![]()
THIỂM TÂY : ĐẤT PHÁT NGUYÊN CỦA HOA HẠ & CON ĐƯỜNG GIAO THƯƠNG ĐÔNG TÂY
—o—o—
Thiểm Tây (Shaanxi) là một trong những địa điểm mang đậm dấu ấn lịch sử nhất của châu Á, là một tỉnh nằm trong vùng nôi của nền văn minh Trung Hoa cổ đại. Thiểm Tây được coi là nơi khởi phát của văn hoá Hoa Hạ trước công nguyên (giai đoạn Tiên Tần của nhà Hạ, Ân Thương, Chu, Tần cùng với Hà Nam và Sơn Đông). Thiểm Tây được xem là bảo tàng ngoài trời lớn nhất của Trung Quốc, nơi lưu giữ hơn 700 di tích lịch sử trải dài qua nhiều triều đại. Đây cũng là tỉnh sở hữu nhiều Di sản Thế giới UNESCO nhất cả nước, minh chứng cho vai trò trung tâm của vùng đất này trong tiến trình phát triển của nền văn minh Trung Hoa.
Thiểm Tây có 10 đơn vi trực thuộc là Tây An, An Khang, Bảo Kê, Hán Trung, Thương Lạc, Đồng Xuyên, Vị Nam, Hàm Dương, Diên An, Du Lam.
Quan Trung hay bình nguyên Vị Hà nằm chính giữa Thiểm Tây gồm có Tây An, Bảo Kê, Hàm Dương, Đồng Xuyên, Vị Nam, tương ứng với thung lũng hạ du của Vị Hà. Đây là một khu vực lịch sử của Trung Quốc, từ thời nhà Chu, khu vực này là nơi định đô của 12 triều đại Trung Quốc như nhà Hán, nhà Tùy, và nhà Đường.
Thiểm Tây, đặc biệt Quan Trung, mà trung tâm là Tây An gắn với các nhân vật lịch sử và thời kỳ lịch sử sau
– Văn hóa Lão Quan Đài (khoảng 6000 TCN-5000 TCN) tập trung ở Lam Điền
– Văn hóa Ngưỡng Thiều (khoảng 5000 TCN-3000 TCN) :
– Văn hóa Long Sơn (khoảng 3000 TCN-2000 TCN)
– Nhà Hạ : Thương Hiệt tổ của chữ Hán, sự tích xảy ra ở huyện Bảo Kê, tỉnh Thiềm Tây, nơi đây có đền thờ Thương Hiệt.
– Nhà Tây Chu : Khởi phát từ Quan Trung (trước thời Cơ Xương), thủ đô Tông Chu (1046–771 TCN) nay thuộc Tây An (Đông Chu ở Lạc Dương, Hà Nam)
– Nhà Tần : Tần Thuỷ Hoàng, được cha đẻ của nhà nước Trung Quốc hiện đại đặt đô ở Hàm Dương
– Nhà Tây Hán : Hán Cao Tổ Lưu Bang đặt đô đầu tiêu ở Quan Trung, sau đó dời đến Trường An (Tây An, Thiểm Tây ngày nay). Tây Hán đạt đỉnh cao vào thời Hán Vũ Đế Lưu Triệt ở đây. (Đông Hán được thành lập muộn hơn vào khoảng năm 25 ở Lạc Dương)
– Tam Quốc : Thiểm Tây chia 3 : Tào Nguỵ, Thục Hán và du mục. Vùng Quan Trung của Thiểm Tây thuộc quyền quản lý của Ung châu thuộc Tào Ngụy, trị sở đặt tại Trường An. Các huyện ở Thiểm Nam nằm ở phía đông của Thạch Tuyền thì thuộc Kinh châu cũng của Tào Ngụy. Khu vực tây bộ Thiểm Nam nằm dưới quyền quản lý của Ích châu thuộc Thục Hán. Các xứ ở Thiểm Bắc là lãnh địa của các tộc du mục.
