![]()
CÁC VỤ VUA HUYỀN SỬ VÀ LỊCH SỬ
Các triều đại trong biên niên sử Panduranga theo https://nghiencuulichsu.com/…/bien-nien-su-champa…/
A. Thời kỳ huyền sử
1. Po Uwaluah
Lên ngôi năm Tý, thoái vị năm Tý, trị vì 37 năm ở thủ đô Bal Sri Banây (Nại, Ninh Chữ, Phan Rang), sau đó ngài trở về trời.
2. Po Binnasur
Lên ngôi năm Tý, thoái vị năm Thìn, trị vì 41 năm ở thủ đô Bal Sri Banây (Nại, Ninh Chữ, Phan Rang), sau đó ngài trở về trời.
3. Po Putik
Lên ngôi năm Thìn, thoái vị năm Ngọ, trị vì 39 năm ở thủ đô Bal Sri Banây (Nại, Ninh Chữ, Phan Rang).
4. Po Sulika
Lên ngôi năm Ngọ, thoái vị năm Mùi, trị vì 38 năm ở thủ đô Bal Sri Banây (Nại, Ninh Chữ, Phan Rang).
5. Po Klaong Garay
Lên ngôi năm Mùi, thoái vị năm Sửu. Trước tiên ngài đóng đô ở Bal Sri Banây (Nại, Ninh Chữ), sau đó dời thủ đô này về Bal Hanguw. Sau 55 năm trị vì, ngài trở về trời.
Bimong Po Klaong Garai,
Đây là tháp do vua Chế Mân xây vào thế kỷ thứ XIV mà hôm nay người Chăm gọi là
Bimong Po Klaong Garai, tức là vua huyền sử trong biên niên sử
B. Thời kỳ lịch sử
I. Triều đại Po Sri Agarang
6. Po Sri Agarang (1193-1235 hay 1205-1247)
Lên ngôi năm Sửu, thoái vị năm Mùi (dị bản khác cho là năm Ngọ), trị vì 43 năm, đóng đô ở Bal Hanguw (gần biên giới Krong Pha, Dalat).
7. Cei Anâk (1235-1269 hay 1247-1281)
Con của vua Po Sri Agarang, lên ngôi năm Mùi, thoái vị năm Tỵ, trị vì 35 năm. Trước tiên, ngài đóng đô ở Bal Hanguw (gần biên giới Krong Pha, Dalat) sau đó dời thủ đô về Bal Anguai (không biết ở đâu).
II. Triều đại Po Dobatasuar
8. Po Dobatasuar (1269-1294 hay 1281-1306)
Ngài không có liên hệ thân tộc với vương triều Po Sri Agarang, lên ngôi năm Tỵ, thoái vị năm Ngọ, trị vì 26 năm, đóng đô ở Bal Anguai (không biết ở đâu).
9. Po Patarsuar (1294-1316 hay 1306-1328)
Em của vua Po Dobatasuar, lên ngôi năm Ngọ, thoái vị năm Thìn, trị vì 23 năm, đóng đô ở Bal Anguai (không biết ở đâu).
10. Po Binnasuar (1316-1361 hay 1328-1373)
Em của vua Po Patarsuar, lên ngôi năm Thìn, thoái vị năm Sửu, trị vì 46 năm, đóng đô ở Bal Anguai (không biết ở đâu).
III. Triều đại Po Parican
11. Po Parican (1361-1385 hay1373-1397)
Ngài không có liên hệ thân tộc với vương triều Po Dobatasuar, lên ngôi năm Sửu, thoái vị năm Sửu, trị vì 25 năm, đóng đô ở Bal Anguai (không biết ở đâu).
Thởi kỳ bị gián đoạn 37 năm
Sau triều đại Po Parican là thời kỳ bị gián đoạn không có vua chúa (1385-1421 hay 1397-1433) trong suốt 37 năm từ năm Sửu đến năm Sửu, vì quân Ðại Việt sang tấn công Bal Anguai, sau đó vua chúa dời thủ đô Bal Anguai về Bal Pangdurang
12. Po Kasit (1421-1448 hay1433-1460)
Con của vua Parican, lên ngôi năm Sửu, thoái vị năm Thìn, trị vì 28 năm, đóng đô ở Bal Batsinâng (Hamu Linâng, phía sau làng Chăm Phú Nhuận, Phanrang).
13. Po Kabrah (1448-1482 hay1460-1494)
Con của vua Po Kasit, lên ngôi năm Thìn, thoái vị năm Dần, trị vì 35 năm, đóng đô ở Biuh Bal Batsinâng (Hamu Linâng, phía sau làng Chăm Phú Nhuận, Phanrang).
14. Po Kabih (1482-1578 hay1494-1530)
Em của vua Po Kabrah, lên ngôi năm Dần, thoái vị năm Dần, trị vì 37 năm, đóng đô ở Biuh Bal Batsinâng (thành trì Bal Batsinâng, phía sau làng Chăm Phú Nhuận, Phanrang).
15. Po Karutdrak (1518-1524 hay 1530-1536)
Em của vua Po Kabih, lên ngôi năm Dần, thoái vị năm Thân, trị vì 7 năm, đóng đô ở Biuh Bal Batsinâng (Hamu Linâng, phía sau làng Chăm Phú Nhuận, Phanrang).
IV. Triều đại Po Mahosarak
16. Po Mahosarak (1524-1529 hay 1536-1541)
Ngài không có liên hệ thân tộc với vương triều Po Parican, lên ngôi năm Thân, thoái vị năm Sửu, trị vì 6 năm, đóng đô ở Biuh Bal Batsinâng (Hamu Linâng, phía sau làng Chăm Phú Nhuận, Phanrang).
