![]()
Truyện Kiều nói rất nhiều về thân, về mệnh, sinh tử và bói toán. Truyện Kiều nói về bói toán thật đến mức, hay đến mức gợi mở được những chuẩn mực về bói toán cho mỗi người chúng ta, và tạo nên một trường phái bói là bói Kiều.
Có bốn người đã từng xem bói cho Kiều là
– Một vị thày tướng xem tướng cho Kiều từ bé. Thày tướng xem tướng bắt hình, rồi diễn giải được về tương lai, cuộc đời, số mệnh của Kiều
– Một vị thày đồng được Thúc Sinh nhờ gọi hồn Kiều để hỏi tin tức về nàng sau khi cho rằng nàng đã mất. Thày đồng bắt âm không nhìn được hình của Kiều, nhưng biết là Kiều còn sống.
– Hội Chủ, thông qua người truyền tin là Đạm Tiên, đây là nhân vật cửu huyền thất tổ từ thế giới âm. Hội Chủ đứng đầu một hội ở thế giới âm, tương tác với dương gian và các thế giới của chư vị tiên thần Phật Chúa. Kiều là người dương của hội do Hội Chủ lãnh đạo, đi đường ngoại môn so với Đạm Tiên là người âm đi đường nội môn.
– Tam Hợp Đạo Cô, thông qua người truyền tin là sư Giác Duyên, đây là nhân vật của Tam Giáo (Phật Giáo Ấn Độ, Đạo Giáo Đông Nam Á, Nho Giáo Trung Hoa) và Tam Giới (động vật, thực vật, khoáng vật). Đạo Cô là một giáo chủ ẩn thân, có mạng lưới đệ tử. Kiều trước khi tu thiền với Giác Duyên thực chất vẫn là đệ tử gián tiếp của Tam Hợp Đạo Cô đi đường ngoại môn, so với Giác Duyên là đệ tử đi đường nội môn.
Thực ra xem bói có phân biệt âm dương rất rõ ràng :
– Âm là nữ, dương là nam : Người nam xem bói cho người nam, người nữ xem bói cho người nữ, người nam xem bói cho người nữ, người nữ xem bói cho người nam là bốn trường hợp khác nhau. Nếu người xem bói mà không phân biệt được bốn trường hợp này là không biết xem.
– Âm là thanh âm, dương là hình tướng : Thày đồng đi đường âm, còn thày xem tướng số đi đường dương.
– Âm là tử, dương là sinh : Sinh tử, chết đi sống lại, hoặc chết một khía cạnh của con người, một giai đoạn của cuộc đời, để tái sinh ở một trang thái trong một giai đoạn mới là những vận hành quan trong nhất trong một cuộc đời mà cần phải xem
– Âm là người âm, dương là người dương : Xem bói có thể xem tình trạng của cả người sống và người chết, biết một người còn sống hay đã chết, còn sống lâu hay sắp chết, hoặc sẽ đi qua sống chết
– Âm là phần âm, dương là phần dương của một con người và một cuộc đời : Xem bói có thể và cần thiết phải xem cả phần âm và phần dương của một người và một cuộc đời. Phần âm của một người liên quan đến linh hồn, tinh thần, năng lương, phúc đức, tổ tiên, mộ phần, đối xứng với phần dương là vật chất, thân thể, nhà đất, công danh, sự nghiệp …
Xem bói có hai dạng
– có tiếp xúc trực tiếp đối tượng : nhìn hình, nghe tiếng, tiếp xúc về năng lượng
– biết ngày giờ sinh, địa điểm sinh, để lập lá số của đối tượng
Cả bốn vị xem bói cho Kiều đều không cần dựa vào bất kỳ thông tin ngày giờ sinh nào mà đều xem được chính xác.
