KIỀU : TRONG THẾ (NỘI THẾ) & NGOÀI THẾ (NGOẠI THẾ)

Loading

BỘ NỘI THẾ & NGOẠI THẾ CỦA TRUYỆN KIỀU
Truyện Kiều mở đầu bằng một câu về lưỡng thế trong ngoài của nhân tình thế thái.
“Trăm năm trong cõi người ta”
Đây là bộ thế của ba nhân vật chính của truyện Kiều là Kiều – Kim Trọng – Từ Hải, trong đó Từ Hải giữ nội thế, Kim Trọng giữ ngoại thế và Kiều giữ lưỡng thế trong ngoài.
Có thể nói rằng, trong đời Kiều có hai người đàn ông, một phương bắc, một phương nam, một văn, một võ, một công tử phong lưu, một anh hùng hào kiệt, nhưng đều là tri âm tri kỷ. Ba người này tạo thành một bộ ba y như bộ ông bà đầu nhau, trong đó Kim Trọng là ông Táo, Từ Hải là ông Công. Cái nghĩa của ba người là ba sinh ba tử và quan hệ của ba người là đồng sinh đồng tử, tạo nên rường cột cho Đạo Ba, mà được nhắc tới rất nhiều trong ca dao.
Cùng nhau cho trọn đạo ba
Thà là lìa thác, chẳng thà lìa sinh
Truyện Kiều chính là một dạng kinh của Đạo Ba, mà cũng là Đạo Kiều.
Bộ đôi nội thế và ngoại thế được mô tả bằng các thành ngữ dân gian như
– Trong tối, ngoài sáng
– Xấu trong nhà, tốt ra ngoài
– Tốt đẹp phô ra, xấu xa đậy lại
– Xa thơm, gần thối
– Thắng về nội, thối về ngoại
– Tốt gỗ hơn tốt nước sơn
– Xấu người, đẹp nết
– Khẩu Phật, tâm xà
– Bằng mặt không bằng lòng
– Nội thánh ngoại vương (bên trong là thánh, bên ngoài là vương)
– Nội công ngoại kích
– Chớ thấy sáng, mà tưởng vàng
– Phi nội tắc ngoại (không phải họ nội, thì cũng là họ ngoại)
– Trong sao, ngoài vậy (bên trong tâm ra, thì cách đối nhân xử thể bên ngoài cũng như vậy)
– Người ngoài cười nụ, người trong khóc thầm (Kiều)
Thành ngữ về nội thế
– Trong chăn mới biết chăn có rận
Thành ngữ về lưỡng thế trong ngoài
– Sống trong đời mà không thuộc về đời
– Chân trong chân ngoài
– Đứng núi này trông núi nọ
– Trong nhà chưa tỏ, ngoài ngõ đã tường
Câu “Trăm năm trong cõi người ta” có một trường nghĩa gốc chung với câu “Trong chăn mới biết chăn có rận” và câu “Sống trong đời mà không thuộc về đời”.
KIM TRỌNG – NGOẠI THẾ ĐOẠN TRƯỜNG
Kim Trọng là người ở bên ngoài Đoạn trường mà lại có thể đưa Kiều vào trong Đoạn trường và đón Kiều ra khỏi Đoạn trường.
Thế của Kim Trọng ở bên ngoài Đoạn trường là rất rõ vì khi biến cố xảy ra với Kiều thì Kim Trọng lại ở đang ở quê nhà chịu tang chú, và cứ như vậy Kim Trọng không có tin tức của Kiều trong suốt Đoạn trường 15 năm của Kiều.
Đoạn trường của Kiều được Kim Trọng biết được hoàn toàn qua lời kể của người này người khác mà hầu hết là người quan sát chứ không phải là người trong cuộc.
Đoạn trường đó với Kim Trọng giống như một giấc mơ dài mà khi tỉnh dạy phải cố sức nhớ lại để hình xem ta đã mơ chuyện gì. Nó khiến cho tình yêu và hẹn thề tình yêu của hai người giống như một giấc mơ bên trong một giấc mơ, và chỉ có người mộng mơ như Kim Trọng mới quyết tâm giữ lấy giấc mơ này như mục đích sống và ánh sáng linh hồn mình
Hình dung Đoạn trường là một trường không thời gian có biên cực kỳ đứt đoạn, thì lúc Kiều còn nằm trong biên Đoạn trường, Kim Trọng không thể tìm thấy nàng vì Kim Trọng nằm bên ngoài biên đó. Manh mối đầu tiên mà Kim Trọng dò ra được về Kiều là Lâm Truy, nơi có lầu xanh của Tú Bà và Mã Giám Sinh. Manh mối này không phải do Kim Trọng tìm ra mà do Thuý Vân nhận được trong mơ.