– Hán Triệu : Sau khi lên ngôi hoàng đế Hán, năm 319, Lưu Diệu cải quốc hiệu thành “Triệu”, sử gọi là “Tiền Triệu”, dời đô về Trường An (Lưu Diệu bị bắt tại Lạc Dương)
– Nhà Tuỳ (581-605) thủ đô ở Trường An
– Nhà Đường : vua Đường Huyền Tông, Dương Quý Phi, sư Đường Huyền Trang
– Nhà Đường (Chu) : Cao Tông Lý Trị, Võ Tắc Thiên
Thiểm Tây là nơi có nhiều lăng mộ cổ
– Lăng Hoàng Đế Hiên Viên tọa lạc tại núi Bắc Kiều, huyện Hoàng Lĩnh, thành phố Diên An, tỉnh Thiểm Tây. Về mặt truyền thuyết, Thiểm Tây thời Thượng Cổ là đất Ung châu, là đất phát nguyên và đất an táng của Viêm Đế và Hoàng Đế, mà theo Quốc ngữ thì Viêm Đế và Hoàng Đế đều là hậu duệ của Thiếu Điển. Lăng mộ của Viêm Đế tương truyền nằm tại Viêm Lăng Sơn, cách huyện lỵ Viêm Lăng khoảng 15 dặm về phía tây nam, thuộc địa cấp thị Chu Châu, tỉnh Hồ Nam, Trung Quốc. Lăng mộ của Xi Vưu đã cho là ở núi Phàn Sơn, huyện Trác Lộc, tỉnh Hà Bắc sau khi đánh trận Trác Lộc với Hoàng Đế.
– Bản quán của Thương Hiệt nay tại trấn Sử Quan (史官) huyện Bạch Thủy (白水), Vị Nam, tỉnh Thiểm Tây (陝西) đời Hán đã lập miếu Thương Hiệt. Thương Hiệt là tổ tạo ra chữ Hán, được cho là sử quan của Hoàng Đế.
– Lăng mộ của các vị vua nhà Chu (1046–256 TCN) được chia thành 2 thời kỳ chính nằm tại tỉnh Thiểm Tây và Hà Nam (Trung Quốc. Khu vực Tây Chu: Các lăng mộ nằm chủ yếu tại Tỉnh Thiểm Tây, tập trung nhiều ở khu vực Bảo Kê (Baoji) và Tây An (thủ phủ triều đại thời kỳ đầu). Khu vực Đông Chu: Các lăng mộ dời về tỉnh Hà Nam sau khi nhà Chu dời đô về phía Đông. Lăng mộ Chu Công (Chu Vũ Vương) nằm tại huyện Bộc Dương (Puyang), tỉnh Hà Nam. Lăng mộ Vua nhà Trịnh (thời Xuân Thu) nằm tại thành phố Tân Trịnh (Xinzheng), tỉnh Hà Nam, được bảo tồn thành điểm tham quan khảo cổ.
– Lăng mộ Tần Thuỷ Hoàng nằm ở chân núi Ly Sơn, huyện Lâm Đồng, Tây An.
– Lăng mộ Tây Hán nằm ở vùng ngoại ô thành phố Tây An, tỉnh Thiểm Tây. Lăng Hán Vũ Đế Lưu Triệt (156 TCN – 87 TCN) nằm cách Tây An khoảng 40km về phía tây bắc, thuộc quần thể 9 lăng mộ hoàng đế nhà Hán. Dương Lăng (Lăng Hán Cảnh Đế) nằm tại quận Vỹ Thành, cách Tây An khoảng 20km. Bá Lăng (Lăng Hán Văn Đế) tọa lạc tại khu vực núi Phượng Hoàng Chủy, ngoại ô phía đông Tây An. Lăng mộ thời Đông Hán chủ yếu nằm ở khu vực Lạc Dương, tỉnh Hà Nam. Lăng Hán Quang Vũ Đế nằm tại thành phố Lạc Dương.
– Lăng mộ nhà Đường tập trung ở Hàm Dương. Chiêu Lăng (lăng mộ Đường Thái Tông) nằm trên núi Cửu Tông, thuộc địa phận huyện Lễ, thành phố Hàm Dương. Càn Lăng (nơi an táng Đường Cao Tông và Võ Tắc Thiên) nằm tại huyện Càn, thành phố Hàm Dương.
