ngã Bảy (tức có bảy nhánh sông đổ vào).
Cấu trúc sông Lòng Tàu – Ngã Bảy
– Sông Lòng Tàu (bắt đầu từ ngã ba Nhà Bè với sông Xoài Rạp đổ ra vịnh Gành Rái)
– – – Tắc ông Đĩa (nối vào sông Lòng Tàu) – Kênh bà Tòng (nối với sông Xoài Rạp)
– Sông Ngã Bảy (cửa sông Lòng Tàu)
– – Bờ Đồng Nai
– – – Sông Dừa (bờ bên Đồng Nai) : Sông Dừa nhận nước từ cụm Rạch An Thịt – Tắc Định Cau – Tắc Rối ở bến trạm Văn Phòng Phân Khu 1)
– – – Sông Đồng Tranh (bờ Đồng Nai)
– – – Sông Thị Vải (bờ Đồng Nai) : Sông Thị Vải có một chi lưu đổ vào sông Ngã Bảy ở bến đò Thiềng Liềng (ở đây có miếu Bà Ngũ Hành Thiềng Liềng).
– – Bờ Sài Gòn của sông Ngã Bảy/vịnh Gành Rái
– – – Sông Cá Gáu (sông Ngã Bảy/vịnh Gành Rái) – Sông Mùng Năm (nối vào sông Đồng Tranh)
– – – Sông Bà Yến
– – – Sông Đồng Đình (sông Ngã Bảy/vịnh Gành Rái) – Sông Dinh Bà (nối vào sông Đồng Hoà)
– – – Sông Đồng Hoà (ra sông Ngã Bảy/vịnh Gành Rái) – Sông Dinh Bà (nối vào sông Đồng Đình)
Sông Lòng Tàu – Ngã Bảy là cửa ra biển của sông Đồng Nai
– Sông Đồng Nai là hạ nguồn của sông Đa Nhim chảy từ trên núi của cao nguyên Lâm Đồng, qua thác Pongour, xuống hồ Tà Đùng nằm giữa Đà Lạt và Đak Nông
– Gặp sông Bé (bắt nguồn từ núi Bà Rá hồ Thác Mơ) ở ngã ba Cát Tiên
– Gặp sông Sài Gòn ở Cát Lái
– Tách ra làm hai nhánh đi ra biển là Xoài Rạp và Lòng Tàu ở Nhà Bè
– Lòng Tàu (đối xứng với Xoài Rạp và Thị Vải)
– Sông Ngã Bảy (đối xứng với Cái Mép)
– SÔNG LÒNG TÀU
Sông Lòng Tàu, còn được gọi là Lòng Tảo là một phân lưu của sông Đồng Nai chảy qua huyện Cần Giờ cũ và đổ vào vịnh Gành Rái. Sông Đồng Nai sau khi nhận nước của sông Sài Gòn xuôi xuống Nhà Bè thì chia làm hai. Nhánh phía tây là sông Soài Rạp chảy ra cửa Soài Rạp. Nhánh phía đông là sông Lòng Tàu chảy ra vịnh Gành Rái. Sông Lòng Tàu có tầm sâu trung bình là 15 m, chảy quanh co cắt ngang rừng Sác trước khi đổ ra Biển Đông. Sông Lòng Tàu chảy đến xã Đại Phước, thành phố Đồng Nai thì chia làm hai nhánh. Nhánh về phía tây là sông Đồng Tranh chảy về phía cửa Soài Rạp, còn nhánh về phía đông tiếp tục mang tên Lòng Tàu chảy xuống Ngã Bảy nơi sông Dừa đổ vào. Tính từ ngã ba nơi sông Lòng Tàu tách ra khỏi sông Đồng Nai đến chỗ sông Ngã Bảy tách ra, Lòng Tàu dài khoảng 75 km.