17. Po Kunarai (1529-1541 hay1541-1553)
Em của Po Mahosarak, lên ngôi năm Sửu, thoái vị năm Sửu, trị vì 13 năm, đóng đô ở Biuh Bal Batsinâng (Hamu Linâng, phía sau làng Chăm Phú Nhuận, Phanrang).
18. Po At (1541-1567 hay1553-1579)
Cháu của Po Kunarai, lên ngôi năm Sửu, thoái vị năm Thỏ, trị vì 27 năm. Ngài xây dinh riêng ở ngoài Biuh Bal Batsinâng (Hamu Linâng, phía sau làng Chăm Phú Nhuận, Phanrang).
V. Triều đại Po Klaong Halau
19. Po Klaong Halau (1567-1591 hay1579-1603)
Ngài không có liên hệ thân tộc với vương triều Po Mahosarak, lên ngôi năm Thỏ, thoái vị năm Thỏ, trị vì 25 năm, đóng đô ở Bal Pangdurang (gần làng Chung Mỹ , Phanrang. Ðầu thế kỷ thứ 18, Bal Pangdurang dời về Phanri ở Bal Canar, thôn Tịnh Mỹ).
20. Po Nit (1591-1601 hay1603-1613)
Con của vua Po Klaong Halau, lên ngôi năm Thỏ, thoái vị năm Sửu, trị vì 11 năm, đóng đô ở Bal Pangdurang (thôn Tịnh Mỹ, Phan Ri).
21. Po Jaiparan (1601-1606 hay1613-1618)
Em của vua Po Nit, lên ngôi năm Sửu, thoái vị năm Ngọ, trị vì 6 năm. Không biết ngài đóng đô ở đâu.
22. Po Aih Khang (1613-1622 hay1618-1622)
Con của vua Po Jaiparan, lên ngôi năm Sửu (một số dị bản cho là lên ngôi năm Ngọ), thoái vị năm Tuất, trị vì 11 năm (một số dị bản cho là 5 năm), đóng đô ở Bal Pangdurang (thôn Tịnh Mỹ, Phan Ri).
VI. Triều đại Po Mâh Taha
23. Po Mâh Taha (1622-1627)
Ngài không có liên hệ thân tộc với vương triều Po Klaong Halau, lên ngôi năm Tuất, thoái vị năm Thỏ, trị vì 6 năm, đóng đô ở đóng đô ở Bal Pangdurang (thôn Tịnh Mỹ, Phan Ri).
24. Po Romé (1627-1651)
Con rể của vua Po Mâh Taha, lên ngôi năm Thỏ, thoái vị năm Thỏ, trị vì 25 năm, đóng đô ở Biuh Bal Pangdurang (Thành Bal Pangdurang).
Em của Po Romé, lên ngôi năm Thìn, thoái vị năm Tỵ, trị vì 1 năm. Ngài xây một thành trì ở Bal Pangdurang (thôn Tịnh Mỹ, Phan Ri).25. Po Nraop (1652-1653)
26. Po Saktiraydapaghoh (1654-1657)
Con rể của Po Romé, nhận tấn phong của vua Việt Nam vào năm Ngọ, thoái vị năm Dậu, trị vì 4 năm, đóng đô ở Bal Pangdurang (thôn Tịnh Mỹ, Phan Ri).
27. Po Jatamah (1657-1659)
Con rể của vua Po Saktiraydapaghoh, nhận tấn phong của vua Việt Nam vào năm Dậu, với chức phong là Ndo Naok Ndai Tang Kuan (Ðô Ðốc Ðại Tướng Quân), trị vì 2 năm nhưng không biết thoái vị năm nào và đóng đô ở đâu.
28. Po Saot (1655, 1660-1692)
Con của vua Po Saktiraydapaghoh, nhận tấn phong của vua Việt Nam vào năm Mùi, nhưng cho mãi đến năm Tý, ngài mới lên ngôi. Ngài thoái vị năm Thân, trị vì 33 năm, đóng đô ở Bal Pangdurang (thôn Tịnh Mỹ, Phan Ri).
Thời kỳ bị gián đoạn (1692-1695)
Sau Po Saot, biên niên sử nói là có sự gián đoạn triều đại trong vòng 3 năm.
29. Po Saktiraydapatih (1695, 1696-1727)
Em của vua Po Saot, nhận tấn phong của vua Việt Nam vào năm Hợi, nhưng cho mãi đến năm Tý, ngài mới lên ngôi. Ngài thoái vị năm Mùi, trị vì 32 năm, đóng đô ở Bal Pangdurang (thôn Tịnh Mỹ, Phan Ri).
30. Po Ganuhpatih (1728-1730)
Cháu của vua Saktiraydapatih, nhận tấn phong của vua Việt Nam vào năm Thân, thoái vị năm Tuất, trị vì 3 năm, đóng đô ở Bal Pangdurang (thôn Tịnh Mỹ, Phan Ri).
31. Po Thuntiraidaputih (1731-1732)
Con của vua Po Saot, nhận tấn phong của vua Việt Nam vào năm Hợi với chức phong là Kham Lik Mbin (Khâm Lý Binh), thoái vị năm Tý, trị vì 1 năm. Không biết ngài đóng đô ở đâu.
32. Po Rattiraydaputao (1732, 1735-1763)
Cháu của vua Po Saktiraydapatih, nhận tấn phong của vua Việt Nam vào năm Tý cho đến năm Thỏ, ngài mới lên ngôi. Ngài thoái vị năm Mùi, trị vì 29 năm, đóng đô ở Bal Pangdurang (thôn Tịnh Mỹ, Phan Ri).
