![]()
Các công chúa/công nữ Ngọc trong lịch sử nước Nam thời song song tồn tại Đại Việt (vua Lê, chúa Trịnh, chúa Nguyễn), nước Chămpa, Chân Lập
Công nữ, con chúa Sãi Nguyễn Phúc Nguyên (1563 – 1635), chúa Nguyễn đầu tiên xưng An Nam Quốc Vương
– Công nữ Ngọc Vạn (1605-1658), con của chúa Sãi Nguyễn Phúc Nguyên, lấy vua Chân Lạp Chey Chetta II, sau khi triều đình Chân Lạp đấu đá giết lẫn nhau với thế lực phía sau ngoaj bang như Lào, Xiêm La, Đại Việt, … bà về sống ở Sài Gòn, Bà Rịa, cuối đời ẩn tu ở chùa Gia Lào (núi Chứa Chan, Đồng Nai).
– Công nữ Ngọc Khoa, không rõ sinh mất năm nào, là con gái thứ ba của chúa Sãi Nguyễn Phước Nguyên. Theo Nguyễn Phước tộc Thế phả, bà được gả cho Po Romê vào năm Tân Mùi (1631), người được cho là vì bà mà phá cây thần Krek của Chămpa và dẫn đến sự sụp đổ của Chămpa, vào tay chúa Nguyễn. Bà không có con với Po Rome.
– Công nữ Ngọc Hoa (?–1645), con chúa chúa Sãi Nguyễn Phúc Nguyên, sau được gả cho Araki Sotaro (Hoang Mộc Tông Thái Lang; 荒木宗太郎) của Nhật Bản. Araki Sotaro vốn thuộc dòng dõi samurai ở Kumamoto đi thuyền mang cờ hiệu của công ty Đông Ấn Hà Lan VOC đến cập cảng Hội An vào năm 1619. Theo sách Ngoại phiên thông thư (quyển 13, tr 87-88) thì cũng đúng vào năm đó chúa Nguyễn Phúc Nguyên người cực kỳ coi trọng hoạt động ngoại thương quyết định gả con gái của mình cho nhà lái buôn Nhật Bản tài ba này. Ít lâu sau cô đã theo người chồng Nhật Bản về định cư ở Nagasaki. Cô công chúa họ Nguyễn có cuộc sống thật sự hạnh phúc, đắc ý cùng chồng, để lại nhiều dấu ấn tốt đẹp trên đất Nhật Bản. Câu chuyện về hai người trở thành truyền kỳ ở Nagasaki.
Công chúa con vua Lê Hiển Tông (1717 – 1786), vị vua Lê có nhiều con cái và tại vi lâu nhất trong bối cảnh Trinh Nguyễn phân tranh, tàn dư nhà Mạc, chúa Bầu và phong trào Tây Sơn diễn biến phức tạp, cùng chiến tranh với nhà Thanh
– Công chúa Ngọc Hân (1770 – 1799) là con gái của vua Lê Hiển Tông, là vợ thứ của Quang Trung hoàng đế Nguyễn Huệ. Dân gian còn lưu truyền tên gọi bà là Bà Chúa Tiên khi bà ở Phú Xuân vì dinh phủ lập ở chùa Kim Tiên.
– Công chúa Ngọc Bình (1785 – 1810) là con gái út của vua Lê Hiển Tông, em cùng cha khác mẹ với Ngọc Hân (mẹ của hai công chúa cùng là người làng Nành của Kinh Bắc). Công chúa Ngọc Bình lấy vua Cảnh Thịnh (1783 – 1802), con của Quang Trung, nhưng sau lại lấy vua Gia Long, sinh được 2 hoàng tử và 2 công chúa.
NGỌC VẠN
Công nữ Ngọc Vạn (公女玉萬), tương truyền có họ tên đầy đủ là Nguyễn Phúc Ngọc Vạn (阮福玉萬) hoặc Nguyễn Phúc Thị Ngọc Vạn, gọi tắt là Ngọc Vạn, sinh khoảng năm 1605, mất sau năm 1658, là con gái thứ hai của chúa Sãi Nguyễn Phúc Nguyên (ở ngôi: 1613-1635).
Nhiều tài liệu trước đây thường ghi tước vị của bà là công chúa, nhưng thực sự là công nữ, vì bà chỉ là con của chúa Nguyễn.
Năm Canh Thân (1620), bà được gả cho vua Chân Lạp là Chey Chetta II, và trở thành vương hậu Campuchia.
Nhờ có cuộc hôn nhân này mà tình giao hảo giữa hai nước được tốt đẹp, để chúa Nguyễn có thể dồn lực lại hòng đối phó với chúa Trịnh ở Đàng Ngoài, đồng thời cũng tạo thêm cơ hội cho người Việt mở rộng lãnh thổ về phía Nam.
Ngọc Vạn là con gái thứ hai của chúa Nguyễn Phúc Nguyên và Hiếu Văn Hoàng hậu Mạc Thị Giai. Mạc Thị Giai vốn là con gái của Mạc Kính Điển, cháu gái của Mạc Thái tông Mạc Đăng Doanh.
Ngọc Vạn có nhiều anh trai và chị em gái ruột, trong đó có Nguyễn Phúc Lan (sau là chúa Thượng), Ngọc Liên, Ngọc Khoa.
Cha bà là chúa Sãi Nguyễn Phúc Nguyên lên ngôi chúa năm 1613, và để củng cố vị thế của mình, vị chúa này đã tìm cách giao hảo với các nước phương Nam khi đó là Chiêm Thành và Chân Lạp.
Chúa Sãi có bốn người con gái là: 1/ Công chúa Ngọc Liên, lấy Trấn biên doanh trấn thủ phó tướng Nguyễn Phúc Vĩnh. Phúc Vĩnh là con trưởng Mạc Cảnh Huống. 2/ Công chúa Ngọc Vạn lấy vua Chân Lạp. 3/ Công chúa Ngọc Khoa lấy vua Chămpa Po Rome. 4/ Công chúa Ngọc Đĩnh lấy phó tướng Nguyễu Cửu Kiều. Năm Giáp Tỵ (1684, Lê Chính Hòa năm thứ 5), mùa đông, Ngọc Đĩnh Mất.