– SÔNG NGÃ BẢY
Từ Ngã Bảy ra biển, khúc hạ lưu sông này còn được gọi là sông Ngã Bảy. Đến xã Thạnh An, Thành phố Hồ Chí Minh, sông Đồng Tranh và sông Ngã Bảy lại hợp lưu rồi đổ ra vịnh Gành Rái. Sông Lòng Tàu là một tuyến giao thông đường thủy quan trọng ở Đông Nam Bộ, nơi các tàu biển từ Biển Đông đi qua cửa sông Ngã Bảy vào cập Cảng Sài Gòn. Sông Soài Rạp có bề ngang rộng hơn sông Lòng Tàu nhưng lòng sông lại cạn vì hay bị cát lấp nên về mặt giao thông, sông Lòng Tàu là thủy lộ chính nối liền Sài Gòn và biển.
Trên sông Ngã Bảy này xảy ra trận thủy chiến Thất Kỳ Giang vào giữa quân Tây Sơn và quân Chúa Nguyễn.
Tháng ba năm Nhâm Dần (1782), hai thủ lĩnh của quân Tây Sơn là Nguyễn Nhạc và Nguyễn Huệ đưa đại quân thủy bộ (trong đó thủy binh là lực lượng nòng cốt) vào Nam quyết đánh gục toàn bộ lực lượng của Chúa Nguyễn.
Tại Cần Giờ, thủy binh của Chúa Nguyễn Phúc Ánh do tướng Tống Phúc Thiêm (hay Tống Phước Thiêm) chỉ huy, có khoảng 400 chiến thuyền (chưa kể 5 tàu chiến của phương Tây do Manuel [Mạn Hòe] cầm đầu), chuẩn bị thế trận sẵn ở khu vực sông Ngã Bảy (Thất Kỳ Giang) với hi vọng chặn đứng được thủy quân Tây Sơn. Ngoài ra, Chúa Nguyễn còn sắp sẵn một đội chiến thuyền khác do đích thân ông chỉ huy, có thể đến ứng cứu cho Tống Phúc Thiêm bất cứ lúc nào. Sau đó, một trận đánh quyết liệt đã xảy ra tại sông Ngã Bảy ở Cần Giờ. Trận này do đích thân Nguyễn Huệ chỉ huy. Nhân lúc thuận chiều gió, Nguyễn Huệ đã cho dùng hỏa công, khiến cho thủy quân Tống Phúc Thiêm hoàn toàn bị bất ngờ về cách đánh, đội ngũ rối loạn, chẳng mấy chốc đã bị đại bại. Chúa Nguyễn Phúc Ánh tới cứu cũng không sao có thể xoay chuyển được tình thế, đành phải dẫn tàn binh của mình và của Tống Phúc Thiêm tháo chạy về Gia Định. Tàu chiến của Manuel bị vây chặt và sau đó bị thiêu trụi, Manuel chịu chết cháy….
– SÔNG DINH :
Sông Dinh của Vũng Tàu năm trong bộ sông Dinh của duyên hải Đông Nam Bộ gồm sông Dinh Ninh Hoà, sông Dinh Ninh Thuận (sông Cái Phan Rang), sông Dinh Bình Thuận đổ ra biển La gi, sông Dinh Vũng Tàu đổ ra vịnh Gành Rái. Tất cả các con sông Dinh này đều ở trên vùng đất của bộ tộc Cau của Chămpa. Tất cả các con sông Dinh này đều đổ từ mạch núi Trướng Sơn ra biển Đông. Điều đặc biêt nhất với Sông Dinh Vũng Tàu là gắn với núi Dinh. Điều này chứng tỏ núi Dinh và các cụm núi liên quan của Bà Rịa Vũng Tàu phải thuộc về chân của dãy núi Trường Sơn.
– SÔNG THỊ VẢI :
Sông Thị Vải chảy từ Biên Hoà Đồng Nai xuống Vịnh Gành Rái, với tổng có tổng chiều dài khoảng 80 km.