Thiểm Tây gắn với lịch sử phát triển của chữ Hán và thư pháp qua các giai đoạn sau
– Chữ Hán do Thương Hiệt sáng tạo ra đầu tiên ở Quan Trung, Thiểm Tây
– Kim Thư của nhà Chu
– Triện Thư của nhà Tần
– Lệ Thư từ thời nhà Tần sáng tạo bởi một tù nhân của Tần Thuỷ Hoàng
Tây An là điểm dừng chân nổi tiếng của con đường Đông Tây
– Con đường tơ lụa tay là con đường nối Âu – Á
– Con đường đạo Phật là con đường nối Ấn Độ và Trung Quốc
Thiểm Tây (Bố Khê) có chùa Pháp Môn, ngôi chùa cổ có xá lị xương ngón tay của Đức Phật. Đây là địa điểm hành hương nổi tiếng.
Về sông, Thiểm Tây vừa có sông Vị Hà. Tại đoạn chảy trong khu vực Tây An, Hàm Dương, sông Vị có 8 chi lưu, nên từ thời cổ đại đã có mỹ danh là Bát thủy nhiễu Trường An (Tám sông quấn quanh Trường An).
Về núi, Thiềm Tây có dãy núi Tần Lĩnh nằm phía nam của sông Vị Hà
– Hoa Sơn nằm trong Ngũ nhạc danh sơn. Hoa Sơn nằm ở thành phố Hoa Âm, huyện Vị Nam, tỉnh Thiểm Tây
– Núi Chung Nam đôi khi còn được gọi là núi Thái Ất hoặc núi Chu Nam là một nhánh của dãy núi Tần Lĩnh nằm ở tỉnh Thiểm Tây, phía nam của thành phố Tây An, từ Vũ Công ở phía đông kéo dài qua Lam Điền. Một số đỉnh núi đáng chú ý của dãy gồm Lâu Quan Đài (được cho là nơi đạo sĩ hiền triết Lão Tử cư ngụ và truyền đạt Đạo đức kinh), hay Nam Ngũ Đài , Khuê Phong. Các ngọn núi của Chung Nam nổi tiếng khi là nơi ở ẩn của các ẩn sĩ Đạo giáo từ thời nhà Tần. Sau đó, các tu sĩ Phật giáo bắt đầu sống ở vùng núi này khi Phật giáo du nhập vào Trung Quốc từ Ấn Độ trong những năm đầu của thiên niên kỷ đầu tiên. Toàn Chân đạo là một trong những giáo phái lớn nhất của Đạo giáo hiện đại được thành lập ở vùng núi Chung Nam bởi Vương Trùng Dương, một đạo sĩ thời nhà Tống.
—o—o—o—
QUAN TRUNG
– QUAN TRUNG THỜI CHU
Chu tộc nguyên là một bộ lạc cổ ở khu vực Quan Trung của Thiểm Tây. Theo Sử ký- Chu bản kỉ, thủy tổ của Chu tộc tên là Khí, do giỏi canh nông nên được vua Nghiêu cử làm Nông sư, được vua Thuấn đặt hiệu là Hậu Tắc, phong cho đất Thai (邰) và ban cho họ Cơ. Ba đời sau, đến đời thủ lĩnh Cơ Công Lưu, ông đã dẫn tộc chúng di cư đến Phân Phụ (分). Chín đời sau đó, khoảng thế kỷ XII TCN, thời thủ lĩnh Cổ Công Đản Phủ, người Chu vượt qua sông Tất Thủy, qua Lương Sơn, đến định cư trên vùng đất tươi đẹp và phì nhiêu phía bắc Vị Hà và chân núi phía nam Kỳ Sơn, thuộc vùng cao nguyên Hoàng Thổ, họ lấy tộc danh để đặt cho vùng đất này là Chu Nguyên. Cổ Công Đản Phủ chỉ huy tộc nhân khai khẩn đất đai, đào rãnh tiêu nước, trồng các loại cây lương thực, phát triển nông nghiệp, xây dựng miếu đường, cung điện, nhà ở, xây đắp tường thành. Bộ lạc Chu thiết lập nên chế độ quan lại, lập quân đội, nhiều lần đẩy lui các cuộc tấn công của những bộ lạc Nhung, Địch. Việc chính thức định quốc hiệu là Chu thể hiện việc người Chu đã tiến vào xã hội giai cấp, thời kỳ đầu của chế độ nô lệ. Đời thủ lĩnh thứ 15 của bộ lạc Chu là Cơ Xương, trong thời gian này, lực lượng của Chu quốc đã phát triển rất mạnh, chiếm toàn bộ bình nguyên Quan Trung. Cơ Xương chuyển quốc đô từ Chu Nguyên đến đất Phong (沣).