Xem bói qua việc lập lá số ảo hơn rất nhiều so với xem bói dựa vào sự tiếp xúc với đối tượng. Kể cả có ngày giờ sinh chính xác thì còn địa điểm sinh, còn cha mẹ sinh, … cũng có bao nhiêu người trùng ngày giờ sinh, thậm chí trùng địa điểm sinh, thậm chí trùng cha mẹ sinh, như các cặp song sinh nhưng mà số mệnh hoàn toàn khác nhau.
Trong bói toán,
– Thày bói luôn quan trọng kỹ thuật bói toán. Người có năng lực bói toán có thể dựa vào rất nhiều kỹ thuật và yếu tố khác nhau để bói toán. Muốn làm thày bói phải tu thân, phải học làm người trước khi quan tâm về kỹ thuật bói toán, mà là một thử thách lớn cho bản ngã.
– Đối tượng được xem bói quan trọng hơn kỹ thuật bói toán. Cách xem bói tốt nhất phải tiếp xúc trực tiếp và đa dạng với đối tượng được xem bói và từ đó bắt được cấu trúc và vận hành chính xác của cuộc đời họ.
Ngày này nhiều người cho rằng trình độ bói toán cho nên có thể dựa vào đối tượng thật mà đoán ra lá số. Đó là tình trạng đổi hình lấy bóng, coi đối tượng ảo cao hơn đối tượng thật. Những người này mà xem bói cho chính mình, thì không tiếp xúc với định mệnh của mình mà tiếp xúc với lá số mà họ coi là định mệnh của mình.
Bỏ qua đối tượng thực và mục đích thật của xem bói là con người và số mệnh là một trong cái hại lớn nhất của việc đi theo bói toán, chiêm tinh. Việc này giống như theo đạo, nhưng mà không trực tiếp hướng về thần thánh Phật chúa mà thông qua hình tướng như đèn chùa, giáo pháp, lễ tượng, thì còn xa đạo hơn, còn hỏng mệnh hơn.
Kiều không có năng lực xem bói, nhưng lại sống đúng với thân và mệnh của mình, và đặc biệt có duyên được xem bói chính xác. Thứ nhất, vì cuộc đời nàng và thân phận nàng dính mắc đến nhiều người, được nhiều người quan tâm. Thứ hai, quan trọng hơn vì Kiều tiếp xúc với định mệnh của mình, sống đúng với đường đời của mình, Kiều giống như một con tàu đang ở trên đúng đường ray. Khi một người sống đúng thân mệnh của mình, và cũng có ý thức này rõ ràng thì thế nào cũng có người nhắc nhở họ về mệnh, như trường hợp của Kiều.
Kiều đã kể lại về việc được xem tướng số với Kim Trọng
Đạm thanh một bức tranh tùng treo trên.
Phong sương được vẻ thiên nhiên,
Mặt khen nét bút càng nhìn càng tươi.
Sinh rằng: “Phác hoạ vừa rồi,
Phẩm đề xin một vài lời thêm hoa.”
Tay tiên gió táp mưa sa,
Khoảng trên, dừng bút thảo và bốn câu.
Khen: “Tài nhả ngọc phun châu,
Nàng Ban, ả Tạ cũng đâu thế vầy!
Kiếp tu xưa ví chưa dày,
Phúc nào nhắc được giá này cho ngang!”
Kim Trọng cho rằng phúc tu các kiếp trước của mình cao dày mới cho mình gặp được Kiều kiếp này.
Nàng rằng: “Trộm liếc dung quang,
Chẳng sân ngọc bội thì phường Kim Môn.
Nghĩ mình phận mỏng cánh chuồn,
Khuôn xanh biết có vuông tròn mà hay?
Nhớ từ năm hãy thơ ngây,
Có người tướng sĩ đoán ngay một lời:
Anh hoa phát tiết ra ngoài,
Nghìn thu bạc mệnh một đời tài hoa.
Trông người lại ngắm đến ta,
Một dày, một mỏng, biết là có nên?”