33. Po Tisundimahrai (1763-1765 )
Không rõ ngài có liên hệ gì với thân tộc của vương triều vua Po Mâh Taha. Nhận tấn phong của vua Việt Nam vào năm Mùi với chức phong là Kai Bait Mbin (Cai Bếp Binh). Ngài thoái vị năm Dậu, trị vì 1 năm và không biết ngài đóng đô ở đâu.
34. Po Tisuntiraydapaghoh (1765, 1768-1780)
Con của Po Thuntiraidaputih, nhận tấn phong của vua Việt Nam vào năm Dậu cho đến năm Tý ngài mới lên ngôi. Ngài thoái vị năm Tý, trị vì 13 năm và đóng đô ở Bal Pangdurang (thôn Tịnh Mỹ, Phan Ri).
35. Po Tisuntiraydapuran (1780-1781)
Ngài không có liên hệ thân tộc với vua Po Tisuntiraydapaghoh, nhận tấn phong của vua Việt Nam vào năm Tý với chức phong là Praong “quan lớn››. Sau 1 năm trị vì, ngài bị quân Việt Nam bắt vào năm Sửu, nhưng không cho biết lý do gì. Biên niên sử cũng không nói ngài đóng đô ở đâu.
36. Cei Brei (1783-1786)
Con của vua Po Tisuntiraydapaghoh (triều 33), nhận tấn phong của Nguyễn Nhạc (Tây Sơn) vào năm Thỏ với chức tấn phong là Ceng (Chưởng Cơ), trị vì 4 năm và thoái vị năm Ngọ. Không biết ngài đóng đô ở đâu.
35. Po Tisuntiraydapuran (1786-1793)
Sau một lần lên ngôi vào năm Tý, trị vì một năm, vua Nguyễn Nhạc lại tấn phong cho ngài năm Ngọ với chức Ceng (Chưởng Cơ), trị vì 8 năm sau đó bị bắt đưa về Ndaong Nai (Ðồng Nai) vào năm Sửu.
VII. Triều đại không biết xuất xứ
37. Po Ladhuanpaghuh (1793-1799)
Ngài xuất thân từ gia đình nông dân, nhận tấn phong của vua Việt Nam vào năm Sửu với chức phong là Ceng (Chưởng Cơ), trị vì 7 năm và thoái vị năm Mùi. Không biết ngài đóng đô ở đâu.
38. Po Saong Nhung Ceng (1799-1822)
Không biết ngài xuất thân từ gia đình nào. Ngài nhận tấn phong của vua Việt Nam vào năm Mùi với chức Ceng (Chưởng Cơ), trị vì 24 năm và thoái vị vào năm Ngọ. Ngài đóng đô ở Bal Pangdurang (thôn Tịnh Mỹ, Phan Ri).
Tác phẩm Sakkarai Dak Rai Patao chấm dứt với triều đại Po Soang Nhung Ceng (1799-1822). Ngược lại, một số biên niên sử khác viết bằng tiếng Chăm cho rằng sau ngày từ trần của Po Saong Nhung Ceng tại Bal Canar (Phan Rí) vì tuổi già chứ không phải là người chạy sang Campuchia lánh nạn như một số nhà nghiên cứu (Dorohiem & Dohamide) hiểu lầm, còn có hai vị vua cuối cùng tiếp tục lên ngôi, đó là :
39. Po Klan Thu (1822-1828)
Po Klan Thu là phó vương dưới thời Po Saong Nhung Ceng.
40. Po Phaok The (1828-1832)
Po Phaok The là con của Po Saong Nhung Ceng (1799-1822), tức là tiền nhân của dòng Bà Thềm ở Phan Ri hôm nay.
Lợi dụng ngày từ trần của Lê Văn Duyệt (Tổng Trấn Gia Định Thành) vào năm 1832, vua Minh Mạng quyết định xóa bỏ vương quốc Champa trên bản đồ Đông Dương.
Ðoạn cuối cùng của Sakkarai Dak Rai Patao chỉ là phần tóm tắc các niên đại vua chúa thuộc thời kỳ huyền sử và các vua chúa thuộc thời kỳ lịch sử, cũng như tổng số các vua chúa Panduranga nhận tấn phong của vua Việt Nam. Chính vì thế, chúng tôi không đưa ra bàn ở đây.
Sakkarai Dak Rai Patao này được sáng tác hay là chép lại vào năm đệ nhất của triều đại Ham Ngi (Hàm Nghi), tức là vào năm 1884.
CÁC VỤ VUA LỊCH SỬ LÀ HOÁ THÂN CỦA CÁC VỊ VUA HUYỀN SỬ
1. Po Uwaluah
2. Po Binnasur
Po Binasuor hay còn được biết đến rộng rãi hơn với tên gọi Chế Bồng Nga (Hán-Việt: 制蓬峩, ? – 23 tháng 1 năm 1390 ÂL), theo cách gọi của người Ê Đê và Giarai tại vùng Tây Nguyên là R’čăm B’nga (Anak Orang Cham Bunga, nghĩa là “Bông hoa ánh sáng của người Champa”) Bhinethuor, Che Bunga hay A Đáp A Giả trong các tài liệu Trung Hoa, là tên hiệu của vị vua thứ ba thuộc vương triều thứ 12 (tức là vị vua đời thứ 39) của nhà nước Chiêm Thành. Là một vị vua kiệt xuất, có tài võ bị, trong thời gian cầm quyền, ông đã chấn hưng nhà nước Chiêm Thành từ một quốc gia suy đồi trở nên hùng mạnh.