Khoảng thời gian đó, triều đình Xiêm La gần như trực tiếp thống trị Chân Lạp. Vì vậy, khi lên ngôi vua, Chey Chetta II (ở ngôi: 1618-1628), liền cho xây dựng kinh đô mới ở Oudong (Vũng Long hay Long Úc) và cầu thân với chúa Nguyễn để chống lại sự khống chế của Xiêm La.
Năm 1620, theo lời cầu hôn của vua Chey Chetta II, chúa Sãi thuận gả Ngọc Vạn cho ông, và bà trở thành Vương hậu nước Chân Lạp với tước hiệu Brhat Mae Samdach Brhat Bhagavati Amara Deva Thida.
Vừa đẹp người, lại đẹp nết, nên bà được vua Chey Chettha II rất yêu quý. Nhờ vậy, mà nhà vua đã cho một số người Việt đi theo bà giữ những chức vụ quan trọng trong triều đình Chân Lạp, cũng như cho nhiều người Việt lập hãng xưởng và buôn bán ở gần kinh đô.
Lợi dụng mối quan hệ này, năm 1623, chúa Sãi còn cử một sứ bộ, đem theo thư cùng nhiều tặng phẩm, tới Oudong để tỏ tình thân hữu và bảo đảm sự ủng hộ của triều đình Huế. Trong quốc thư, chúa Nguyễn cũng đã yêu cầu vua Chey Chettha II cho lập một đồn thuế ở Prei Kor (tức vùng Sài Gòn) và lập một dinh điền ở Mô Xoài (gần Bà Rịa ngày nay – đây là dinh điền chính thức đầu tiên trên đất Chân Lạp). Nhờ sự vận động của Ngọc Vạn, nên cả hai việc trên đều được vua Chey Chetta II chấp thuận.
Vai trò của Vương hậu Somdach (tức Ngọc Vạn), đã có nhiều tác giả đề cập đến, như:
G. Maspéro: Vị vua mới lên ngôi là Chey Thettha II cho xây một cung điện tại Oudong, ở đây ông làm lễ thành hôn với một công chúa con vua An Nam. Bà này rất xinh đẹp, về sau có ảnh hưởng lớn đến vua. Nhờ bà mà một phái đoàn An Nam đã xin và được vua Chey Thettha II cho lập thương điếm ở miền nam Cao Miên, nơi này nay gọi là Sài Gòn (trích trong cuốn “L’ Empire Khmer”).
Moura: Tháng 3 năm 1618, Prea Chey Chessda được phong vương với tước hiệu Somdach Prea Chey Chessda Thiréach Réaméa Thupphdey Barommonpit. Lúc đó vua An Nam gả một người con gái cho vua Cao Miên. Công chúa này rất đẹp, được nhà vua yêu mến và lập làm vương hậu tước hiệu Somdach Prea Preaccac Vodey Prea Voreac Khsattey (trích trong cuốn “Royaume du Cambodge”).
Henri Russier: Chúa Nguyễn lúc bấy giờ rất vui mừng thấy Cao Miên muốn giao hảo bèn gả công chúa cho vua Cao Miên. Công chúa xinh đẹp và được vua Miên yêu quý vô cùng…Năm 1623, sứ bộ Việt từ Huế đến Oudong yết kiến vua Cao Miên, dâng ngọc ngà châu báu, xin người Việt được khai khẩn và lập nghiệp tại miền Nam…Vương hậu xin chồng chấp thuận và vua Chey Chetta đã đồng ý (trích trong cuốn “Histoire sommaire du Royaume de Cambodge”).
A. Dauphin Meunier: Năm 1623, Chey Chettha, người đã cưới công chúa Việt Nam, được triều đình Huế giúp đỡ để chống lại quân Xiêm… Một sứ bộ Việt Nam đã tới bảo đảm với Chey Chetta về sự ủng hộ của triều đình Huế. Sứ bộ xin phép cho dân Việt Nam tới lập nghiệp Việt Nam tới lập nghiệp ở các tỉnh phía Đông Nam Vương Quốc. Vua Cao Miên cho phép lập một phòng thu thuế tại Prey Kôr để tài trợ việc định cư (trích trong cuốn “Le Cambodge”).
Nguyễn Văn Quế: Chey Chettha II dời đô từ Lovéa Em đếu Oudong năm 1620 và cưới công chúa Việt Nam được phong làm hoàng hậu và rất được yêu quý nhớ đức hạnh và vẻ đẹp mỹ miều. Vì đã giúp đỡ cho vua Cao Miên chống lại những cuộc xâm lăng của Xiêm nên chúa Sãi mới xin vua Cao Miên cho phép những người Việt di cư vào Nam được khai khẩn đất đai, trồng trọt, buôn bán và trả thuế ở Sài Gòn, Biên Hòa và Bà Rịa. Vua Cao Miên chấp thuận đề nghị của nhạc phụ. (trích trong cuốn “Histoire des Pays de L’union Indochinoise”).
Phan Khoang: Từ thế kỷ 17 đã có nhiều người Việt Nam đến hai xứ Đồng Nai và Mỗi Xuy của Chân Lạp (tức Biên Hòa, Bà Rịa ngày nay), để vỡ đất làm ruộng. Vua Chân Lạp Chey Chetta II muốn tìm một đối lực để chống lại lân bang Xiêm La nguy hiểm kia, đã xin cưới một công nữ con chúa Nguyễn làm hoàng hậu, trông mong sự ủng hộ của triều đình Thuận Hóa và chúa Hy Tông (chúa Sãi) có mưu đồ xa xôi, năm 1620, đã gả cho vua Chân Lạp một công nữ. Cuộc hôn nhân này có ảnh hưởng lớn lao đến vận mạng Chân Lạp sau này. Bà hoàng hậu đem nhiều người Việt đến, có người được giữ chức hệ trọng trong triều, bà lại lập một xưởng thợ và nhiều nhà buôn gần kinh đô.