Kiều lại đáp rằng, nhìn Kim Trọng là biết người tài hoa quyền quý, phúc đức cao dày, trong khi mình phận mỏng, sợ không hợp, vì ngày bé đó có người tướng sĩ (người xem tướng) đoán rằng anh hoa của Kiều phát tiết ra ngoài, nên bạc mệnh và tài hoa. Cho nên so sánh âm đức giữa Kiều và Kim Trong, một người phận dày (Kim Trọng), một người phận mỏng (Thuý Kiều), không biết có nên duyên phận.
Sinh rằng: “Giải cấu là duyên,
Xưa nay nhân định thắng thiên cũng nhiều.
Ví dù giải kết đến điều,
Thì đem vàng đá mà liều với thân.”
Kim Trọng đáp rằng vợ chồng là cái duyên, xưa nay nhân định (chí định và hành định) thắng thiên (mệnh) cũng nhiều. Cho dù duyên vợ chồng có gặp chuyện như đã được tiên đoán, thì cũng quyết đem vàng đá liều thân theo tới cùng.
Vị được Thúc Sinh nhờ xem cho Kiều là thày đồng cốt, Thúc Sinh tin rằng Kiều đã chết cháy, nên muốn lên đồng gọi hồn Kiều về hỏi cho rõ ràng.
Thú quê thuần hức bén mùi,
Giếng vàng đã rụng một vài lá ngô.
Chạnh niềm nhớ cảnh giang hồ,
Một niềm quan tái, mấy mùa gió trăng.
Tình riêng chưa dám rỉ răng,
Tiểu thư trước đã liệu chừng nhủ qua:
“Cách năm, mây bạc xa xa,
Lâm Chuy cũng phải tính mà thần hôn.”
Được lời như cởi tấc son,
Vó câu thẳng ruổi nước non quê người.
Long lanh đáy nước in trời,
Thành xây khói biếc, non phơi bóng vàng.
Roi câu vừa gióng dặm trường,
Xe hương nàng cũng thuận đường quy ninh.
Thúc Sinh về nhà ở Vô Tích thăm Hoạn Thư. Thực ra Hoạn Thư đã điều tra được chuyện giữa Kiều và Thúc Sinh, nhưng vẫn giả vở vui vẻ không biết gì. Hoạn Thư còn chủ động bảo Thúc Sinh sơm quay lại Lâm Chuy. Thúc Sinh nghe vậy rất mừng, vì Kiều đang được Thúc Sinh nuôi giấu ở Lâm Chuy, Thúc SInh cũng muốn quay về đó sớm, sống xa vợ và gia đình vợ để dễ bề vùng vẫy.
Thưa nhà huyên hết mọi tình,
Nỗi chàng ở bạc, nỗi mình chịu đen.
Nghĩ rằng: “Ngứa ghẻ hờn ghen,
Xấu chàng mà có ai khen chi mình!
Vậy nên ngoảnh mặt làm thinh,
Mưu cao vốn đã rắp ranh những ngày.
Lâm Chuy đường bộ tháng chầy,
Mà đường hải đạo sang ngay thì gần.
Dọn thuyền lựa mặt gia nhân,
Hãy đem dây xích buộc chân nàng về.
Làm cho, cho mệt, cho mê,
Làm cho đau đớn, ê chề cho coi!
Trước cho bõ ghét những người,
Sau cho để một trò cười về sau!”
Sau khi nói với chồng về việc quay lại Lâm Chuy, Hoạn Thư quay sang thưa thật mọi chuyện với cha mẹ rằng Thúc SInh ăn ở bạc, nhưng ghen tuông chỉ làm xấu mặt chàng hổ mình, nhưng đã tính sẵn mưu cao. Thúc Sinh đi đường bộ từ Vô Tích về Lâm Chuy mất cả tháng. Trong lúc Thúc Sinh còn đang trên đường, Hoạn Thu muốn sai gia nhân đi đường biển, nhanh hơn nhiều sang Lâm Chuy trước bắt Kiều. Kế của Hoạn Thư là đánh thuốc mê, xích chân Kiều đem về như tội nhân, rồi làm cho Kiều đau đớn ê chề, cho bõ ghét và để Kiều trở thành trò cười cho về sau để Kiều và chồng đều phải chừa.