Sông Thị Vải gắn với núi Thị Vải, với sự tích bà Thị Vải yêu ông Trịnh, nhưng không đến được với nhau do ngăn cách địa vị, hai người chết hoá thành núi Thị Vải và núi Dinh (núi ông Trịnh).
Sông Thị Vải có thể coi là phân lưu của sông Đồng Nai ra biển. Sông Thị Vải đoạn thượng nguồn nối với sông Xoài Rạp đối xứng với cả cụm Nhà Bè – Xoài Rạp – Lòng Tàu, cũng là phân lưu của sông Đồng Nai ra biển
Sông Thị Vải là ranh giới tự nhiên giữa
– huyện Nhơn Trạch (Đồng Nai) – Cần Giờ (Thành phố Hồ Chí Minh)
– thị xã Phú Mỹ, Bà Rịa Vũng Tàu – Cần Giờ (Thành phố Hồ Chí Minh).
Nói cách khác, sông Thị Vải là con sông biên của ba tỉnh Bà Rịa Vũng Tàu (cũ) – Sài Gòn – Đồng Nai, và biên này lấy theo mạch Biển Đông
Sông Thị Vải nằm giữa sông Dinh (của Vũng Tàu thuộc về Nam Trung Bộ) và cụm sông Nhà Bè (gồm cả Lòng Tàu và Xoài Rạp thuộc về Đông Nam Bộ)
Con sông giữ biên của Đông Nam Bộ và Nam Trung Bộ tiếp theo nối với sông Thị Vải là sông Bé.
Đối xứng qua biên Sông Thị Vải – Sông Bé này
– Sông Sài Gòn – Nhà Bè – Xoài Rạp/Lòng Tàu (Đông Nam Bộ)
– Sông Đồng Nai – Sông Dinh (Chămpa) – Sông Đa Nhim (Tây Nguyên)
Ngã ba sông Thị Vải – sông Bé – sông Đồng Nai là hồ Trị An
Sông Thị Vải ra vịnh Gành Rái theo cửa chính gọi là sông Cái Mép.
Sông Cái Mép bắt đầu từ chỗ sông Gò Gia hợp lưu với Thị Vải (khu vực núi Giồng Chùa). Trên cửa sông Cái Mép có đảo Thạnh An. Sông Cái Mép như là cửa của sông Thị Vải, đối xứng với sông Ngã Bảy như là cửa của sông Lòng Tàu.
Sông Thị Vải được nối với sông Đồng Tranh (từ đó nối với Lòng Tàu và Xoài Rạp)
– sông Bà Giỏi
– sông Gò Gia (nơi có núi Giồng Chùa)
Sông Thị Vải nối với sông Ngã Bảy
– ở bến đò Thiềng Liềng, nơi có miếu Bà Ngũ Hành Thiềng Liềng.
Sông Thị Vải nối với sông Dinh ở vùng núi Thị Vải, núi Dinh, núi Long Sơn
– SÔNG DỨA
Sông Dừa nhận nước từ cụm Rạch An Thịt – Tắc Định Cau – Tắc Rối ở bến trạm Văn Phòng Phân Khu 1
Ngã ba của sông Dứa với sông là khởi nguồn Lòng Tàu là khởi điểm của sông Ngã Bảy.