– QUAN TRUNG THỜI TẦN
Theo Sử ký- Tần bản kỷ, người Tần là hậu duệ của Chuyên Húc- con cháu của Hoàng Đế, đã theo Hạ Vũ bình thủy thổ, lại giúp vua Thuấn chế ngự chim thú, được Thuấn ban cho họ “Doanh”. Sau khi bộ lạc Chu nổi lên tại Quan Trung ở Thiểm Tây, người Tần thân thiện với Chu, từng được Chu vương giao cho việc chăn ngựa. Chu Hiếu Vương thấy người Tần có công, phân phong cho đất Tần tộc hiệu là Tần Doanh, làm phụ dung cho nhà Chu. Khi Chu Bình Vương thiên đô về phía đông, Tần Tương công suất binh hộ tống, được Chu Bình Vương phong làm chư hầu, ban vùng đất phía tây Kỳ (岐). Sau khi Tần Tương công thụ phong, bắt đầu tiến hành chiến tranh lâu dài với các tộc Nhung, Địch để tranh đoạt Quan Trung, sau nhiều thập niên, cuối cùng đã củng cố địa vị thống trị tại Quan Trung.
Năm thứ nhất thời Tần Đức công (677 TCN), nước Tần dời quốc đô từ Bình Dương (平阳) đến Ung (雍),[chú 11] Ung là quốc đô của Tần trong vòng gần 300 năm. Năm thứ hai đời Tần Hiến công (383 TCN), Tần thiên đô về phía đông, đến Lịch Dương (栎阳). Năm thứ 12 đời Tần Hiếu công (350 TCN), Tần lại thiên đô đến Hàm Dương. Sau khi Tần vương Doanh Chính (Tần Thủy Hoàng) kế vị vào năm 246 TCN, Tần tiến hành chiến tranh thống nhất Trung Quốc, mỗi lần xuất binh diệt một nước, cuối cùng diệt cả sáu nước.
—o—
LAM ĐIỀN : NƠI BẮT NGUỒN CỦA HOA TƯ THỊ, TỔ TIÊN CỦA NGƯỜI HOA
Người Việt cho rằng mình là tổ Hồng Bàng Thị, còn người Hoa cho rằng tổ tiên của họ là Hoa Tư Thị, ở Lam Điền.
Lam Điền là huyện của Tây An, Tây An là đô thị trung tâm của Quan Trung, Quan Trung là vùng trung tâm của Thiểm Tây)
Khu vực Thiểm Bắc thuộc vùng trung thượng du Hoàng Hà, khu vực phía nam Tần Lĩnh thuộc vùng thượng du Trường Giang, Quan Trung là những vùng phát địa quan trọng của nền văn minh Trung Hoa. Theo phân kỳ khảo cổ, khu vực Quan Trung từ xưa đã có các hoạt động của người Lam Điền (蓝田人, Homo erectus lantianensis). Trong các di chỉ thời đại đồ đá mới, có niên đại sớm nhất là thuộc về văn hóa Lão Quan Đài (khoảng 6000 TCN-5000 TCN), kế tiếp là thuộc văn hóa Ngưỡng Thiều (khoảng 5000 TCN-3000 TCN) nổi tiếng, sau đó là văn hóa Long Sơn (khoảng 3000 TCN-2000 TCN).
Về mặt truyền thuyết, Thiểm Tây thời Thượng Cổ là đất Ung châu, là đất phát nguyên và đất an táng của Viêm Đế và Hoàng Đế, mà theo Quốc ngữ thì Viêm Đế và Hoàng Đế đều là hậu duệ của Thiếu Điển.
Đồng thời trên địa bàn Thiểm Tây còn có Hoa Tư cổ quốc hoặc Hoa Tư thị ở khu vực Lam Điền của Tây An ngày nay. Hoa Tư thị là tổ tiên của dân tộc Trung Hoa, chữ Hoa Hạ và Trung Hoa bắt nguồn từ Hoa Tư thị (có thuyết nói là bắt nguồn từ Hoá Sơn, cũng thuộc Thiểm Tây).
—o—
LAM KIỀU : MUA NGỌC THÌ ĐẾN LAM KIỀU
Lam Điền và Lam Kiều là hai nơi khác nhau, nhưng cùng là những địa điểm trong huyện Lam Điền, thuộc Tây An, Thiểm Tây, Trung Quốc.