Phu nhân khen chước rất mầu,
Chiều con, mới dạy mặc dầu ra tay.
Sửa sang buồm gió, lèo mây,
Khuyển, Ưng lại lựa một bầy côn quang.
Dặn dò hết các mọi đường,
Thuận phong một lá, vượt sang bên Tề.
Mẹ của Hoạn Thư khen kế hay, cho gia nhân và tài vật giúp đỡ, lại còn dặn dò thêm vào.
Nàng từ chiếc bóng song the,
Đường kia nỗi nọ như chia mối sầu.
Bóng dâu đã xế ngang đầu,
Biết đâu ấm lạnh, biết đâu ngọt bùi.
Tóc thề đã chấm ngang vai,
Nào lời non nước, nào lời sắt son?
Sắn bìm chút phận con con,
Khuôn duyên biết có vuông tròn cho chăng?
Thân sao nhiều nỗi bất bằng,
Liều như cung Quảng ả Hằng, nghĩ nao!
Trong lúc đó, Kiều một mình ở Lâm Chuy, không biết gì, vẫn buồn bã nhớ thương Thúc Sinh và lo lắng cho tương lai với chàng.
Đêm thu gió lọt song đào,
Nửa vành trăng khuyết, ba sao giữa trời.
Nén hương đến trước thiên đài,
Nỗi lòng khấn chửa cạn lời vân vân.
Dưới hoa dậy lũ ác nhân,
Ầm ầm khốc quỷ, kinh thần mọc ra.
Đầy sân gươm tuốt sáng loà,
Thất kinh nàng chửa biết là làm sao.
Thuốc mê đâu đã tưới vào,
Mơ màng như giấc chiêm bao biết gì!
Trong đêm, người của Hoạn Thư xông vào, vũ khí sáng loà, chuốc thuốc mê cho Kiều mang đi.
Vực ngay lên ngựa tức thì,
Phòng đào viện sách, bốn bề lửa dong.
Sẵn thây vô chủ bên sông,
Đem vào để đó, lận sòng ai hay.
Ngay khi đem Kiều lên ngựa mang đi theo lời dặn của Hoàn Thư, bọn gia nhân phóng hoả đốt nơi ở của Kiều. Sẵn có xác chết vô chủ bên sông, bọn chúng đem vào đám cháy, giả làm Kiều.
Tôi đòi phách lạc, hồn bay,
Pha càn bụi cỏ, gốc cây ẩn mình.
Bọn tôi tới kinh hãi, đứa chạy trốn, đứa ấn nấp cả
Thúc ông nhà cũng gần quanh,
Chợt trông ngọn lửa, thất kinh rụng rời.
Cha của Thúc Sinh gần đó nhìn thấy lửa cháy cũng thất kinh. (Cha Thúc Sinh sống gần nơi Thúc Sinh ở với Kiều vì Thúc Sinh theo cha đi buôn bán xa nhà ở Lâm Chuy, rồi mới gặp Kiều ở đó, chuộc Kiều ra khỏi lầu xanh, dựng phủ đệ ở cùng).
Tớ thầy chạy thẳng đến nơi,
Tơi bời tưới lửa, tìm người lao xao.
Chủ tớ nhà Thúc Sinh vội chạy tới dập lửa và tìm người.
Gió cao, ngọn lửa càng cao,
Tôi đòi tìm đủ, nàng nào thấy đâu!
Đã tìm thấy hết tôi đòi gia nhân sống trong phủ của Kiều, chỉ riêng nàng là không thấy.