– SÔNG ĐỒNG TRANH
Các con sông nối từ cửa biển của sông Xoài Rạp sang vịnh Gành Rái (nơi đổ ra biển của sông Lòng Tàu/Ngã Bảy và sông Thị Vải/Cái Mép cùng sông Dinh) là
– Sông Đồng Tranh : nối Xoài Rạp, Lòng Tàu/Ngã Bảy, Thị Vải/Cái Mép
– Sông Đồng Hoà – Dinh Bà – Đồng Đình : cụm này không nối sang sông Thị Vải/Cái Mép, mà chỉ nối sang sông Ngã Bảy
—o—
ĐÔNG NAM BỘ – BẢY NÚI (THẤT KỲ SƠN)
Sông Ngã Bảy đi cùng Bảy núi vây xung quanh vịnh Gành Rái
– Núi Thị Vải (sông Thị Vải)
– Núi Dinh (sông Dinh ông)
– Núi Long Sơn (sông Dinh ông)
– Núi Lớn (sông Dinh ông)
– Núi Nhỏ (sông Dinh ông)
– Núi Minh Đạm (sông Dinh ông)
– Núi Giồng Chùa hay Núi Chúa.
Cụm sáu núi lớn nằm bên phía Vũng Tàu nằm vào một bên của vịnh Gành Rái. Giống Chùa là núi nhỏ nằm bên kia của vịnh Gành Rái, còn tên là núi Chúa.
– NÚI GIỒNG CHÙA
Núi Giồng Chùa nằm trên cù lao rừng Sác (Cần Giờ) giữa sông Xoải Rạp và sông Lòng Tàu liên quan đến sông Đồng Tranh, sông Đồng Đình, sông Đồng Hoà, sông Dinh Bà, sông Bà Yến, kênh Bà Tòng, Tắc ông Đĩa
Giồng Chùa hay núi Chùa, là ngọn núi nhỏ nằm tại ấp Thiềng Liềng, xã Thạnh An, huyện Cần Giờ, Thành phố Hồ Chí Minh. Núi nằm giữa rừng ngập mặn Cần Giờ, bên bờ vịnh Gành Rái giữa một hệ thống sông chằng chịt của Thất Kỳ Giang hay Ngã Bảy.
Tương truyền trên núi có vết đá lõm sâu là do “dấu chân” của vua chúa nào đấy đã từng qua đây. Do đó tên gọi “núi Chùa” có thể là từ biến âm của từ “núi Chúa”.
Ngọn núi nhỏ này thật ra chỉ là một giồng đá cao 10 mét nhưng được coi là ngọn núi duy nhất và cao nhất Thành phố Hồ Chí Minh trước giai đoạn sát nhập 2025. Vị trí giữa rừng ngập mặn Cần Giờ. Xung quanh là rừng đước, mắm, bần,…và các cánh đồng ruộng muối. Núi là một khối đá andezit, một loại macma nguồn gốc núi lửa. Diện tích khoảng 3 ha. Gần núi có miếu Ngũ hành.
Ngọn núi nằm tại ấp Thiềng Liềng là một ấp đảo, bao quanh là sông nước và rừng ngập mặn, người dân địa phương với 211 hộ, khoảng 1.000 người sống bằng nghề làm muối, có 400 ha muối, sản xuất hằng năm 20.000 tấn muối. Một số ít cư dân nuôi hàu.
– NÚI THỊ VẢI
Sách Gia Định thành thông chí của Trịnh Hoài Đức và Đại Nam nhất thống chí đều ghi tên núi Thị Vải hay còn gọi núi Nữ Tăng. Tên núi đầy đủ ban đầu là Bà Thị Vải, về sau dân gian gọi ngắn gọn đi thành Thị Vải.
Theo Gia Định thành thông chí, tên núi xuất phát từ chuyện kể một người con gái nhà giàu có họ Lê (có thể tên Lê Thị Vải) do ba mẹ đã mất và người chồng cũng qua đời nên đã xuống tóc, lập một ngôi chùa trên núi để tu hành. Theo Đại Nam nhất thống chí, ông Trịnh là người ở của bà Vải, một phụ nữ giàu có và nhiều đời trồng vải . Hai người họ có tình ý nhưng không đến được với nhau, có thể do không ‘môn đăng hộ đối’. Một thời gian sau dân trong vùng phát hiện xác hai người chết ở hai nơi mà không rõ nguyên nhân. Từ hai nơi đó mọc lên hai ngọn núi cạnh nhau, nên dân trong vùng đặt tên hai ngọn núi theo tên của họ, núi Ông Trịnh và núi Thị Vải.