– Lam Điền là một trái núi ở về phía đông huyện Lam Điền, Tây An, tỉnh Thiểm Tây, Trung Quốc. Núi này có sản một thứ ngọc, rất đẹp nên cũng có tên gọi là Ngọc Sơn.
– Lam Kiều thì ở phía đông nam huyện Lam Điền tỉnh Thiểm Tây, tương truyền có động thần tiên (thần tiên quái), với sự tích Bùi Hàng thời Đường gặp tiên nữ Vân Anh ở Lam Kiều. Lam Kiều cũng thường được giải nghĩa là tên một cái cầu bắc trên sông Lam, ở huyện Lam Điền, tỉnh Thiểm Tây. Tuy nhiên, con sông chính và nổi tiếng nhất chảy qua huyện này là sông Bá (hay Bá Hà). Sông Bá bắt nguồn từ trấn Bá Nguyên thuộc huyện Lam Điền, là một trong 8 của sông Vị. Không có con sông nào ở Lam Điền tên là Lam.
Đời nhà Đường, triều Mục Tông (821-825), có một chàng nho sĩ tên Bùi Hàng, lều chõng đi thi bao lần đều hỏng. Một hôm, Bùi thuê đò đi Tương Hán định sang ghé Ngọc Kinh để xem phong cảnh. Cùng đáp một chuyến đò có một mỹ nhân tên Vân Kiều, sắc nước hương trời, con người đoan trang, thùy mị. Bùi sinh cảm mến, mong được giao duyên, mới mượn thơ thay lời, nhờ con nữ tỳ của giai nhân đưa hộ:
Kẻ Hồ, người Việt còn thương nhớ,
Huống cách người tiên chỉ bức mành.
Ví được Ngọc Kinh cùng nối gót,
Xin theo loan hạc đến mây xanh.
(Bản dịch của Phan Như Xuyên)
Nguyên văn:
Đồng vi Hồ Việt do hoài tưởng,
Huống ngộ thiên tiên cách cẩm bình.
Thắng nhược Ngọc Kinh triều hội khứ,
Nguyện tùy loan hạc nhập thành vân.
Vân Kiều xem thơ, vui vẻ mỉm cười. Nhưng thơ đi mà tin chẳng lại, Bùi rất lo lắng, băn khoăn. Nhưng khi đò sắp ghé bến, Bùi bỗng tiếp được thơ do con nữ tỳ của giai nhân đưa đến:
Uống rượu Quỳnh Tương trăm cảnh sinh,
Huyền Sương giã thuốc thấy Vân Anh.
Lam Kiều vốn thật nơi tiên ở,
Hà tất nhọc nhằn đến Ngọc Kinh.
Nguyên văn:
Nhất ẩm Quỳnh Tương bách cảnh sinh,
Huyền Sương đảo tận kiến Vân Anh.
Lam Kiều tự hữu thần tiên quật,
Hà tất khí khu thượng Ngọc Kinh.
Bùi không hiểu ý nghĩa ra sao, định hỏi; nhưng thuyền vừa ghé bến thì Vân Kiều đã thoáng mất. Nghiền ngẫm hai câu thơ cuối, Bùi không đến Ngọc Kinh, mà hỏi dò người, tìm đến Lam Kiều.
Trời trưa nắng gắt, Bùi mệt mỏi, mồ hôi nhuễ nhoại. Ghé vào hàng nước, nghỉ chân, hỏi nước uống. Bà lão chủ quán bảo người con gái đem nước ra. Nàng rất đẹp, trông dáng vẻ tựa Vân Kiều. Bùi hỏi, thì ra nàng là em của Vân Kiều, tên Vân Anh.
Bùi Hàng mừng rỡ, cho là gặp duyên trời định, mới thuật lại cả hai bài thơ. Bà lão cười, bảo:
– Hẳn là con Vân Kiều muốn xe duyên em nó cho cậu đó.
Bùi nghe nói lấy làm hớn hở. Nhưng bà lão cho biết là hiện bà có cái cối, song thiếu chiếc chày ngọc để giã thuốc Huyền Sương, nếu Bùi tìm được chày thì bà sẽ gả Vân Anh cho. Bùi Hàng bằng lòng. Nhưng đi tìm mãi khắp nơi mà không biết ở đâu có chày ngọc. Lòng buồn tha thiết. Tưởng hoàn toàn thất vọng, chàng đi lang thang. May mắn, một hôm, chàng gặp được tiên cho chiếc chày ngọc. Thế là duyên thành. Sau cả hai vợ chồng Bùi Hàng đều tu thành tiên cả.