Đến năm 1623, một sứ bộ của chúa Nguyễn đến Oudong yêu cầu được lập cơ sở ở Prey Kôr tức Sài Gòn ngày nay và được ở đấy một sở thu thuế hàng hóa. Vua Chey Chetta chấp thuận và triều đình Thuận Hóa khuyến khích người Việt di cư đến đấy làm ăn rồi lấy cớ để giúp chính quyền Miên gìn giữa trật tự, còn phải một tướng lãnh đến đóng ở Prey Kôr nữa. Khi Chey Chatta mất, vùng đất từ Prey Kôr trở ra Bắc đến biên giới Chiêm Thành (tức là Sài Gòn, Bà Rịa, Biên Hòa ngày nay), đã có nhiều người Việt đến ở và khai thác đất đai (trích trong cuốn “Việt sử xứ Đàng Trong”, phần “Chúa Nguyễn gây ảnh hưởng trên đất Chân Lạp”).
Đổi lại, chúa Sãi hai lần giúp con rể (Chey Chetta II) đẩy lui quân Xiêm sang xâm lược. Giáo sĩ người Ý tên Christopho Borri ở Quy Nhơn đã nhìn thấy viện binh từ Đàng Trong tiến sang Cao Miên, nên đã ghi lại trong cuốn Hồi ký của mình (xuất bản năm 1631) như sau:
Chúa Nguyễn luôn luyện tập binh sĩ và gởi quân đội giúp vua Cao Miên, tức chàng rể chồng của con chúa. Chúa viện trợ cho vua Cao Miên thuyền bè, binh lính để chống lại vua Xiêm…
Loạn lạc ở Chân Lạp
Năm 1628, vua Chey Chetta II từ trần, triều đình Chân Lạp liên tục xảy ra các cuộc tranh chấp ngôi giữa những hoàng thân. Nhiều nhà vua bị anh em họ, rể, cháu…giết chết một cách thê thảm.
Con cái
Theo Biên Hòa sử lược toàn biên (Quyển 2) thì Ngọc Vạn sống với vua Chey Chetta II, đã sinh được một trai là Chan Ponhéa Sô và một gái tên là Neang Nhéa Ksattrey. Tuy nhiên, so sánh độ tuổi của Chan Ponhéa Sô thì người này không thể là con của Ngọc Vạn.
Theo Christopher Buyers thì cuộc hôn nhân của Chey Chettha II và hoàng hậu Ngọc Vạn như sau:
Ngọc Vạn sinh khoảng năm 1605 (mất khoảng năm 1658), được gả cho Chey Chettha II vào năm 1620 và được phong hoàng hậu, hiệu là (Brhat Mae Samdach Bhagavati Brhat) Sri Vararajini Kshatriyi. Nhũ danh của Ngọc Vạn là Anak Anga Cuv [Cheou][3] hoặc Nguyễn Phúc Thị Ngọc Vạn. Họ có với nhau các con là:
Công chúa (Brhat Pada Amachas) Nea Puspavathi Kshatriyi [Anga Nha]. Được hứa gả cho anh trai cùng cha khác mẹ là Chan Ponhéa Sô (Thommo Reachea II) nhưng lại bị gả (làm thiếp) cho chú ruột là Outey vào năm 1626. Ngoại tình với Chan Ponhéa Sô và cả hai bị Outey giết vào năm 1631.
Công chúa (Brhat Anga) Devi Panya. Được gả cho Padumaraja I (Ang Non – con trai của Outey, tức em họ của Devi Panya). Bị Ramathipadi I (anh trai cùng cha khác mẹ với Devi Panya) sát hại năm 1642 cùng với chồng, cha chồng. Bà và Padumaraja I có một người con trai là Padumaraja II (sau làm vua hiệu là Chey Chettha III).
Sự tranh chấp quyền lực ở Chân Lạp
Sau khi Chey Chetta II mất, nội bộ Chân Lạp liền xảy ra việc tranh quyền giữa chú là Prea Outey (em ruột của Chey Chetta II) người giữ chức Giám quốc (ab joréach hoặc Udayaraja) và người cháu là vua Chan Ponhéa Sô (ở ngôi: 1628-1630) (con của Chey Chetta II).
Trước đây, lúc vua Chei Chetta II còn sống đã định cưới Công chúa Ang Vodey cho Hoàng tử Chan Ponhéa Sô. Nhưng chẳng may, khi nhà vua vừa mất thì Préa Outey, tức là chú ruột của Chan Ponhéa Sô, lại cưới nàng Công chúa này trong khi Hoàng tử còn đang tu (theo truyền thống) trong chùa.
Sau khi rời tu viện, Chan Ponhéa Sô lên ngôi và trong một buổi tiếp tân, nhà vua trẻ gặp lại nàng Ang Vodey xinh đẹp. Sau đó, cả hai đã mượn cớ đi săn bắn để gặp gỡ, nhưng không ngờ Préa Outey biết được liền đuổi theo và giết chết cả hai vào năm 1630. Chan Ponhéa Sô làm vua mới được hai năm.
Người con thứ hai của Chey Chetta II lên ngôi với vương hiệu là Ponhea Nu (ở ngôi: 1630–1640). Năm 1640, Ponhea Nu đột ngột băng hà, Phụ chính Préah Outey liền đưa con mình lên ngôi, tức quốc vương Ang Non I. Nhưng Ang Non I cũng chỉ làm vua được hai năm (ở ngôi: 1640-1642) thì bị người con thứ ba của Chey Chetta II là Chau Ponhea Chan (Nặc Ông Chân – mẹ ông là người Lào) dựa vào một số người Chăm và người Mã Lai, giết chết cả chú Préah Outey và em họ Ang Non I để giành lại ngôi vua.
Nặc Ong Chân lên ngôi (ở ngôi: 1642-1659), cưới một Công chúa người Mã Lai theo đạo Hồi (Islam) làm Vương hậu và nhà vua cũng bỏ quốc giáo (Phật giáo Tiểu thừa) để theo đạo của vợ. Điều này cùng với việc cho nhóm người thiểu số Mã Lai và Chăm được nhiều ưu đãi, đã gây bất bình trong giới hoàng tộc và dân chúng Chân Lạp (dân tộc Khmer). Nặc Ông Chân còn xưng là Ramathipadi I, sau đó đổi thành Sultan Ibrahim.
Năm 1658, con của Préah Outey là Ang Sur (So) và Ang Tan dấy binh chống lại Nặc Ông Chân nhưng thất bại… Nghe lời khuyên của Thái hậu Ngọc Vạn, Ang So và Ang Tan cầu cứu chúa Nguyễn. Chúa Hiền Nguyễn Phúc Tần liền sai Phó tướng dinh Trấn Biên (Phú Yên) là Nguyễn Phước Yến dẫn 3000 quân đến thành Hưng Phước (bấy giờ là Mỗi Xuy, tức Bà Rịa), phá được thành rồi tiến vào bắt Nặc Ông Chân bỏ vào cũi đem về giam ở Quảng Bình.