Hớt hơ, hớt hãi, nhìn nhau,
Giếng sâu, bụi rậm, trước sau tìm quàng;
Chạy vào chốn cũ phòng hương,
Trong tro, thấy một đống xương cháy tàn.
Sau khi tìm khắp giếng nước, bụi rậm, bọn tôi đòi mới chạy vào phòng của Kiều, nay đã bị cháy thành tro thì thấy một đống xương cháy tàn.
Ngay tình, ai biết mưu gian,
Hẳn nàng, thôi lại còn bàn rằng ai!
Ai cũng cho rằng, người bị chết cháy là Thuý Kiều
Thúc ông sùi sụt ngắn dài,
Nghĩ con vắng vẻ, thương người nết na.
Di hài nhặt sắp về nhà,
Nào là khâm liệm, nào là tang trai.
Cha của Thúc Sinh than khóc ngắn dài, thương con trai lại cô quạnh vắng vẻ, thương Kiều nết na mà phải chết. Cha của Thúc Sinh nhặt di hài người chết cháy về nhà, làm khâm liệm và tang trai.
Lễ thường đã đủ một hai,
Lục trình chàng cũng đến nơi bấy giờ.
Sau một số ngày tang lễ, thì Thúc Sinh mới theo đường bộ về đến Lâm Chuy theo bộ.
Bước vào chốn cũ lầu thư,
Tro than một đống, nắng mưa bốn tường.
Thúc Sinh tìm đến lầu thư nơi Kiều ở thì tất cả đã cháy thành tro, phơi ngoài mưa nắng, chỉ còn có bốn bức tường.
Sang nhà cha, tới trung đường,
Linh sàng, bài vị thờ nàng ở trên.
Sang tới nhà cha, vào gian trung đường thì thấy linh sàng và bài vị thờ Kiều ở đó (điều này đủ cho thấy cha Thúc Sinh coi Kiều như con dâu). Như vậy Kiều ít nhất lần được người thân và gia đình thờ từ khi còn sống.
Hỡi ôi! Nói hết sự duyên,
Tơ tình đứt ruột, lửa phiền cháy gan.
Gieo mình vật vã khóc than:
“Con người thế ấy, thác oan thế này!
Chắc rằng mai trúc lại vầy,
Ai hay vĩnh quyết là ngày đưa nhau!”
Thương càng nghĩ, nghĩ càng đau,
Dễ ai rấp thảm, quạt sầu cho khuây.
Cha Thúc Sinh bèn kể lại sự tình. Thúc Sinh than khóc cho Kiều bị thác oan, cứ tưởng lần này về lai Lâm Chuy thanh mai trúc mã sum vầy, nào ngờ lại là ngày vĩnh biệt.
Gần miền nghe có một thầy,
Phi phù trí quỷ, cao tay thông huyền.
Trên tam đảo, dưới cửu tuyền,
Tìm đâu thì cũng biết tin rõ ràng.
Sắm sanh lễ vật rước sang,
Xin tìm cho thấy mặt nàng hỏi han.
Nghe nói trong vùng có một thày phù thuỷ cao tay trên tam giới (tam đảo), dưới âm phủ cửu tuyền đều có thể tìm người, biết tin rõ ràng, Thúc Sinh bèn sắm sanh lễ vật, xin được cho thấy mặt nàng (gọi hồn) hỏi han rõ ràng về cái chết của Kiều.
Đạo nhân phục trước tĩnh đàn,
Xuất thần giây phút chưa tàn nén hương.
Trở về minh bạch nói tường:
“Mặt nàng chẳng thấy, việc nàng đã tra.
Người này nặng kiếp oan gia,
Còn nhiều nợ lắm, sao đà thác cho!
Mệnh cung đang mắc nạn to,
Một năm nữa mới thăm dò được tin.
Hai bên giáp mặt chiền chiền,
Muốn nhìn mà chẳng dám nhìn, lạ thay!”