Lam Kiều được nhắc đến nhiều lần trong truyện Kiều của Nguyễn Du, chính vì thế mà địa danh này và sự tích này trở nên nổi tiếng với người Việt.
—o—
DIÊN AN
Lăng Hoàng Đế là khu lăng mộ của Hoàng Đế Hiên Viên và từng được ghi trong Sử ký Trung Hoa truyền kỳ.
Lăng Hoàng Đế tọa lạc tại núi Bắc Kiều, huyện Hoàng Lĩnh, thành phố Diên An, tỉnh Thiểm Tây.
Trước đây Lăng Hoàng Đế được gọi là Qiaoling, là nơi mà các hoàng đế và quan lớn của mọi triều đại được thờ phụng. Vì vậy nơi đây là hiện hữu của nhiều dấu ấn sử thi với nhiều di tích lịch sử quan trọng được bảo tồn qua nhiều thế hệ.
Các điểm liên quan
– Tượng đài có in ấn Lăng Hoàng đế,
– Quảng trường Hiên Viên,
– Cầu Hiên Viên,
– Quảng trường Kiều Bắc,
– Đường đuôi rồng,…
—o—
BẢO KÊ
– KỲ SƠN : ĐỊA DANH GẮN VỚI VIỆC TẠO RA CHỮ HÁN BỞI THẦN THƯƠNG HIÊT
Lịch sử hình thành chữ Hán trong giai đoạn này liên quan đến một nhân vật thần thoại bốn mắt gọi là Thương Hiệt, được suy tôn là thánh tổ của chữ Hán. Thương Hiệt cũng được cho là sử quan của Hoàng Đế
Địa danh liên quan đến câu chuyện : Kỳ Sơn là núi ở Bảo Kê, Bảo Kê là một trong 6 đơn vị của Quan Trung, Quan Trung là vùng trung tâm của tỉnh Thiểm Tây, Trung Quốc.
Giai thoại Thương Hiệt tạo chữ vốn đã lưu truyền từ thời Chiến Quốc, được sách Lã thị xuân thu chép lại.
Thời thượng cổ, tại vùng Quan Trung (關中) thuộc Thiểm Tây (陝西) có một người tên là Thương Hiệt (倉頡), họ Hầu Cương, bút hiệu Sử Hoàng Thị,[2] biệt hiệu Song đồng tứ mục (雙瞳四目), tục xưng Thương Hiệt tiên sư (倉頡先師), Thương Hiệt thánh nhân (倉頡聖人), Thương Hiệt chí thánh (倉頡至聖), Chế tự tiên sư (制字先師), Chế tự tiên thánh (制字先聖), Hữu sử Thương thánh nhân (右史倉聖人).[3]
Thương Hiệt bẩm sinh có 4 mắt, mắt ông ta luôn đầy ghèn, nhưng từ hai đôi mắt đó phát ra tia sáng dị thường, quan sát sự vật vô cùng rõ ràng. Thương Hiệt xõa tóc, để râu, mình mặc da thú, ngồi trên tấm da của một loài mãnh thú, tay luôn cầm bút, nói chuyện cùng với người đối diện, dường như đang suy nghĩ điều gì. Đầu của ông cũng khác với người thường, đỉnh đầu nhô cao lộ vẻ thông minh đặc biệt.
Ông thường cưỡi lừa bôn ba khắp cao nguyên hoàng thổ ở Thiểm Tây, vượt núi băng sông, đi khắp các châu các quận, tìm hiểu phong tục tập quán dân gian, thu thập phù hiệu ngôn ngữ lưu hành trong dân gian. Lúc bấy giờ chưa có giấy, ông đem những tài liệu thu thập được viết lên lá lau sậy rồi bỏ vào trong túi để lừa thồ đi. Tư liệu mà Thương Hiệt thu thập rất nhiều, đựng đến mấy túi, con lừa đi đến huyện Kỳ Sơn (岐山)[5] vì quá mệt mà chết.