Năm sau (1659), Nặc Ông Chân chết chúa Nguyễn phong cho Ang So làm vua Chân Lạp, hiệu là Barom Reachea VIII (ở ngôi: 1660-1672). Từ đó, lưu dân Việt đến Gia Định, Mỗi Xuy (Bà Rịa), Biên Hòa ngày càng đông để khai khẩn đất đai…
Năm 1672, vua Barom Reachea VIII bị một người vừa là rể vừa là cháu là Chey Chetta III giết chết, em là Ang Tan (Nặc Ông Tân) chạy sang cầu cứu chúa Nguyễn. Nhưng ngay sau đó Chey Chetta III cũng bị người của Nặc Ông Chân sát hại.
Ang Chei (Nặc Ông Đài, ở ngôi: 1673-1674) con trai đầu của vua Barom Reachea VIII lên ngôi. Ông Đài cho đắp thành lũy ở địa đầu Mỗi Xuy, nhờ Xiêm cứu viện để chống lại chúa Nguyễn.
Bị quân Xiêm đánh đuổi, Ang Tan cùng cháu là Ang Nan (Nặc Ông Nộn) chạy sang Sài Gòn kêu cứu chúa Nguyễn. Năm 1674, Chúa Hiền Nguyễn Phúc Tần sai Cai cơ Nguyễn Dương Lâm và Tham mưu Nguyễn Đình Phái chia quân làm hai cánh cùng tiến lên Chân Lạp. Nặc Ông Đài bỏ thành Nam Vang chạy vào rừng, để rồi bị thuộc hạ đâm chết.
Sau khi Nặc Ông Đài mất, người em là Nặc Ông Thu (Ang Sor) ra hàng. Để giải quyết tình trạng “nồi da xáo thịt” dai dẳng này, chúa Nguyễn cho Nặc Ông Thu làm Chính vương, đóng đô ở Phnom pênh (Nam Vang), cho Nặc Ông Nộn làm Đệ nhị vương, đóng đô ở khu vực gò Cây Mai (thuộc Sài Côn, nay thuộc Thành phố Hồ Chí Minh)…Tuy nhiên, hai phe vẫn không từ bỏ ý định loại trừ nhau.
Sau hơn 50 năm luôn phải tìm cách tồn tại trong chốn vàng son nhưng đẫm máu ấy, theo lời kể, thì Thái hậu Ngọc Vạn đã theo Nặc Ông Nộn về Sài Côn, rồi lui về sống ở Bà Rịa. Nơi đây, bà cho lập chùa Gia Lào (núi Chứa Chan, Đồng Nai), rồi ẩn tu cho đến hết đời.
NGỌC KHOA
Công chúa Ngọc Khoa là nàng công chúa có nhan sắc nghiêng nước nghiêng thành của Chúa Sãi Nguyễn Phúc Nguyên. Một lần vì muốn sang vương quốc Champa chơi, công chúa Ngọc Khoa đã đóng giả dân buôn qua biên ải. Sang đến vương quốc Champa, nhan sắc của nàng công chúa đã nhanh chóng theo tin đồn đến tai nhà vua.
Vua cho mời nàng vào cung và ông vua tuổi ngũ tuần nhưng vẫn còn phong độ dạt dào đã bị choáng váng bởi nhan sắc nàng công chúa tuổi vừa đôi tám. Vua Po Romé lập tức cho người sang gặp Chúa Sãi Nguyễn Phúc Nguyên, xin hỏi công chúa Ngọc Khoa về làm vợ.
Lúc đó, chúa Sãi Nguyễn Phúc Nguyên đang phải lo chiến sự bốn bề, đâu đâu lãnh thổ cũng bị xâm phạm, vì muốn giữ được giao hảo giữa hai vương quốc nên đã đồng ý gả công chúa Ngọc Khoa cho vua Po Romé.
Về đến hoàng cung, công chúa Ngọc Khoa là ái phi được vua Po Romé cưng chiều nhất. Khi công chúa Ngọc Khoa ốm nặng, có vị chiêm tinh vào cung Po Romé, phán rằng công chúa không bị bệnh, vị chiêm tinh đã bị vua Po Romé đuổi về quê.
Có vị chiêm tinh khác nói rằng, muốn nàng Bia Út khỏi bệnh, nhà vua phải triệt đi cây Krek, cây lim thần biểu tượng sức mạnh của vương quốc. Sau một thoáng ngập ngừng, vua đã làm theo. Đích thân vua là người vác cây rìu đi chặt.
Sau ba nhát, thân cây Krek to lớn đổ nhào, máu Krek tuôn chảy suốt bảy đêm. Nàng Bia Út khỏi bệnh. Hai người lại mặn nồng hương tình. Chỉ tiếc là vì say mê nhan sắc của nàng công chúa nước Việt, vua Po Romé dần bỏ quên chuyện chính sự. Ông trở thành vị vua cuối cùng của vương quốc Champa.
Vua Po Rome có nhiều vợ
– Vợ đầu Bia Than Cih (người Chăm Bàni), là con gái vua Chămpa Po Mah Taha (Po Klaong Mah Nai) là vị vua sùng bái Islam (Hồi giáo). Bia Than Cih không có con
– Vợ 2 công chúa Hạt mưa – thứ phi Bia Than Can, là con gái cưng của một vị tù trưởng người Ê đê, tên con gái là H Drah Jan Kpă
– Vợ 3 công chúa Ngọc Vạn, con gái chúa Sãi Nguyễn Phúc Nguyễn
– Trong thời gian Po Rome ở Makkah, người Malay gọi là Serembi Makkah, tức là tiểu vương quốc Kelatan (Malaysia). Tại đây, Po Rome kết hôn với công chúa Islam là Puteri Siti (Công chúa Siti), chính thức mang tên Thánh Nik Mustafa, tên đầy đủ là: Nik Mustafa Bin Wan Abul Muzaffar Waliyullah. Chính thức là người có danh phận là thành viên của dòng dõi vương triều theo Islam tại Malaysia. Vua có nhiều con ở Maylaysia. biên niên sử Malaysia ghi lại rằng vua trị vì tại tiểu vương quốc Kelantan hôm nay là dòng giỏi của vua Po Rome (Champa).