Thày đồng thắp hương ngồi trước đàn cúng, hương chưa tàn thì thầy đã xuất thần đi rồi trở về ngày nói rằng : Thày chưa thấy được mặt Kiều, nhưng việc của nàng đã tra ra. Kiều nặng kiếp oan gia, còn nhiều nợ, chưa chết ngay được. Thân chủ đang ở một mệnh cung mắc nạn to, một năm nữa mới thăm dò được tin. Thày đồng nói rằng đã giáp được mặt Kiều, mà lại không dàm nhìn mặt Kiều, lạ thay.
Như vậy thày đồng này xem bói hoàn toàn theo âm, ngược hẳn với thày tướng sĩ xem cho Kiều lúc nhỏ là thày tướng bắt hình.
Thúc Sinh nghe thày đồng nói thì không dám tin, cho rằng đồng cốt quàng xiên, người mất mà lại thấy còn ở trên cõi trần.
Nghe lời nói lạ dường này!
Sự nàng đã thế, lời thầy dám tin?
Chẳng qua đồng cốt quàng xiên,
Người đâu mà lại thấy trên cõi trần?
Thực ra việc thày bói chỉ bắt được âm của Kiều mà không bắt được hình của Kiều, là vì nhiều nguyên nhân. Kiều mà một hồn thuần âm thuỷ, hình tướng chỉ là nương tạm qua mỗi kiếp, giống như nước không có hình chỉ mượn hình dánh của những vật chất khác mà nương tựa vào. Kiều lúc này ghép với Đạm Tiên, một người âm gá thân vào Kiều nhưng phần thân gốc lại mạnh hơn Kiều.
Tiếc hoa, những ngậm ngùi xuân,
Thân mà dễ lấy mấy lần gặp tiên!
Thúc Sinh thương tiếc Kiều, như bông hoa chết giữa tuổi xuân. Thân thể đẹp nhường ấy mà dễ lấy lại như thày đồng nói thì gặp tiên chẳng quá dễ dàng. Tiên có khả năng hiện thân, hoá thân, chuyển thân. Thực ra Kiều đúng là tiên thật. Cho nên bói Kiều có lời khấn
Lậy Vua Từ Hải
Lậy Phật Giác Duyên
Lậy Tiên Thuý Kiều
Như vậy trong đời Kiều, Kiều đã hai lần được thờ sống
– Lần được thờ sống bời cha con Thúc Sinh sau khi nơi ở của nàng bi cháy
– Lần được thờ sống bởi gia đình ở sông Tiền Đường khi gia đình nghĩ nàng đã chết đuối
Trong số mệnh của Kiều, hai sự kiện này có thể được coi là chết đi sống lại trong lửa và trong nước. Kiều trước đó đã cầm dao tự tử, đây là sự kiện chết bằng kim. Vậy còn 3 nguyên tố sinh tử nữa là mộc, khí và thổ, hoặc Kiều sẽ cần trải qua cả 3 lần sinh tử nữa hoặc Thuý Vân, Đạm Tiên và Giác Duyên sẽ cần trải qua 3 lần sinh tử này. Tất cả những sự kiện lớn như vậy, đều nằm trong định mệnh sinh tử, trong vòng đời được thiết kế sẵn của một con người.
Trong Tử Vi hay Chiêm tinh những sự kiện sinh tử kiều này không nằm trong một cung hay một sao cụ thể, mà tính là sự kiện chuyển vận, sự kiện chuyển thế. Những sự kiện sinh tử này không hẳn là đại hạn, vì trong vòng tử sinh, tử hay sinh bản chất không phải là hoạ hay phúc, mà cách chúng ta vân hành cả vòng sinh tử đúng hay sai mới là hoạ phúc. Tức nhiên tai điểm sinh tử, hoạ phúc đều tăng lên rất cao, vì nếu đi đúng mệnh thì phúc rất lớn mà sai mệnh thì hoạ cũng vô cùng lớn.