Núi có ba ngôi chùa chính là chùa Linh Sơn Liên Trì (chùa Hạ), chùa Linh Sơn Hồng Phúc (chùa Trung), chùa Linh Sơn Bửu Thiền (chùa Thượng).
Khoảng cuối thế kỷ 18, Nguyễn Phúc Ánh từng thoát nạn truy lùng của quân Tây Sơn khi trốn ở đây. Khi ông lên ngôi vua đã sắc phong chùa núi Thị Vải (chùa Linh Sơn Bửu Thiền Tự) nơi ông từng trốn là “Sắc Tứ Linh Sơn Bửu Thiền Tự”.
Tướng Lê Văn Khôi, con nuôi Lê Văn Duyệt từng có thời gian bị quân Tây Sơn đánh bại, dẫn quân chạy về đây, họ ăn nhờ ở đậu các chùa trên núi.
Về phía tây bắc, bên ngoài khối núi Thị Vải là một ngôi chùa rất lớn, tên Đại Tòng Lâm hay Đại Tùng Lâm, được xem là thánh địa Phật giáo của vùng đất Bà Rịa – Vũng Tàu. Chùa lập nên vào năm 1964 bởi Tổ Thiện Hòa với diện tích ban đầu 100 ha.
Từ chân núi đến chùa Thượng trên đỉnh núi là 1.340 bậc thang, nơi đây là địa điểm thường diễn ra hoạt động “tam bộ nhất bái” (bước ba bước quỳ lạy một lạy) của các tín đồ Phật giáo. Có sự kiện thu hút hàng trăm tín đồ tham gia. Theo Giáo hội Phật giáo, “tam bộ nhất bái” thể hiện lòng tin sâu sắc vào Tam Bảo (Phật, Pháp và Tăng) tôi luyện lòng kham nhẫn, chịu đựng đau khổ và tỏ quyết tâm theo đuổi một hạnh nguyện. Còn nhiều người tham gia vì muốn cầu phúc, cầu bình an cho gia đình, người thân.
– NÚI DINH
Núi Dinh còn có tên là núi Ông Trịnh (cặp đôi với núi Thị Vải), hoặc núi Mô Xoài.
Mạng khe suối phát triển trên sườn núi và đổ xuống chân núi; các tuyến suối thường được nêu gồm suối Tiên (thượng nguồn) và suối Đá (hạ nguồn). Dọc tuyến suối Đá hình thành chuỗi hồ tự nhiên gọi là “5 hồ” cùng các đoạn thác ghềnh nối tiếp; dòng chảy được phản ánh là có nước quanh năm và lưu lượng tăng vào mùa mưa. Khu vực suối Tiên có nhiều bậc đá và đá tảng rêu phủ, tạo các đoạn nước sâu theo địa hình khe suối.
Núi Dinh có hơn 100 ngôi chùa, am, tịnh thất và miếu thờ; một số điểm được nhắc đến nhiều gồm Tổ đình Linh Sơn Cổ Tự, Thiền Tôn Phật Quang, chùa Hang Mai, chùa Hang Tổ và chùa Diệu Linh. Theo bài viết của Bảo tàng Bà Rịa – Vũng Tàu, Tổ đình Linh Sơn Cổ Tự được xây dựng vào cuối thế kỷ XVIII và là một trong các cơ sở Phật giáo lâu đời ở khu vực núi Dinh. Núi Dinh là nơi khởi nguyên gắn với hành trạng của Hòa thượng Thiện Phước và sự hình thành hệ phái.