– Bia Laku Makam,
– Bia Hatri
– Bia Sumut. Một số tài liệu về truyền thuyết Po Rome có ghi một câu: Bia Sumut tok Cam di Kut. Dựa vào thành ngữ này, người Chăm cho rằng Bia Sumut là công chúa gốc Hồi Giáo (Islam).
Vua Po Romé chết đúng vào lúc vương quốc Champa sụp đổ. Theo tục lệ Champa xưa, những người vợ của vua phải lên giàn hỏa thiêu cùng chồng, để theo hầu hạ vua. Nhưng trong những người vợ vua, chỉ có công chúa Hạt mưa – thứ phi Bia Than Can là dũng cảm nhảy vào lửa chết theo chồng. Để tưởng nhớ vị thứ hậu chung thủy và dũng cảm, nhân dân Champa đã lập một ngôi tháp phụ, bên cạnh tháp Po Romé. Sau này khi ngôi tháp sụp đổ, tượng bà được đưa vào tháp chính, bên cạnh tượng vua Po Romé.
Không có thông tin về công chúa Ngọc Vạn, có thông tin bà tự tử chết sau khi chồng chết.
NGỌC HOA
Công nữ Ngọc Hoa (chữ Hán: 公女玉華; ?–1645), còn gọi là Ngọc Hoa công chúa (玉華公主), là một công nữ dưới thời các Chúa Nguyễn, được biết đến là con gái nuôi của Chúa Sãi Nguyễn Phúc Nguyên, sau được gả cho Araki Sotaro [ja] (Hoang Mộc Tông Thái Lang; 荒木宗太郎) của Nhật Bản, theo nhiều nguồn tài liệu và phân tích của tác giả Thân Trọng Thủy cùng sự tích còn lưu giữ của Nhật Bản.[1] Mặc dù có một số ý kiến bất đồng cho rằng tên Ngọc Hoa không có cơ sở lịch sử do trong gia phả Nhà Nguyễn không có ghi chép về con gái Chúa Sãi mang tên” Ngọc Hoa”, trong bài này tạm dùng tên Ngọc Hoa này.
Câu chuyện về hai người trở thành truyền kỳ ở Nagasaki.
Câu chuyện
Hơn 400 năm trước, Hội An là thương cảng sầm uất ở xứ Đàng Trong với các thuyền buôn của nhiều nước đến buôn bán, trao đổi hàng hóa, trong đó có thương thuyền của thương nhân Araki Sotaro. Nhà nghiên cứu văn hóa dân gian Phùng Tấn Đông (Hội An) cho biết: “Trong nhiều thương nhân đến Hội An buôn bán, Araki Sotaro được Chúa Nguyễn Phúc Nguyên có cảm tình và giao cho nhiều trọng trách tại Hội An”. Năm 1619, Chúa Nguyễn Phúc Nguyên đồng ý gả con gái Ngọc Hoa (trong giấy phép kết hôn ghi là “Thất Hạ; 膝下,” nghĩa là người được bảo hộ) cho Araki Sotaro (Nguyễn Thái Lang; 阮太郎).
Năm 1620, Ngọc Hoa theo chồng về Nhật. 15 năm sau, Araki Sotaro mất, Ngọc Hoa vẫn tiếp tục làm công việc sổ sách kế toán ở cơ sở kinh doanh của chồng. Bà đã làm hết sức để hỗ trợ cho các thương nhân tại vùng Nagasaki, chủ yếu ở việc thúc đẩy mối quan hệ buôn bán với triều đình nhà Nguyễn.
Ngọc Hoa sống 26 năm ở Nhật Bản và mất năm 1645, được chôn cất trong Đại Âm tự nằm giữa trung tâm thành phố Nagasaki. Được biết, vào thời Minh Trị, mộ phần của Ngọc Hoa và Akira Sotaro đã được con cháu đời thứ 13 cải táng và mộ phần hiện tại chỉ có đời thứ 3, thứ 12, 13 và 14 (Araki Sotaro là đời thứ 1).
Tập san Đô thành hiếu cổ của người Pháp xuất bản vào năm 1920 có nhắc đến những người Nhật đầu tiên ở Đông Dương, trong đó có đoạn: “Trong số chủ tàu buôn Nhật Bản giao thương với Đông Dương vào thế kỷ 17, đặc biệt ghi nhận hai người trong số họ đã buôn bán với An Nam là Araki Sotaro và Shichirobei Eikichi”.
Trong Nghiên cứu phố Nhật Bản ở Nam Dương, GS Iwao Seiichi từng giới thiệu nội dung một tấm bia, rằng: “Năm 1619, tại một nơi mà hiện nay gọi là Huế, ông (tức Araki Sotaro) gặp gỡ và kết hôn với một người con gái thuộc dòng bên ngoại vua An Nam và được Chúa nhận làm con nuôi. Sotaro trở về nước với cô dâu mới, gây dựng nên một trung tâm thương mại tại Motoshikkui-machi ở Nagasaki. Có lẽ ông là người Nhật Bản đầu tiên kết hôn với người nước ngoài và trở về Nhật với một công nữ con vua, cho dù chỉ là con nuôi”.
Xưng vị
Danh vị của Công nữ Ngọc Hoa tại Việt Nam và Nhật Bản không tương đồng. Trong gia phả nhà Nguyễn không có ghi chép về con gái Chúa Sãi mang tên “Ngọc Hoa”. Khi ấy, Chúa Sãi Nguyễn Phúc Nguyên xưng thần với nhà Lê trung hưng, tự xưng Nhân quốc công (仁國公), theo lý thì các con gái đều phải gọi là Công nữ (公女). Tuy nhiên, sau khi vua Lê Kính Tông đã bị Trịnh Tùng bức tự sát vào năm 1619 (đúng lúc hai người Ngọc Hoa và Sotaro cưới nhau), Chúa Sãi không công nhận chế độ Lê Trịnh ở Đàng Ngoại nữa, và dẫn đến cuộc Phân Tranh Trịnh Nguyễn sau này. Chúa Sãi về sau truy tôn làm Vương, cho nên có ý kiến gọi Vương nữ, hay còn gọi thông dụng hơn là Công chúa.