Trong giai đoạn 1367–1389, ông từng 12 lần đưa quân Bắc phạt Đại Việt nhằm tái chiếm các vùng đất Châu Ô và Châu Lý vốn được chuyển giao sang chính quyền Đại Việt trong thời gian cai trị của vua Chế Mân. Năm 1377, vua Trần Duệ Tông dẫn đại quân phản công vào đất Chiêm. Chế Bồng Nga nhử quân Đại Việt đến thành Đồ Bàn, rồi đổ phục binh ra giết vua Trần Duệ Tông cùng phần lớn quân Việt. Thắng lợi này khiến triều đình Đại Việt khiếp đảm, sau này hễ Chế Bồng Nga bắc tiến là thượng hoàng Trần Nghệ Tông, các vua Trần sau Duệ Tông, và bình chương Lê Quý Ly bỏ kinh thành chạy dài. Trong cuộc chiến này, ông đã có tổng cộng 3 lần đánh vào tận kinh đô Thăng Long.
Năm 1390, ông tử trận sau khi trúng phải đạn tại trận Hải Triều. Cái chết của ông khép lại một trang hùng sử trong lịch sử Chăm Pa. Chế Bồng Nga được xem là vị vua vĩ đại cuối cùng của vương quốc Chăm Pa vì sau khi ông mất, nước Chăm không còn quật khởi như trước được nữa.
3. Po Putik
4. Po Sulika
.
5. Po Klaong Garay
Po Klong Girai, trị vì (1167-1190). Tên khác: Jaya Indravarman, Jaya Indravarman IV, tên hiệu: Sri Jaya Indravarmadeva, Po Klong Garai, Po Klau Girai.
Vua Chiêm Thành (Champa), hiệu: Raja-di-raja.
Tên của ông được dịch ra tiếng Phạn là Jaya, “chiến thắng”; Indra “sở hữu những giọt mưa” từ tiếng Phạn इर दु (indu) “một giọt” và र (ra) “sở hữu”; và Varman, tiếng Phạn là một chuyên gia về võ thuật. Indra cũng là vị thần chiến binh Ấn Độ cổ đại của bầu trời và mưa. Ông là vị thần chính trong văn bản Ấn Độ giáo Rigveda.
Tôn giáo: Islam.
Sắc tộc Jarai (Jrai).
Các con gồm: công chúa Bhagyavati, công chúa Sumitra, công chúa Sudaksina.
Người Islam ở đảo Hải Nam (Hainan) dạy quân vua Chiêm Thành cách cưỡi ngựa xung trận.
Jaya Indravarman IV (tiếng Phạn: जय इन्द्रवर्मन् ८) là một vị vua Champa của triều đại thứ 11, cai trị từ năm 1167 đến năm 1192.
Một kẻ soán ngôi, “ông tự gọi mình là Jaya Indravarman trên Vatu và nói rằng ông đến từ ‘nơi nổi tiếng được biết đến với cái tên Gramapuravijaya.” Ông “tràn đầy năng lượng, can đảm và tự hào… thông thạo tất cả các shastra.” Ông gửi các cống vật đến triều đình Trung Quốc và Đại Việt. Không thành công trong việc mua ngựa từ Trung Quốc cho một cuộc xâm lược trên bộ, ông đã chuẩn bị một đội tàu chiến.
Ông được ghi nhận là người lãnh đạo cuộc xâm lược Champa của Đế quốc Khmer vào năm 1177. Cuộc chiến được gọi là Thủy chiến Tonlé Sap. Lực lượng nước của ông đã đi qua sông Mê Kông và sông Tonle Sap đến hồ Tonlé Sap và cướp phá Angkor, giết chết Tribhuvanadityavarman.
Năm 1190, vua Khmer Jayavarman VII, con trai và người kế vị của Dharanindravarman II, đã tìm cách báo thù chống lại Champa. Kinh đô được Vidyanandana chiếm giữ và Jaya bị đưa trở lại Campuchia làm tù nhân. Quốc vương Campuchia sau đó đã thả ông trong một nỗ lực để giành lại ngai vàng vào năm 1191. Tuy nhiên, Vidyanandana đã đánh bại ông và khiến Jaya bị giết. Ông mất năm 1192.
Thuỷ chiến Tonle Sap
Thủy chiến Tonlé Sap hay Chiến tranh Khmer – Panduranga là một biến cố ngắn diễn ra trong năm 1177, được ký ức hóa ở di tích Angkor Wat và nhiều văn bia Champa. Sự kiện này tuy chỉ gây tác động xấu nhất thời cho nền văn hóa Angkor nhưng khơi mào cho giai đoạn lụi tàn của nó.
Nguyên nhân
Trong thời kỳ đỉnh thịnh suốt thế kỷ X đến XII, chủ trương của triều đình Kampuchea là vun bồi nền văn hóa của mình, đồng thời tận lực mở rộng cương vực ra toàn khu vực Trung-Ấn. Vì thế, các thành quốc trù phú ở duyên hải Nam Trung Bộ là một trong những đích đến của người Kampuchea.
Kể từ năm 967, quốc gia Champa đã hoàn toàn phân rã; dải đất nay là Nam Trung Bộ lại trở thành chế độ phong kiến với 5 tiểu quốc tự trị, trong đó, Vijaya có vai trò như lĩnh tụ của không gian Champa, các tiểu quốc còn lại phải phụng cống xưng thần. Tuy khối Champa chỉ gồm những lãnh địa nhỏ yếu, nhưng cuộc sống rất phát đạt nhờ quảng đại giao thương. Theo ký sự của nhiều khách trú Trung Hoa hoặc Ấn Độ, người Champa luôn ưa thích phục sức bằng vàng ròng, thậm chí thường may lẫn vàng vào áo quần. Vì lẽ đó, dường như người Champa phải trả giá đắt cho chính sự thịnh vượng của mình.