Ca dao có hai bài nói về Hang Mai
Tháng ba cơm gói ra Hòn
Muốn ăn trứng nhạn phải lòn hang Mai
hoặc
Mặc tình ai dễ ép ai
Muốn ăn trứng nhạn hang Mai phải lòn
– Hang Mai anh cũng muốn lòn
Sợ rằng trứng nhạn hãy còn vỏ không
Có nhiều ý kiến về Hang Mai
– Hang Mai trên núi Dinh Vũng Tàu nơi có chùa Hang Mai
– Hang Mai trên núi Hòn Chông, trong có ngôi chùa Hải Sơn Tự, tục gọi là chùa Hang. Hòn Chông là một hòn đảo thuộc địa bàn xã Bình An, huyện Kiên Lương, tỉnh Kiên Giang, dần về sau dính vào đất liền mà thành núi.
– Hang Mai tức là hang của loài khỉ. Kinh Hang Mai ở làng Khánh Lâm, Cà Mau, bắt đầu từ kinh Biện Nhi trổ ra Tiểu Dừa.
– NÚI LONG SƠN
Núi Long Sơn (thường được gọi là Núi Nứa) nằm trên xã đảo Long Sơn, TP Vũng Tàu. Đây là một cụm gồm 3 đỉnh chính (Bà Trao, Hố Rồng, Hố Vông) với địa hình uốn lượn như rồng bay.
Nơi đây nổi tiếng với di tích Nhà Lớn Long Sơn (Đền Ông Trần). Đây là nơi tập trung sinh hoạt văn hóa, tín ngưỡng của tín đồ theo đạo Ông Trần, một tín ngưỡng khá phổ biến ở nơi đây. Ông Trần là một học trò của Đức Bổn Sư Ngô Lợi, sáng lập nên Tứ Ân Hiếu Nghĩa. Ông Trần là người Hà Tiên, đã dong thuyền về Long Sơn lập ấp.
Ngày nay, tại Long Sơn còn bảo lưu nhiều phong tục tập quán xưa cũ, trong đó có tục tẩn táng khá kỳ lạ của tín đồ theo đạo Ông Trần. Trên đảo, người chết được liệm trong một quan tài chung và chỉ được để 24 tiếng đồng hồ rồi đem đi chôn cất. Quan tài được đem về ngay sau khi đưa thi hài xuống huyệt.
– NÚI LỚN
Núi Lớn (Đại Sơn) hay còn gọi là núi Tương Kỳ, là một ngọn núi cao 245 m nằm ở trung tâm Vũng Tàu. Trên núi này có Bạch Dinh được xây thời Pháp thuộc nhìn ra biển, nơi có đặt các khẩu súng thần công. Ngọn núi này cũng nổi tiếng với chùa có Thích Ca Phật Đài – một bức tượng Phật ngọa thiền bằng thạch cao lớn. Núi Lớn cũng có bức tượng Đức Mẹ lớn đứng nhìn ra biển. Xung quanh núi Lớn có con đường ven biển bao quanh dọc theo cãi bãi biển đẹp.
Chân núi lớn là sông Bến Đình, với chợ Bến Đình nổi tiếng họp bên bờ sông.
Chân núi cũng có di tích giếng Gia Long.
– NÚI NHỎ
Núi Nhỏ hay núi Tao Phùng, có độ cao 170 m, diện tích 120 ha, là một trong hai ngọn núi tại trung tâm Vũng Tàu. Núi nằm sát biển, đối diện mũi Nghinh Phong. Núi Nhỏ có hai đỉnh, trên đỉnh cao hơn có ngọn Hải đăng Vũng Tàu được xây từ thời Pháp thuộc, đỉnh thấp hơn có bức Tượng Đức Chúa giang tay nổi tiếng, được khởi xây vào ngày 16 tháng 2 năm 1974. Đường lên ngọn hải đăng được rải nhựa và ô tô có thể lên được còn lối lên tượng Đức Chúa thì chỉ có thể leo bộ qua các bậc tam cấp. Dưới chân núi là con đường ven biển với nhiều khách sạn, nhà hàng, quán cà phê.