Ở Nhật Bản, bà được gọi là Wakaku (Vương Gia Cửu; 王加久; わかく) hoặc Wakakutome (Vương Gia Cửu Hộ Mại; 王加久戸売; わかくとめ).Trước cổng nghĩa trang thành phố Nagasaki, chính quyền Nhật Bản đã dựng một tấm bảng lớn ghi tiểu sử ông Araki Sotaro và vợ, trong đó có đoạn ghi: “Vương Gia Cửu, một người con gái bà con bên ngoại của quốc vương An Nam”.
Ngọc Hoa được người dân Nagasaki gọi bằng cái tên thân mật là Anio-san (アニオーさん). Có một cách diễn giải rằng, đây là một phiên âm của từ A Nương (阿娘), lại có thuyết rằng do bà hay gọi chồng mình bằng anh, dần chuyển âm sang tiếng Nhật. Do thân phận cao quý, bà được gọi một cách cung kính là Anio-hime (アニオー姫). Ngoài ra, bà còn có pháp danh là Diệu Tâm.
Ảnh hưởng và di sản
Năm 2013, Tổng Thư ký Hội hữu nghị Nagasaki – Việt Nam, Tomioka Tsutomu chia sẻ rằng dấu ấn của Công nữ Ngọc Hoa có thể được nhìn thấy trong ẩm thực của Nagasaki ngày nay, đó là việc bày thức ăn trên một bàn ăn hình tròn màu đỏ với đường kính khoảng 1 m và chiều cao khoảng 30 cm, bởi phần lớn địa phương khác của Nhật Bản dùng bàn ăn hình chữ nhật và sơn màu nâu đen hoặc để mộc. Ngoài ra, người Nhật thường ăn uống theo khẩu phần riêng mỗi bữa ăn, mỗi người một khay với các đĩa nhỏ, nhưng hiện đa phần người dân vùng Nagasaki lại ăn theo kiểu người Việt, tức là thức ăn bày trong các đĩa lớn để mọi người trong mâm cơm tự chọn món mình yêu thích.
Nhà nghiên cứu Phùng Tấn Đông cho biết, theo truyền tụng, Ngọc Hoa còn dạy các điệu múa An Nam cho người Nhật, có công chẩn tế, xây chùa Phật.
Hiện nay, Bảo tàng Lịch sử Văn hóa Nagasaki vẫn lưu giữ chiếc gương soi kiểu Tây của Công nữ Ngọc Hoa.
Ngày 13 tháng 2 năm 2004, tên Công nữ Ngọc Hoa được dùng để đặt tên đường tại phố cổ Hội An. Tuyến đường từ điểm đầu là kênh Chùa Cầu đến ngã ba Hùng Vương – Trần Hưng Đạo ở khu vực quảng trường Sông Hoài (dài 300 m).
Ngày 15 tháng 8 năm 2016, trong khuôn khổ sự kiện giao lưu văn hóa Hội An – Nhật Bản, với sự hỗ trợ của các nhà nghiên cứu văn hóa, lịch sử đến từ tỉnh Nagasaki, lần đầu tiên lễ cưới của Công nữ Ngọc Hoa và Araki Sotaro đã được tái hiện ở Hội An (Quảng Nam). Dẫn đầu đoàn rước dâu là đội múa rồng của tỉnh Nagasaki, tiếp theo là hai hàng nam thanh nữ tú, nam mặc y phục truyền thống Nhật Bản, nữ mặc y phục truyền thống của người Việt. Công nữ Ngọc Hoa và Araki Sotaro ngồi trên mô hình tàu buôn Nhật thế kỷ 17 được phục dựng chính xác. Hoạt động này vẫn đang được duy trì vào mùa thu hàng năm.
Nghi lễ rước tàu này cũng được người Nhật tái hiện tại lễ hội Okunchi được tổ chức ở Nagasaki (từ ngày 7 đến 9 tháng 10). Tại lễ hội, người ta tạo hình một chiếc thuyền buôn với bé trai đóng vai Araki, mặc trang phục truyền thống Yukata và bé gái đóng vai Ngọc Hoa, mặc áo dài Việt Nam, với ý nghĩa con thuyền vượt trùng khơi rồi trở về với một cặp uyên ương.
CÔNG CHÚA NGỌC HÂN
Lê Ngọc Hân sinh ngày 27 tháng 4 năm Canh Dần, niên hiệu Cảnh Hưng thứ 31 (1770) tại kinh thành Thăng Long. Bà là con gái thứ 9 hoặc thứ 21 của Hoàng đế khi ấy là Lê Hiển Tông.
Mẹ bà là Chiêu nghi Nguyễn Thị Huyền (阮氏玄), là người xã Phù Ninh, tổng Hạ Dương, phủ Từ Sơn, trấn Kinh Bắc (nay là xã Ninh Hiệp, huyện Gia Lâm, thủ đô Hà Nội), là con gái trưởng của ông Nguyễn Đình Giai, nhập cung giữ vị trí Chiêu nghi.
Tháng 5 năm Cảnh Hưng thứ 47 (1786), tướng nhà Tây Sơn là Nguyễn Huệ ra Bắc với ý muốn “phù Lê diệt Trịnh”.[2] Diệt xong họ Trịnh, Nguyễn Huệ tới yết kiến Lê Hiển Tông. Do sự mai mối của tướng Bắc Hà vào hàng Tây Sơn là Nguyễn Hữu Chỉnh, Ngọc Hân vâng mệnh thành hôn cùng Nguyễn Huệ. Khi đó bà mới 16 tuổi, còn Nguyễn Huệ đã 33 tuổi và có chính thất là Phạm Thị Liên.
Vài ngày sau, Lê Hiển Tông băng hà, triều đình bàn vấn đề chọn người kế vị. Lê Ngọc Hân nghĩ anh thân hơn cháu nên ủng hộ anh là Lê Duy Cận lên ngôi, nhưng bị tông tộc nhà Lê phản đối vì muốn lập Hoàng thái tôn Lê Duy Kỳ – con của Cựu Thái tử Lê Duy Vĩ lên ngôi. Do áp lực của tông tộc, Ngọc Hân phải nghe theo. Lê Duy Kỳ được lập, tức là Lê Chiêu Thống. Ít lâu sau, bà theo Nguyễn Huệ về Thuận Hóa.