Tuy nhiên, không có Kim Trọng thì Kiều không thể vào, cũng không thể ra được khỏi Đoạn trường. Kim Trọng là người gác cổng của không thời gian Đoạn trường, mà Kiều đi vào hay đi ra thì đều phải mở cổng bằng chìa khoá mà Kim Trọng giữ.
Chỉ sau khi xe tơ kết tóc với Kim Trọng thì thân mệnh của Kiều mới đầy đủ và trọn vẹn để vững vàng bước vào Đoạn trường, với tâm thế phải đi ra được khỏi Đoạn trường, nghĩa là đạt được Tân thanh.
Chỉ sau khi tiếp tục làm lễ bái đường và động phòng, là hai lễ tiếp theo lễ xe tơ kết tóc của một lễ kết hôn truyền thống, Kiều mới thực sự ra khỏi Đoạn trường.
Tưởng tượng, Kim Trọng và Kiều vừa làm lễ xe tơ kết tóc thì một lỗ giun mở ra và Kiều bị kéo tuột qua lỗ giun đó vào bên trong hố đen, để Kim Trọng bơ vơ ở bên ngoài hố trắng. Vì không thể đi qua lỗ giun, nên Kim Trọng tìm cách đi vòng quanh biên của nó. Đến sông Tiền Đường, Kim Trọng phát hiện ra Kiều đã từ hố đen chui ngược lại qua lỗ giun để quay lại hố trắng rồi. Đoạn trường của Kiều đã kết thúc.
Đùng một cái, Kiều lại tái xuất hiện ở trong lễ kết hôn của hai người, mà bị ngưng lại trong thời gian 15 năm, y như công chúa bị phù phép ngủ trong rừng và hai người lại tiếp tục lễ kết hôn của mình.
Trong lễ xe tơ kết tóc, Kiều đã đánh đàn cho Kim Trọng nghe, khi Kim Trọng nhận ra tiếng đàn này rất ai oán và Kiều giải thích rằng nàng đã được báo về mệnh bạc của mình.
Trong lễ động phòng, Kiều lại đánh đàn cho Kim Trọng nghe, và Kim Trọng nhận ra lần này tiếng đàn đã thay đổi hoàn toàn. Nghĩa là Kim Trọng chính là người cảm nhận được về Tân thanh của Kiều sau khi đi qua Đoạn trường.
Chàng rằng: “Phổ ấy tay nào?
Xưa sao sầu thảm, nay sao vui vầy?
Tẻ vui bởi tại lòng này,
Hay là khổ tận đến ngày cam lai?”
Nàng rằng: “Vì chút nghề chơi,
Đoạn trường tiếng ấy hại người bấy lâu!
Một phen tri kỷ cùng nhau,
Cuốn dây từ đấy, về sau cũng chừa.”
TỪ HẢI – NỘI THẾ ĐOẠN TRƯỜNG
Nếu như Kim Trọng hoàn toàn đứng ngoài các sự kiện đoạn trường của Kiều, thì Từ Hải là người song hành với Kiều trong năm năm cuối của Đoạn trường, và cùng Kiều đi qua đoạn sinh tử cuối cùng của Đoạn trường.
Từ Hải là người đưa Kiều đến thử thách lớn nhất trong đoạn trường – tự giải thoát mình khỏi cái bẫy giăng sẵn của kẻ săn mồi sau khi đã tự mình rơi vào đó, với kẻ săn mồi là Hồ Tôn Hiến.
Từ Hải là người nhìn ra rất rõ ràng bài học cuộc đời lớn của Kiều, bài học chim lồng cá chậu. Quán tính nghiệp của Kiều là luôn nương vào cái thế người khác bày ra cho mình, chứ không có cái thế riêng của chính mình, cho nên Kiều rất dễ bị rơi vào cái bẫy do thằng khác giăng sẵn rồi rơi vào cảnh chim lồng cá chậu, mới đầu thì tưởng là yên ổn, nhưng kết thúc thì sẽ nằm trong bụng kẻ săn mồi.