– NÚI MINH ĐẠM
Núi Minh Đạm nằm tại huyện Đất Đỏ và huyện Long Điền (Bà Rịa – Vũng Tàu), cách thị trấn Long Hải 6km. Đây là dãy núi thấp trải dài 8-9km, cao khoảng 355m với địa thế hiểm trở. Nơi đây là căn cứ cách mạng oai hùng và hiện là điểm du lịch sinh thái, trekking kết hợp tham quan văn hóa.
Thực ra núi Minh Đạm không nằm trong vịnh Gành Rái mà nằm ở biển Long Hải. Biển Long Hải nối sang vịnh Gành Rái vì sông Cỏ May của biển Long Hải nối sang sông Dinh của Vịnh Gành Rái
—o—
BỘ BẢY SÔNG BẢY NÚI CỦA LỤC TỈNH NAM BỘ
Bài ca dao sau nói về bộ đôi sông Ngã Bảy Gành Rái và Bảy Núi An Giang
– Con cá lí ngư sầu tư biếng lội
Em xa anh rồi anh trông đợi biếng ăn
Mang bộ xương cách trí, anh leo lên tháp mười từng
Trông vượt Bảy Núi, trông tuốt Nam Vang, trông quàng Châu Đốc, trông dọc Long Xuyên, trông lên Cao Lãnh, trông thẳng cánh cò bay lên Sài Gòn
Ối thôi thôi em ơi, con mắt anh mòn
Em mải mê xứ lạ, anh đâu còn thấy em!
– Ở đâu sáu tỉnh anh ơi
Sông nào chín cửa, nước chảy xuôi một nguồn
Sông nào có nước trong luôn
Núi nào có tiếng cả muôn dặm ngoài
Con gì có cánh không bay
Con gì không cẳng, chạy ngay trăm rừng
Con gì giống chó có sừng
Anh mà đáp được, em cùng theo anh
– Nam Kỳ sáu tỉnh em ơi
Sông Cửu Long chín cửa, nước chảy xuôi một nguồn
Sông Đồng Nai nước sạch trong luôn
Núi Thất Sơn danh tiếng cả muôn dặm ngoài
Con gà có cánh không bay
Con rắn không cẳng, chạy ngay trăm rừng
Con dê giống chó có sừng
Anh đà đáp được, em cùng theo anh
Bài ca dao 22 câu này là đối đáp của một đôi nam nữ.
– Sáu câu đầu (câu 1 đến 6) là lời tâm sự của chàng trai “Thất Sơn” với cô gái “Nam Bộ”,
– Tám câu tiếp theo (câu 7 đến 14) là câu hỏi của cô gái
– Tám câu cuối cùng (câu 15 đến 22) là trả lời của chàng trai
Hai câu mở đầu bài ca dao này nói về một pha trong chu kỳ vận hành của vòng tròn âm dương.
– “Con cá lí ngư sầu tư biếng lội” : Câu này mô tả vòng tròn âm dương ở trạng thái lưỡng nghi. Con cá lý ngư là chữ S trong vòng tròn lưỡng nghi. “Con cá lý ngư sầu tư biếng lội” nghĩa là âm dương đang ở trạng thái cân bằng tĩnh, không tương tác.
– “Em xa anh rồi, anh trông đợi biếng ăn” :”Em xa anh rồi” là âm dương ở trạng thái ngăn cách, không tương tác là do âm suy. Âm dương của vòng tròn âm dương là nửa đen và nửa trắng của vòng tròn âm dương, mà bộ âm dương của vòng tròn âm dương cũng là chữ S và vòng tròn âm dương. “Em xa anh rồi, anh trông đợi biếng ăn” là âm suy dương thịnh đã đến ngưỡng chuyển hoá.