Ông mang những túi này, không có lừa không thể đi tiếp nên đã tìm một gian lều cỏ lưu lại. Thương Hiệt không ngừng quan sát thiên tượng, ngẩng đầu nhìn kỹ mặt trăng biến hóa khi tròn khi khuyết, còn thấy rõ hiện tượng diễn biến của núi sông mưa gió, phân biệt được dấu chân của các loài điểu thú, hoặc dấu tích của dã thú, xe cộ lưu lại khi đi qua, khu biệt được sự giống nhau và khác nhau của các loại dấu vết, đồng thời bắt đầu sáng tạo ra văn tự. Thương Hiệt không quản ngày đêm, chăm chỉ quan sát suy ngẫm.
Một đêm nọ, Thương Hiệt mệt đến nỗi đầu óc tối tăm, lại thêm cóc trong ao kêu liên tục, quấy rầy sự suy nghĩ của ông. Lúc đó, Thương Hiệt đang nghĩ đến việc làm sao tạo ra 2 chữ “xuất” (ra) và “trọng” (nặng). Bỗng cóc kêu lên một tiếng, kết quả ý nghĩa của chữ bị đảo lộn. Chữ 山 (sơn) ở trên có thêm chữ 山 nữa vốn có nghĩa là nặng, chữ 千 (thiên) chữ 里 (lý) vốn có nghĩa là xa; nhưng Thương Hiệt lại cho chữ 出 (xuất) có nghĩa là “ra”, cho chữ 重 (trọng) có nghĩa là nặng. Đêm đã khuya, Thương Hiệt nhấc bút lên chấm đầy mực, tức giận quẳng bút mực văng đến miệng cóc. Theo truyền thuyết, mãi đến nay, bên mép của cóc ở Kỳ Sơn đều đen cả.
Như vậy, Thương Hiệt hội ý tạo chữ, sáng tạo ra 24 chữ cổ. Sau khi Thương Hiệt tạo ra chữ đã cảm động thần linh, gạo từ trên trời rơi xuống, quỷ thần ban đêm cũng kinh hãi khóc rống. Chẳng bao lâu, Thương Hiệt vâng mệnh thống nhất văn tự và lãnh đạo các quan viên cải cách văn tự. Thương Hiệt còn là vị sử quan của Hoàng Đế, ghi chép sự việc, những việc lớn liên quan đến biên chép của thị tộc đều do Thương Hiệt nắm giữ, nên từ đó mà diễn dịch thành truyện Thương Hiệt có liên quan mật thiết đến việc sáng tạo văn tự.
– CHÙA PHÁP MÔN Ở BẢO KÊ
Pháp Môn là ngôi tự cổ tọa lạc ở thị trấn Pháp Môn, huyện Phù Phong (Fufeng), thành phố Bảo Kê (Baoji), tỉnh Thiểm Tây.
Chùa Pháp Môn được xây dựng vào thời Hoàn Lĩnh cuối triều Đông Hán với bề dày lịch sử hơn 1.700 năm nên được mệnh danh là tổ tiên của những ngôi chùa Quan Trung.
Trong lịch sử Trung Hoa, Pháp Môn tự từng là ngôi chùa hoàng gia và đã trở thành thánh địa Phật giáo được cả nước ngưỡng mộ vì đặt xá lợi xương ngón tay của Đức Phật Thích Ca Mâu Ni.
—o—
VỊ NAM
– BẢN QUÁN THƯƠNG HIỆT
Bản quán của Thương Hiệt nay tại trấn Sử Quan (史官) huyện Bạch Thủy (白水) tỉnh Thiểm Tây (陝西), đời Hán đã lập miếu Thương Hiệt. Tại trấn Sử Quan hiện còn miếu Thương Hiệt và di chỉ mộ Thương Hiệt. Trong miếu có bia, mặt trước và mặt sau của bia có tổng cộng hơn 910 chữ, đáng tiếc đã phá hoại nghiêm trọng, chữ bị tàn khuyết. Năm 1975, bia được dời đến Viện Bảo tàng Tây An để bảo tồn.
Tại huyện Đông A (東阿) tỉnh Sơn Đông (山東); nay trong địa phận Dương Cốc (陽谷), ngoại ô phía Tây huyện Thọ Quang (壽光) mỗi nơi có một miếu Thương Hiệt.