Kampuchea dưới sự cai trị của Suryavarman II đạt tới tột đỉnh huy hoàng. Ngôi đền đồ sộ nhất của kinh đô Angkor được xây dựng trong 37 năm: Angkor Wat, là nơi thờ thần Vishnu. Ông đã xâm chiếm đến nơi hiện nay là cực Bắc Lào, phía Tây thôn tính được vương quốc Haripunjaya (nay là Trung phần Thái Lan) và một khu vực phía viễn Tây vốn thuộc vương quốc Pagan, phía Nam lấn đến vương quốc Grahi (nay là tỉnh Nakhon Si Thammarat của Thái Lan), phía Đông lấn dần rồi đô hộ tất cả các tiểu quốc Champa.
Diễn biến
Không còn nhiều ký ức được lưu lại về quãng thời gian đô hộ của Kampuchea, nhưng việc bị tước đoạt quyền tự trị đã khiến người Champa tức giận. Từ cực Nam, vị lãnh chúa có tước hiệu Po Klong Garai (lên ngôi vào năm 1167) đã triệu tập những tì tướng đáng tin cẩn nhất của mình, kín đáo chuẩn bị cho một cuộc phản kháng. Điều mà ông trù liệu ban sơ chỉ là thừa cơ hội Vijaya suy yếu để cắt đứt mối quan hệ bất bình đẳng với thành quốc này; nhưng thành công quá chóng vánh trước những ứng phó kém cỏi của Vijaya và cả đạo quân chiếm đóng Kampuchea đã khiến Po Klong Garai cho rằng, đây là thời cơ hi hữu để Panduranga vươn lên thống trị khối Champa. Muốn vậy, Po Klong Garai phải gây dựng uy tín thông qua việc đương đầu với địch thủ truyền kiếp của người Champa – tức là triều đình Kampuchea – dù thực tế là chế độ bảo hộ không lấy gì làm khắc nghiệt.
Sự may mắn đạt được của Po Klong Garai là khi người Kampuchea mải miết hoàn tất đại công trình Angkor Wat cùng hàng loạt đền đài trong khu vực Angkor, triều đình đắm chìm trong hoan tiệc hoặc những cuộc tranh vị đẫm máu. Các toán quân của Po Klong Garai bí mật men theo con nước triền sông Mekong để tiến vào các khu vực cư trú của người Kampuchea, khoảng cách ngắn từ Panduranga sang tới Angkor cũng là một thuận lợi tiếp theo cho Po Klong Garai.
Trong một thời điểm chưa rõ vào năm 1177, lần đầu tiên người Champa đụng độ đế quốc Kampuchea ngay trên lãnh thổ Kampuchea. Lực lượng thủy quân tinh nhuệ từ Panduranga gặp phải một đạo quân mỏi mệt ít thao luyện của Kampuchea, đã gây ra một cuộc chiến kinh hoàng ở lưu vực hồ Tonlé Sap. Bản thân vua Tribhuvanadityavarman bị giết nơi trận tiền khiến đội ngũ rối loạn, nhiều thuyền bè tự húc vào nhau rồi chìm, số còn sống sót thì tháo chạy ngược về Yaśodharapura. Po Klong Garai thừa thắng đã hạ lệnh toàn quân ruổi thuyền lên tận Siem Reap, quan trấn thủ tại đây cũng vứt thành mà chạy. Sự kiện này được mô tả rõ rệt trên những bức tường Bayon và Banteay Chhmar.
Quân đoàn Panduranga dễ dàng tiến vào được kinh đô Yaśodharapura. Po Klong Garai bỏ mặc cho binh sĩ thỏa thuê cướp bóc, chém giết và hiếp dâm với lý do trả đũa cho thời kỳ bị Kampouchea áp bức. Hầu hết khu vực Yaśodharapura, cùng với Angkor Wat bị quân Panduranga đốt phá tan hoang, mãi đến khi Jayavarman VII cởi được ách đô hộ của người Champa thì đại công trình này mới dần được phục hồi. Trong mấy năm sau sự biến hồ Tonlé Sap, Kampouchea mất phần lớn quyền tự trị, trở thành đối tượng bị chiếm đóng và áp bức tàn tệ. Từ địa vị kẻ chống ách đô hộ, Panduranga đã trở thành thế lực xâm lược.
Kết quả
Mặc dù sự kiện thủy chiến Tonlé Sap cùng với cuộc tàn phá kinh đô Yaśodharapura không trực tiếp hoặc ngay lập tức làm sút giảm nền văn hóa Kampouchea, nhưng nó khiến Kampouchea đánh mất uy thế trước chư hầu và tạm thời đánh dấu kết cho những cuộc tranh vị nơi vương đình. Đối với Champa, đây là điều kiện thuận lợi cho sự tái thống nhất sau hai thế kỷ phân rã, tuy rằng hình thái phong kiến vẫn được bảo trì. Từ lúc này, nền văn hóa Champa dời hẳn trọng tâm tới lãnh địa Panduranga, đồng thời đưa Po Klong Garai lên địa vị lĩnh tụ của toàn khối.
Nhưng để giành được phần thắng, cũng như duy trì sự đô hộ Kampouchea, Panduranga phải gánh quá nhiều hao tổn. Bởi vậy, vào năm 1190, Jayavarman VII (lên ngôi năm 1181) nhờ sự trợ lực của Vidyanandana (vương tử Vijaya, vốn bất mãn với uy thế của Panduranga) đã quật khởi phản kháng được đạo quân chiếm đóng Panduranga, vốn đã trở nên suy nhược trong thời gian quá dài lưu trú ở Kampouchea. Chẳng những thế, Jayavarman VII đuổi được tới tận lãnh thổ Champa, qua đó khối Champa lại thành phiên thuộc của Kampuchea, nhưng chỉ qua hình thức cống nạp chứ không có quy chế đóng quân như trước. Từ thời điểm này, Kampouchea không còn khả năng gây ảnh hưởng đến các tiểu quốc Champa nữa.