Năm Chiêu Thống thứ 2 (1788), Nguyễn Huệ lên ngôi Hoàng đế trước khi ra Bắc để diệt quân Thanh, lấy niên hiệu Quang Trung, phong Ngọc Hân làm Hữu cung Hoàng hậu (右宮皇后) do chính thất Phạm thị đã được phong làm Chính cung Hoàng hậu. Năm sau (1789), sau khi đại thắng quân Thanh, Nguyễn Huệ lại phong bà làm Bắc cung Hoàng hậu (北宮皇后).
Bà có hai con với Nguyễn Huệ là Công chúa Nguyễn Thị Ngọc Bảo (阮氏玉寶) và Hoàng tử Nguyễn Quang Đức (阮光德).
Năm Quang Trung thứ 5 (1792), Nguyễn Huệ đột ngột băng hà. Sau đó, Nguyễn Quang Toản là con bà Chính cung Hoàng hậu Phạm Thị Liên lên nối ngôi, niên hiệu là Cảnh Thịnh, vì thế sử còn gọi là Cảnh Thịnh Đế. Lê Hoàng hậu do thân phận kế thất đã trở thành Hoàng thái hậu.
Theo bài “Danh nhân Lê Ngọc Hân” của Chu Quang Trứ, sau khi Nguyễn Huệ qua đời thì bà Lê Ngọc Hân mất quyền lực, và bà đưa con ra khỏi cung điện ở Phú Xuân, sống trong chùa Kim Tiền (Dương Xuân ở Huế) cạnh Đan Dương điện với danh nghĩa thờ chồng nuôi con. Bà gượng sống đến ngày mồng 8 tháng 11 năm Kỷ Mùi (ngày 4 tháng 12 năm 1799) thì mất, lúc đó mới 29 tuổi.
Lễ bộ Thượng thư nhà Tây Sơn là Phan Huy Ích đã phụng chỉ soạn năm bài văn tế Lê Ngọc Hân cho vua Cảnh Thịnh Đế, cho các công chúa, cho bà Nguyễn Thị Huyền, cho các tôn thất nhà Lê, và cho họ ngoại ở làng Phù Ninh. Cảnh Thịnh Đế đã đích thân đọc trước linh sàng, với thụy hiệu được truy tặng là Nhu Ý Trang Thuận Trinh Nhất Vũ Hoàng hậu (柔懿莊慎貞一武皇后). Cả năm bài văn tế trên còn được chép trong sách Dụ Am văn tập.
Và theo tộc phả họ Nguyễn Đình, khi triều Tây Sơn suy yếu, Nguyễn Phúc Ánh thừa cơ chiếm Phú Xuân, Hoàng tử Nguyễn Quang Đức mất ngày 18 tháng 11 năm Tân Dậu (23 tháng 12 năm 1801) khi mới 10 tuổi, Công chúa Ngọc Bảo cũng mất ngày 17 tháng 4 năm Nhâm Tuất (18 tháng 5 năm 1802) khi mới 12 tuổi.
Theo Biệt lục của tộc phả Nguyễn Đình, năm 1804, bà Nguyễn Thị Huyền vì thương con gái và hai cháu ngoại đều chết yểu nơi xa, nên đã thuê người vào Phú Xuân lấy hài cốt ba mẹ con Ngọc Hân đưa về bản dinh (tức dinh Thiết lâm của bà).
Ngày 16 tháng 7 năm 1804, bà cho an táng hài cốt bà Ngọc Hân, phụ chôn hoàng tử ở bên trái và công chúa ở bên phải. Nơi đó nay là bãi Cây Đại hay bãi Đầu Voi ở đầu làng Nành, xã Phù Ninh (nay là xã Ninh Hiệp, huyện Gia Lâm, Hà Nội).
GS. Chu Quang Trứ dẫn theo Đại Nam thực lục cũng nói về việc này: “Khoảng năm đầu Gia Long, ngụy đô đốc tên là Hài ngầm đem hài cốt mẹ con Ngọc Hân từ Phú Xuân về táng trộm ở địa phận xã Phù Ninh. Thị Huyền ngầm xây mộ, dựng đền, khắc bia giả, đổi lại họ tên để làm mất dấu tích”.
Gần 50 năm sau, dưới thời Thiệu Trị, miếu bị đổ nát. Một ông tú người làng Nành nhớ công lao của Chiêu nghi họ Lê đối với dân làng đã quyên tiền tu sửa ngôi miếu. Không ngờ, có viên phó tổng cùng làng có thù riêng với ông tú, đã lên quan tố giác về việc thờ “ngụy Huệ”. Triều đình Huế liền hạ lệnh triệt phá ngôi miếu, quật ba ngôi mộ, vứt hài cốt xuống sông. Ông tú kia bị trọng tội, Tổng đốc Bắc Ninh Nguyễn Đăng Giai cũng bị giáng chức.
Theo GS. Trần Quốc Vượng trong “MẤY VẤN ĐỀ VỀ VUA GIA LONG” thì: Tôi được đọc GIA PHẢ nhà họ Nguyễn ở làng Nành (nay thuộc xã Ninh Hiệp, huyện Gia Lâm, Hà Nội) quê bà Nguyễn Thị Huyền, mẹ bà Ngọc Hân, nhũ mẫu của bà Ngọc Bình. Gia phả có đoạn chép: Bà cụ Nguyễn Thị Huyền – qua con gái là bà Ngọc Bình – có làm đơn xin cải táng mộ bà Ngọc Hân (và hai con bà) về Bắc, về quê bà. Vua Gia Long đồng ý. Tiểu sành đựng xương cốt bà Ngọc Hân được chở bằng thuyền về làng Nành và được xây mộ hẳn hoi. Mãi đến thời Thiệu Trị (1840-1847), có một tên cường hào ở làng Nành vì có sự chảnh chọe ngôi thứ gì đó với dòng họ Nguyễn nên làm đơn vu cáo họ Nguyễn đã “lợi dụng” gì đó về ngôi “mả ngụy” Ngọc Hân, cấp trên nó quan liêu hay ăn đút lót gì đó – không biết – phê vào đơn cho phép đào mả Ngọc Hân quẳng xuống sông Nhị Hồng…
Hiện nay ở Gia Lâm có đền Ghềnh, tương truyền là “rất thiêng”, đấy chính là nơi hài cốt Ngọc Hân dạt vào, được dân vớt lên mai táng lại.