Ngay trong lần đầu tiên gặp Kiều, Từ Hải đã hỏi Kiều rằng liệu chàng ta có lọt vào mắt xanh của Kiều không thì Kiều hãy theo chàng ta mà ra khỏi cảnh chim lồng cá chậu của mình. Trong lời nói của Từ Hải, anh hùng đích thực như Từ Hải chính là người không chấp nhận cảnh chim lồng cá chậu.
Bấy lâu nghe tiếng má đào,
Mắt xanh chẳng để ai vào, có không?
Một đời được mấy anh hùng,
Bõ chi cá chậu, chim lồng mà chơi?”
Từ Hải là người tự thân lập ra cái thế anh hùng “đầu đội trời, chân đạp đất” của mình.
Đội trời, đạp đất ở đời,
Họ Từ tên Hải, vốn người Việt Đông.
Từ Hải không bao giờ chấp nhận bị người khác đặt vào cái thế có sẵn, vào cái sự đã rồi, nên Từ Hải sẽ nhìn ngay ra bài học của Kiều.
Giang hồ quen thú vẫy vùng,
Gươm đàn nửa gánh, non sông một chèo
Nếu Kiều là chim lồng cá chậu, thì Từ Hải là chim trời cá biển
Một tay gây dựng cơ đồ,
Bấy lâu bể Sở, sông Ngô tung hoành!
Bó thân về với triều đình,
Hàng thần lơ láo, phận mình ra đâu?
Áo xiêm buộc trói lấy nhau,
Vào luồn ra cúi, công hầu mà chi?
Sao bằng riêng một biên thuỳ,
Sức này, đã dễ làm gì được nhau?
Chọc trời, quấy nước, mặc dầu,
Dọc ngang nào biết trên đầu có ai.
Từ Hải luôn ở thế chủ thể hành động, thể chủ động, thế công, trong khi Kiều thì luôn ở thế bị động, nương theo thế có sẵn của người khác, thế có sẵn của môi trường, nên lời chiêu hàng của Hồ Tôn Hiến nghe rất hợp tai của Kiều, giống như đánh đúng vào tiếng lòng của Kiều. Chừng nào Kiều không vững cái thế gốc của mình, chừng đó Kiều sẽ luôn luôn bị thu hút về những cái thế, những cái bẫy giăng sẵn của những kẻ săn mồi.
Nương là bản chất của tính nữ, nên tất cả các công chúa của các vua Hùng đều tên là Mị Nương, và vị Phật Tổ ở đầu Công Nguyên là Phật Tổ Man Nương. Nương theo cái thế gốc của mình, đồng thời nương theo cái thế có sẵn phù hợp của môi trường, khác với quy hàng theo thế có sẵn của kẻ chiến thắng, và thành kẻ chiến bại, và càng khác với việc chấp nhận cái thế có sẵn của con thú săn mồi, để thành con mồi. Đó là cái sai của Kiều khi Kiều chấp nhận thế hàng của Hồ Tôn Hiến.
Nghe lời nàng nói mặn mà,
Thế công, Từ mới trở ra thế hàng.
Chỉnh nghi tiếp sứ vội vàng,
Hẹn kỳ thúc giáp, quyết đường giải binh.
Tin lời thành hạ yêu minh,
Ngọn cờ ngơ ngác, trống canh trễ tràng.
Việc binh bỏ chẳng giữ giàng,
Vương sư dòm đã tỏ tường thực hư.
Hồ công quyết kế thừa cơ,
Lễ tiên, binh hậu, khắc cờ tập công.
Kéo cờ chiêu phủ tiên phong,
Lễ nghi dàn trước, bác đồng phục sau.
Từ công hờ hững biết đâu,
Đại quan lễ phục ra đầu cửa viên.
Hồ công ám hiệu trận tiền,
Ba bề phát súng, bốn bên kéo cờ.
Có thể Kiều không ở thế công, nhưng không bao giờ được ở thế hàng để quy phục cái thế thằng khác bày sẵn ra cho mình. Có thể Kiều vẫn sẽ nương theo một thế có sẵn, nhưng đó phải là cái thế gốc của Kiều. Một người không bao giờ cùng đường, một người không bao giờ không thể thoát được khỏi cái bẫy của kẻ săn mồi giăng ra để ăn thịt mình, bởi vì người này luôn luôn có sự lựa chọn, lựa chọn cái chết theo thế của mình, như các Từ Hải chết đứng và như Kiều nhảy xuống sông Tiền Đường.
Đang khi bất ý chẳng ngờ,
Hùm thiêng khi đã sa cơ cũng hèn!
Tử sinh, liều giữa trận tiền,
Dạn dày cho biết gan liền tướng quân!