Hai câu tiếp theo (câu 3, 4) nói về việc mở cổng đất trời ở Thất Sơn
– “Mang bộ xương cách trí” : “Bộ xương” là ẩn dụ của phách mà mang tính cấu trúc, “cách trí” là ẩn dụ của thể vía hồn hay thể trí cảm mà mang tính vận hành. “Mang bộ xương cách trí” là một năng lực huyền môn vận hành thể phách vía hồn bằng thiền.
– “Anh leo lên tháp mười từng” : “Tháp mười từng” là một tháp nối trời có tính nam, giống như khái niệm cửu trùng thiên của mẫu Cửu trùng thiên có tính nữ. “Mười từng” liên quan đến mười vía đất, giống như “cửu trùng thiên ứng” với số lượng vía trời, như trong thành ngữ “mùng 9 vía trời mùng 10 vía đất”. 10 vía đất cũng là 10 phương Phật, trong câu “chín phương Trời, mười phương Phật”.
– “Mang bộ xương cách trí, anh leo lên tháp mười từng, trông vượt Bảy núi” : Tháp mười từng mở ở Bảy Núi (An Giang). “Thất Sơn” liên quan đến bảy vía, như trong dân gian nói “đàn ông bảy vía, đàn bà chín vía”. “Mang bộ xương cách trí, anh leo lên tháp mười từng, trông vượt Bảy núi” là một năng lực được mật truyền trong nội môn của các môn phái tu tiên đạo ở Thất Sơn, dành cho người nam.
– “Trông tuốt Nam Vang” : Từ Bảy núi trông tuốt Nam Vang là đi ngược dòng sông Hậu
– “Trông quàng Châu Đốc” : Từ Bảy núi trông quang Châu Đốc là đi theo mạch sông Châu Đốc ra biển (vịnh Thái Lan)
– “Trông dọc Long Xuyên” : Từ Bảy núi trông dọc Long Xuyên là đi xuôi theo dòng sông Hậu ra biển
– “Trông lên Cao Lãnh” : Từ Bảy núi trông lên Cao Lãnh là đi sang đầu nguồn sông Tiền
– “Trông thẳng cánh cò bay lên Sài Gòn” : Từ Bảy núi trông thẳng cánh cò bay lên Sài Gòn là đi đường của “con cò bay lả bay la, bay từ cửa phủ ra cánh đồng” để lên Sài Gòn.
Hai câu tiếp theo (câu 5, 6) nói về việc âm vẫn đang suy, âm dương vẫn trong tình trạng xa cách
– “Ối thôi thôi em ơi, con mắt anh mòn” : dương vận hành nhưng vẫn không thấy được âm
– “Em mải mê xứ lạ, anh đâu còn thấy em!” : âm vẫn còn đang suy, chưa hồi lại được để gặp được dương
Tám câu hỏi và tám câu đáp của chàng trai và cô gái
– “Ở đâu sáu tỉnh anh ơi” (câu 7) : “Nam Kỳ sáu tỉnh em ơi” (câu 15)
– “Sông nào chín cửa, nước chảy xuôi một nguồn” (câu tám) : “Sông Cửu Long chín cửa, nước chảy xuôi một nguồn” (câu 16)
– “Sông nào có nước trong luôn” (câu 9) : “Sông Đồng Nai nước sạch trong luôn” (câu 17)
– “Núi nào có tiếng cả muôn dặm ngoài” (câu 10) : “Núi Thất Sơn danh tiếng cả muôn dặm ngoài” (câu 18)
– “Con gì có cánh không bay” (câu 11) : “Con gà có cánh không bay” (câu 19)
– “Con gì không cẳng, chạy ngay trăm rừng” (câu 12) : “Con rắn không cẳng, chạy ngay trăm rừng” (câu 20)
– “Con gì giống chó có sừng” (câu 13) : “Con dê giống chó có sừng” (câu 21)
– “Anh mà đáp được, em cùng theo anh” (câu 14) : “Anh đà đáp được, em cùng theo anh” (câu 22)