NGỌC BÌNH
Lê Ngọc Bình (chữ Hán: 黎玉玶; 22 tháng 1 năm 1785 – 10 tháng 10 năm 1810), thụy hiệu Đức phi (德妃), còn gọi là Lê Đức phi (黎德妃) hoặc Đệ Tam Cung Thận Đức Phi vốn là công chúa nhà Hậu Lê, sau trở thành hậu cung của Cảnh Thịnh Đế Nguyễn Quang Toản nhà Tây Sơn, và cuối cùng là phi tần của hoàng đế Gia Long.
Lê Ngọc Bình cùng Dương Vân Nga là hai người phụ nữ nổi tiếng vì làm hậu phi của hai vị vua thuộc hai triều đại khác nhau trong lịch sử Việt Nam. Đặc biệt ở đây lại là nhà Tây Sơn và nhà Nguyễn, hai triều đại nổi tiếng đối địch tàn khốc trong lịch sử Việt Nam.
Thân thế
Bà là con gái út của vua Lê Hiển Tông, mẹ là Chiêu nghi Nguyễn Thị Điều, sinh ngày 12 tháng 12 năm Cảnh Hưng 45 (tức ngày 22 tháng 1 năm 1785) tại Thăng Long.
Bà là em gái cùng cha khác mẹ của công chúa Lê Ngọc Hân, còn bà Chiêu nghi Nguyễn Thị Điều là người cùng làng Nành với bà Chiêu nghi Nguyễn Thị Huyền, mẹ của Lê Ngọc Hân.
Năm Cảnh Thịnh thứ 3 (1795), sau khi quyền thần Bùi Đắc Tuyên bị dẹp, Bắc cung Hoàng hậu Lê Ngọc Hân tiến cử Ngọc Bình cho Cảnh Thịnh Đế Nguyễn Quang Toản. Công chúa Ngọc Bình trở thành hậu cung của Cảnh Thịnh Đế, tuy nhiên theo Quốc sử di biên, có lẽ bà chỉ là phi tần chứ chưa phải là Hoàng hậu như nhiều thông tin, nhưng điều này còn tồn nghi.
Thời Gia Long
Trong bộ sách Quốc sử di biên do Phan Thúc Trực soạn vào năm Tự Đức thứ 4 đến thứ 5 (1851-1852) có đoạn:
Năm Nhâm Tuất, Gia Long năm đầu (1802)… Ngày 21 Canh Thân, Thế Tổ (Gia Long) đến kinh thành Thăng Long, hào mục bắt anh em Nguyễn Quang Toản dâng lên vua… dâng nộp bà phi Lê Thị Ngọc Bình vào trong cung vua…
Khi Cảnh Thịnh chạy ra Bắc, không hiểu vì lý do gì, Ngọc Bình và một số cung nữ bị kẹt ở Phú Xuân. Gia Long chiếm Phú Xuân, thấy Ngọc Bình trẻ đẹp, ăn nói dịu dàng, dáng điệu thướt tha nên ông quyết định nạp làm phi. Triều thần của vua Gia Long xúm lại can ngăn, họ nói: “Bệ hạ nay có cả thiên hạ, thiếu gì gái đẹp, việc gì phải lấy vợ của giặc làm vợ mình!”. Gia Long cười ha hả mà nói: “Đến đất nước của giặc “tau” còn lấy, huống chi là vợ giặc, “tau” lấy vợ giặc làm vợ “tau” thì có chi mô!”
Mặc dù có lời can ngăn, nhưng sau đó Lê Thị Ngọc Bình vẫn được phong làm Chiêu Nghi (昭儀), và sinh được hai hoàng tử nhà Nguyễn là Quảng Uy công Nguyễn Phúc Quân (sinh năm 1809), Thường Tín công Nguyễn Phúc Cự (sinh năm 1810) và 2 công chúa là Mỹ Khê Công chúa Ngọc Khuê và An Nghĩa Công chúa Ngọc Ngôn.
Sách Đại Nam thực lục chép:
Canh Ngọ, Gia Long năm thứ 9 [1810], Chiêu Nghi là Lê thị (con gái út của Lê Hiển Tông) mất, tặng Đức phi, an táng ở Trúc Lâm, Hương Trà, Thừa Thiên.
Lập từ đường ở Kim Long, sau dời qua làng Phú Xuân, nay thờ tại từ đường của Thường Tín Quận Công.
Do phải sinh nở liên tục nên sức khỏe của Ngọc Bình cứ thế yếu dần, cho đến khi qua đời vào năm 1810 khi chỉ vừa bước sang tuổi 25. Bà được Gia Long ban thụy là Cung Thận Đức phi (恭慎德妃) và cho an táng tại làng Trúc Lâm.
Tháng 12 năm 2009, tẩm mộ được cải táng về đồi Mâm Xôi, thuộc khu Đồng Chầm, phường Hương Hồ, thị xã Hương Trà, tỉnh Thừa Thiên – Huế.
Chị em Ngọc Hân và Ngọc Bình có nhiều điểm tương đồng: Hai bà đều là công chúa con vua Hiển Tông nhà Hậu Lê, hai bà đều sinh trưởng ở ngoài Bắc, lớn lên hai bà đều lấy chồng là hoàng đế nhà Tây Sơn, cả hai bà đều là Hoàng hậu tại Phú Xuân. Do những điểm tương đồng căn bản đó mà những câu chuyện truyền tụng về cuộc đời hai bà, gây ra sự lầm lẫn giữa Ngọc Hân và Ngọc Bình. Từng có người cho rằng người lấy Nguyễn Ánh là Ngọc Hân nhưng trên thực tế Ngọc Hân đã mất từ năm 1799.
Ngọc Bình là con vua Lê Hiển Tông, có 2 đời chồng là vua Quang Toản nhà Tây Sơn và vua Gia Long nhà Nguyễn. Do số phận lạ lùng, dân gian có câu ca dao nói về bà:
“Số đâu có số lạ lùng
Con vua lại lấy hai chồng làm vua”