Về phần Po Klong Garai, ông vẫn được các đấu thủ kiêng dè và nể trọng, đối với các tiểu quốc còn lại thì Panduranga tồn tại tương đối độc lập suốt gần một thế kỷ. Trong giai đoạn trị vì sau, Po Klong Garai lo củng cố ưu thế của Panduranga bằng việc thi hành nhiều chính sách an dân, nhất là dựng các công trình thủy lợi lớn để cải tạo nông nghiệp, trình độ của quân lực cũng liên tục được tăng cường để giữ vững lãnh địa. Nhờ thế, cả Kampouchea và Vijaya không tìm được bất cứ kẽ hở nào để trả đũa.
Phong hóa
Lễ hội đua ghe ngo vốn đã được biên chép từ rất lâu trong lịch sử Kampouchea cũng như nhiều quốc gia lân cận. Trên các bức tường tại kinh đô Angkor xây dựng từ thế kỷ 12 đã có tạc cảnh của lễ hội đua ghe rất rõ ràng. Theo các sử liệu còn lưu trong Viện Phật học Campuchia, ngay từ thời vua Jayavarman VII ở thế kỷ XII ở kỷ nguyên Angkor rực rỡ, người Khmer được cho là đã thắng lợi oanh liệt trong thủy chiến Tonlé Sap với nước láng giềng Champa. Chiến thắng này (khoảng sau các năm 1177-1181) giải phóng lĩnh thổ bị chiếm đóng cho người Khmer và bắt đầu thời kỳ hòa bình lâu dài cho vương quốc. Tương truyền, để kỉ niệm chiến thắng này, hàng năm lễ hội đua ghe được tiến hành một cách tưng bừng trên khắp đất nước. Trên các bức tường của thành Bayon tại Angkor, người ta đã tìm thấy những hình ảnh khắc trên đá mô tả thủy quân Khmer với vua Jayavarman VII dũng cảm đang cầm một ngọn giáo và cung tên đứng trên thuyền vua.
Truyền thuyết về tháp Po Klong Garai
Có một truyền thuyết liên quan đến tháp Poklong Garai kể rằng ngày xưa ở Play Chakling có hai ông bà tên Ôn Paxa và Muk Chakling dù đã cao niên nhưng chưa có con. Một lần ra biển mò cua bắt ốc ông bà thấy có một đứa bé đang trôi trên bọt nước bèn đem về nuôi và đặt tên là Karit.
Karit lớn lên trở thành một cô gái xinh đẹp, nết na nên được nhiều người quý mến. Một hôm, Karit cùng cha vào rừng hái củi. Trời nóng nực, hai cha con khát nước nhưng xung quanh lại không có sông suối. Bỗng Karit thấy một tảng đá bên trên đọng ít nước trong, liền đến uống. Lạ thay nàng uống đến đâu nước trong đá tràn ra đến đó. Nhưng khi nàng đi gọi cha đến uống thì chẳng thấy giọt nước nào.
Sau dạo đó Karit có thai và rồi sinh ra một cậu bé đã xấu xí lại rất hấu ăn. Ông bà đặt tên cho cậu là Jatol. Karit không chịu nổi lời đàm tiếu là gái chửa hoang nên bỏ đi để con lại cho ông bà nuôi. Đứa bé càng lớn càng xấu xí, mình lại đầy ghẻ chốc nên chẳng mấy đứa chịu chơi chung. Khi ông bà mất, cậu cũng vừa khôn lớn. Cậu cùng bạn là Po Klonchanh đi buôn trầu. Một hôm trên đường về, Jatol thấy mệt nên nghỉ ở tảng đá bên đường. Pô Klonchanh về trước rồi đem cơm ra cho bạn. Khi trở lại Pô Klonchanh thấy có hai con rồng trắng đang liếm mình Jatol. Po Klonchanh chạy đến thì hai con rồng biến mất và lạ thay Jatol đã trở thành một thanh niên tuấn tú, khôi ngô khác thường. Điềm lạ đó dần lan ra khắp miền và rồi đến tai vua Nuhol, người đang quản thủ Iaru. Được biết Jatol sẽ là một vị thiên tài xuất chúng, vua Nuhol cho mời Jatol đến. Thấy đúng như lời đồn đại vua đã giữ Jatol lại và gả công chúa Thakol cho.
Năm 1167, vua Xulika ở thành Bal Sri Banây băng hà mà không có người nối ngôi. Biết Jatol là một nhân tài, quần thần đã cho voi trắng rước về nối ngôi. Jatol lên làm vua, xưng là Po Klong Garai. Sau 5 năm, ông dời đô lên Bal Hangâu. Bấy giờ, Panduranga, quê hương của ông bị quân Chân Lạp thường xuyên đánh phá. Pô Klong Garai phải mang quân vào Panduranga tiếp sức và dẹp loạn. Theo sử liệu Chăm thì vào năm Sửu, Chăm lịch, vua Po Klong Garai từ Balcribanơi vào Panduranga xem địa thế để xây tháp kỷ niệm thuở hàn vi của mình. Khi đến vùng Balhul thì bị tướng Hakral người Miên đang cai quản hạt này ngăn cản. Vua Po Klong Garai không muốn xảy ra cuộc đổ máu vô ích nên thách tướng Miên thi tài xây tháp, ai xây xong trước sẽ thắng. Biết khó đánh thắng vua Pô Klong Garai bằng sức mạnh quân sự, Hakral đã chấp thuận. Vua Po Klong Garai xây tháp trên đồi Balhla, còn tướng Hakral xây ở vùng Balhul. Kết cục, bên vua Pô Klong Garai với sự tài trí của mình đã hoàn thành trước, tướng Hakral thua cuộc đành rút quân về.