Khí thiêng khi đã về thần,
Nhơn nhơn còn đứng chôn chân giữa vòng.
Trơ như đá, vững như đồng,
Ai lay chẳng chuyển, ai rung chẳng rời.
Quan quân truy sát đuổi dài,
Hằm hằm sát khí, ngất trời ai đang.
Trong hào, ngoài luỹ, tan hoang,
Loạn quân vừa dắt tay nàng đến nơi.
Trong vòng tên đá bời bời,
Thấy Từ còn đứng giữa trời trơ trơ.
Khóc rằng: “Trí dũng có thừa,
Bởi nghe lời thiếp, đến cơ hội này!
Mặt nào trông thấy nhau đây?
Thà liều sống chết một ngày với nhau!”
Dòng thu như xối cơn sầu,
Dứt lời, nàng cũng gieo đầu một bên.
Lạ thay oan khí tương triền!
Nàng vừa phục xuống, Từ liền ngã ra.
Cái bẫy Đoạn trường cũng y như cái bẫy của kẻ săn mồi Hồ Tôn Hiến, luôn có cách để thoát ra ngay từ bên trong nó. Đó là bài học nội thế mà Từ Hải dạy cho Kiều bằng cái chết của mình.
Khoảnh khắc một người chấp nhận hoàn toàn rằng mình đã bị sập bẫy, khoảnh khắc mình chấp nhận mình là con mồi đang trong nanh vuốt của con thú ăn thịt, nhưng người ấy vẫn không quy hàng, người biết rằng mình phải thoát và mình chắc chắn thoát được vì không có cái bẫy của kẻ thù có thể trùm được cái thế gốc đã sinh ra người ấy, thì trong khoảnh khắc đó, người này sẽ đạt được giác ngộ trực tiếp về thế gốc và sự tiếp xúc tức khắc với chân ngã của mình, thoát ra khỏi được cái thế tạm thời của bản ngã mà đưa người này vào đầu thai luân hồi và tất cả cái bẫy mà bản ngã của người này đã mắc phải trong quá trình đầu thai luân hồi. Cái này trong thiền gọi là đốn ngộ và ở cuối chu kỳ sống gọi là nhập diệt.
KIỀU – LƯỠNG THẾ ĐOẠN TRƯỜNG
Tưởng tượng, Kim Trọng và Kiều đang làm lễ kết hôn, thì Kiều bị một con đại bàng bắt cóc về trong giấu trong cái hang của nó. Khi Kim Trọng lặn lội theo dấu vết con chim đại bàng và tìm đến miệng hang thì nghe tin Kiều đã được cứu.
Câu chuyện là tráng sĩ Từ Hải đã tự nguyện nhảy vào cái hang cùng chịu cảnh Đoạn Trường với Kiều, rồi lấy cái chết đứng của mình ra để thức tỉnh Kiều về bản chất của con thú săn mồi Hồ Tôn Hiến và quán tính cá lồng chim chậu của Kiều. Tỉnh ngộ, Kiều đã chọn cái chết để khỏi cái bẫy của Hồ Tôn Hiến.
Thế là Kiều kết thúc được Đoạn trường, ra khỏi cái hang và gặp lại Kim Trọng. Lúc này Từ Hải đã chết rồi, chỉ có tinh thần của Từ Hải là được tái sinh trong con người của Kiều khi ra khỏi Đoạn trường.
Bài học về thế tử, thế gốc mà Từ Hải đã dạy cho Kiều bằng chính cái chết đứng của mình không giết Kiều, mà chỉ giết thứ bản ngã của Kiều mà khiến Kiều chết kẹt trong đoạn trường, để tái sinh thành một Kiều với một tâm thế hoàn toàn mới sau đoạn trường.
Trong quá trình đi vào đoạn trường và ra khỏi đoạn trường, bằng cách chết đi và tái sinh về thân và mệnh mang theo bài học của đoạn trường, Kiều đã thực hiện chuyển thể từ ngoại thế sang nội thế, rồi lại từ nội thế sang ngoại thế, không nội và không ngoại, vừa nội và vừa ngoại. Đây chính là các thế của Kiều mà tổng hợp tất cả các thế theo tính âm, tính nữ
“Trăm năm trong cõi người ta” là một câu mô tả thế Kiều, thế Đạo Ba, mà chỉ có ai trải qua bài học sinh tử đoạn trường như Kiều mới hiểu.
Chia sẻ:
Scroll to Top