VUA ĐƯỢC THỜ CÚNG NHƯ THẦN
Po Rome hay Po Romê là vua của tiểu quốc Panduranga (Chiêm Thành) từ năm 1627 đến năm 1651. Ông là con rể của Po Klong M’hnai.
Vua Po Rome được thờ cúng như thần ở tháp Po Rome Phan Rang. Tháp Po Rome hay còn gọi là tháp Hậu Sanh là một ngôi tháp Chăm Pa hiện đang còn tồn tại tại làng Hậu Sanh, xã Phước Hữu, tỉnh Khánh Hòa.
Po Rome được thờ trong ngọn tháp mà xưa kia dùng để thờ thần Shiva.
Vua Po Rome có nhiều sự tích khác nhau, một trong số đó là
Vua Po Romé thuộc tộc người Churu, thuở nhỏ tên là Jakathaot. Po Romé sinh ra trong một gia đình khá giả ở Panduranga bởi người mẹ đồng trinh. Mẹ ông vì ăn lá cây thần Krak mà có thai. Vì chưa có chồng mà có con, nên mẹ con Po Romé bị ông bà ngoại đuổi khỏi nhà, lang thang từ làng này sang làng khác.
Po Romé lớn lên trong hoàn cảnh đó, cùng mẹ kiếm sống bằng cách đi chăn trâu thuê. Cậu bé cũng thường xuyên bị chế nhạo tại các nơi biết lai lịch của mình. Vượt qua những lời dị nghị, Po Romé lớn vụt lên thành một chàng trai khôi ngô, tuấn tú, vóc dáng khác người.
Định mệnh đã đưa đẩy chàng làm mục đồng cho vua Po Mưh Taha. Po Romé có tài bắn cung, mỗi chiều đi về, chàng mang về những thỏ, sơn dương…Truyền thuyết kể là, trưa nọ, ham mê theo dấu chân nai, chàng đi mãi vào rừng đến mệt lả rồi nằm nghỉ dưới gốc cây cao. Đang thiu thiu ngủ, mở mắt ra chàng nhìn thấy hai cục than lửa đỏ lựng giữa tán lá: một con rồng khổng lồ đang nhìn đăm đắm mình, chàng hoảng hốt bỏ chạy và lạc đường, mãi tối mò mới tìm đến nhà. Sáng sau khi thức dậy, thần sắc Po Romé hoàn toàn đổi khác: phương khi, oai vệ lạ thường.
Lúc này, vua Po Mưh Taha đã già nhưng chưa tìm được người nối ngôi, vì ông chỉ có 1 người con gái. Một hôm, nghe thấy tiếng Po Romé đuổi chó su nhà, vị chiêm tinh của vua Po Mưh Taha bảo đấy chính là giọng vua tương lai của Champa.
Khi xem kỹ tướng mạo Po Romé, vị chiêm tinh tiến cử chàng lên nhà vua và được chấp thuận. Công chúa Bia Than Cih được gả cho Po Romé. Vài tháng sau, Po Romé lên ngôi vua trị vì đất nước, sau khi lên ngôi vua lấy tên hiệu là Po Romé, trị vì vương quốc Champa (1627 – 1651).
Po Romé là vị vua có nhiều công trạng đối với sự nghiệp phát triển của dân tộc Chăm như: dung hòa sự mâu thuẫn giữa cộng đồng người Chăm Ahiér (Chăm ảnh hưởng tôn giáo Bà-la-môn) và cộng đồng người Chăm Awal (Chăm ảnh hưởng Hồi giáo cũ).
Po Romé cho lập thủ đô Kraung Ala ở Bal Caung, phát triển công trình thủy lợi như đập Cà Tiêu (Banâk Katéw), đập Chavin (Banâk Caping), đập Marên (Banâk Marén)… tưới cho đồng Kraung Biuh hàng vạn mẫu, củng cố triều đình, trao chức Tả tướng quân, Hữu tướng quân cho Xah Bin, Palak Bin.
Rồi thân hành qua Kalentan 7 năm dùi mài kinh Coran lẫn phép thuật, gồng mình để hóa giải mâu thuẫn tôn giáo đang ngày càng trầm trọng trong vương quốc. Với công lao như vậy nên khi mất, vua được cộng đồng người Chăm tôn thờ như một vị thần.
Po Romé là một vị vua có nhiều công lớn với dân tộc Chăm và cũng là một người đàn ông rất say mê nhan sắc. Sau khi kết hôn với người vợ đầu Bia Than Cih (người Chăm Bàni), Bia Than Cih không có con, điều đó làm vua Po Romé hết sức đau buồn, cuộc hôn nhân giữa vua Po Romé và hoàng hậu Bia Than Cih vì thế cũng không trọn vẹn.
Po Romé đã lặn lội đi khắp các xứ sở để tìm thuốc về chữa bệnh cho hoàng hậu nhưng tìm kiếm mãi cũng vô vọng. Một hôm, vua Po Romé đến xứ sở của người Ê đê, ông tình cờ gặp cô gái Ê đê xinh đẹp H Drah Jan Kpă và đã say đắm H Drah Jan Kpă ngay cái nhìn đầu tiên.
Công chúa Ê đê H Drah Jan Kpă là con gái cưng của một vị tù trưởng người Ê đê. H Drah Jan Kpă là con gái rượu của vị tù trưởng Ê đê này. Trong tiếng Ê đê, H Drah Jan Kpă có nghĩa là công chúa Hạt mưa, vì thế vị công chúa Ê đê này còn được người Ê đê xưa đến nay gọi cung kính và yêu quý với tên Công chúa Hạt mưa.
Tù trưởng rất yêu quý Công chúa Hạt mưa, coi Công chúa Hạt mưa là vật báu trong nhà, luôn nói sẽ tìm cho H Drah Jan Kpă một người chồng xứng đáng. Nhan sắc của H Drah Jan Kpă được người Ê đê ví đẹp như hạt mưa, có thể tưới mát cả mùa màng khô hạn, đem đến sức sống mới cho muôn cây, muông thú.
Khi vua Po Romé gặp H Drah Jan Kpă, vua đã đưa H Drah Jan Kpă về kinh thành, cưới nàng làm vợ hai. Nàng trở thành thứ hậu Bia Than Can của Po Romé. Sau này, vua Po Romé còn có thêm một người vợ là công chúa Ngọc Khoa – con chúa Nguyễn, gọi là nàng Bia Ut, nhưng chỉ có nàng Bia Than Can là người duy nhất sinh cho vua Po Romé những đứa con kháu khỉnh.
Theo sử liệu của người Chăm, khi công chúa Hạt mưa về kinh thành, nhan sắc của nàng như nhan sắc của nữ thần mặt trời, đã chinh phục các thần dân của vua Po Romé.
Tất cả đều tin rằng, nàng Bia Than Can không chỉ là người vợ đẹp của vua Po Romé, mà còn là người sẽ sinh ra đứa con nỗi dõi cho hoàng tộc Chăm, đúng như cái tên công chúa Hạt mưa – cái tên của sự đâm chồi, nảy lộc của nàng.
Quả nhiên sau này điều đó đã thành sự thật, ngày thứ hậu Bia Than Can hạ sinh các công chúa, hoàng tử, là những ngày kinh thành Champa say men lễ hội, chào đón người kế nghiệp của vua Po Romé.
Vua Po Romé đã có 2 người vợ xinh đẹp, đã có những đứa con xinh xắn và một vương quốc với những thần dân yêu quý vị vua của mình. Thứ hậu Bia Than Can là người hiền lành, tuy sinh con cho vua Po Romé nhưng biết phận thứ thiếp, nên giữ được mối giao hảo với hoàng hậu Bia Than Cih.
Hai người vợ của vua Po Romé sống hòa bình với nhau trong hoàng cung. Nhưng sau này vua Po Romé vẫn cưới thêm một người vợ, là công chúa Ngọc Khoa, con gái của chúa Sãi Nguyễn Phúc Nguyên.
Công chúa Ngọc Khoa là nàng công chúa có nhan sắc nghiêng nước nghiêng thành của Chúa Sãi Nguyễn Phúc Nguyên. Một lần vì muốn sang vương quốc Champa chơi, công chúa Ngọc Khoa đã đóng giả dân buôn qua biên ải. Sang đến vương quốc Champa, nhan sắc của nàng công chúa đã nhanh chóng theo tin đồn đến tai nhà vua.
Vua cho mời nàng vào cung và ông vua tuổi ngũ tuần nhưng vẫn còn phong độ dạt dào đã bị choáng váng bởi nhan sắc nàng công chúa tuổi vừa đôi tám. Vua Po Romé lập tức cho người sang gặp Chúa Sãi Nguyễn Phúc Nguyên, xin hỏi công chúa Ngọc Khoa về làm vợ.
Lúc đó, chúa Sãi Nguyễn Phúc Nguyên đang phải lo chiến sự bốn bề, đâu đâu lãnh thổ cũng bị xâm phạm, vì muốn giữ được giao hảo giữa hai vương quốc nên đã đồng ý gả công chúa Ngọc Khoa cho vua Po Romé.
Về đến hoàng cung, công chúa Ngọc Khoa là ái phi được vua Po Romé cưng chiều nhất. Khi công chúa Ngọc Khoa ốm nặng, có vị chiêm tinh vào cung Po Romé, phán rằng công chúa không bị bệnh, vị chiêm tinh đã bị vua Po Romé đuổi về quê.
Có vị chiêm tinh khác nói rằng, muốn nàng Bia Út khỏi bệnh, nhà vua phải triệt đi cây Krek, cây lim thần biểu tượng sức mạnh của vương quốc. Sau một thoáng ngập ngừng, vua đã làm theo. Đích thân vua là người vác cây rìu đi chặt.
Sau ba nhát, thân cây Krek to lớn đổ nhào, máu Krek tuôn chảy suốt bảy đêm. Nàng Bia Út khỏi bệnh. Hai người lại mặn nồng hương tình. Chỉ tiếc là vì say mê nhan sắc của nàng công chúa nước Việt, vua Po Romé dần bỏ quên chuyện chính sự. Ông trở thành vị vua cuối cùng của vương quốc Champa.
Vua Po Romé chết đúng vào lúc vương quốc Champa sụp đổ. Theo tục lệ Champa xưa, những người vợ của vua phải lên giàn hỏa thiêu cùng chồng, để theo hầu hạ vua. Nhưng trong những người vợ vua, chỉ có công chúa Hạt mưa – thứ phi Bia Than Can là dũng cảm nhảy vào lửa chết theo chồng.
Để tưởng nhớ vị thứ hậu chung thủy và dũng cảm, nhân dân Champa đã lập một ngôi tháp phụ, bên cạnh tháp Po Romé. Sau này khi ngôi tháp sụp đổ, tượng bà được đưa vào tháp chính, bên cạnh tượng vua Po Romé.
Chuyện tình của công chúa Ê-đê và quốc vương Champa
Một số thắc mắc xung quanh vị vua Po Rome có khi bạn chưa biết
Mười sáu vua Islam sắc tộc thượng (Degar) trong vương triều Vijaya-Chiêm Thành
Po Rome vị vua Panduranga dòng dõi Churu Hồi giáo-Islam
Một số tên gọi vị vua Po Rome
VUA PO ROMÉ CỦA CHAMPA MỘT GÓC NHÌN PHI HUYỀN THOẠI