– NÚI HOA SƠN
Núi Hoa Sơn là một trong Ngũ Nhạc danh sơn linh thiêng. Ngọn núi nằm ở phía Đông Tây An, nổi bật với địa thế hiểm trở và khung cảnh hùng vĩ bậc nhất vùng du lịch Thiểm Tây Trung Quốc. Với 5 đỉnh chính tạo thành thế “ngũ phong tụ đỉnh”, trong đó đỉnh Nam cao 2.154 mét là điểm cao nhất, Hoa Sơn còn gắn liền với Đạo giáo và là nơi lý tưởng để ngắm bình minh từ Đỉnh Đông. Đường đi bộ lên núi được coi là một chuyến đi phưu lưu mạo hiểm nổi tiếng (khách du lịch có thể đi cáp treo).
—o—
HÀM DƯƠNG
– Kênh đào Trinh Quốc
– Trấn Phục Trà
– Hồ Hàm Dương
– LÀNG CỔ NGUYÊN GIA (Yuanjiacun): Làng thuộc thị trấn Yanxia, huyện Lễ Tuyền, thành phố Hàm Dương (Xianyang), tỉnh Thiểm Tây. Làng cách trung tâm Hàm Dương khoảng 1 giờ di chuyển, nổi tiếng với kiến trúc nhà Minh – Thanh, văn hóa dân gian Quan Trung và hơn 400 món ăn vặt truyền thống. Đây là một trong mười ngôi làng đẹp nhất Trung Quốc, làng thư giãn quyến rũ nhất Trung Quốc, một trong mười làng khá giả hàng đầu Trung Quốc và là ngôi làng kiểu mẫu quốc gia “một làng một sản phẩm”. Nơi đây có độ nổi tiếng du lịch rất cao. Nơi đây sở hữu nhiều di sản văn hóa phi vật thể như hát Xianbanqiang, múa rối bóng, nghệ thuật cắt giấy… Trong đó, nghệ thuật múa rối bóng có những nghệ nhân biểu diễn và sản xuất chuyên nghiệp, được lưu truyền một cách sống động. Ngành công nghiệp múa rối bóng đã trở thành điểm nhấn kinh tế mới của làng Yuanjia. Riêng hát Xianbanqiang có những đoàn biểu diễn đặc sắc. Đây là ngôi làng đáng ghé thăm nhất để trải nghiệm nét văn hóa dân gian địa phương của Thiểm Tây. Chuyến đi này kết hợp giữa ẩm thực ngon và kiến trúc đặc trưng.
– CÀN LĂNG là quần thể lăng mộ hoàng gia nổi bật nhất thời Đường, nơi an nghỉ của Hoàng đế Cao Tông Lý Trị và Nữ hoàng Võ Tắc Thiên – nữ hoàng duy nhất trong lịch sử phong kiến Trung Hoa. Nằm trên núi Lương, cách Tây An khoảng 80 km, lăng được thiết kế theo thế “tựa sơn hướng thủy”. Khu di tích gồm hơn 200 mộ phụ cùng hàng trăm tượng đá canh lăng, thể hiện quy mô đồ sộ và kỹ thuật xây dựng tinh vi của triều Đường.
– CHIÊU LĂNG có chu vi 60 km, diện tích 200 km² với hơn 180 ngôi mộ tùy táng. Từ năm Trinh Quán thứ 10 (năm 636) khi Văn Đức Hoàng hậu Trưởng Tôn thị được an táng đầu tiên đến năm Khai Nguyên thứ 29 (năm 743), việc xây dựng lăng tẩm đã kéo dài 107 năm, để lại nhiều di tích văn vật cả trên mặt đất lẫn dưới lòng đất, là minh chứng vật chất cho sự phát triển từ Sơ Đường đến Thịnh Đường. Vào những năm 70 của thế kỷ trước, các nhà khảo cổ đã khai quật hơn 40 ngôi mộ tùy táng như Từ Mậu Công, Uất Trì Kính Đức, Trình Giảo Kim, Trương Sĩ Quý, Trịnh Nhân Thái, Trường Lạc Công chúa, Vi Quý phi… và xây dựng Bảo tàng Chiêu Lăng. Bảo tàng tọa lạc phía trước ngôi mộ của Lý Tích (Từ Mậu Công) tại trung tâm khu lăng Chiêu Lăng, thuộc thị trấn Yên Hà, huyện Lễ Tuyền, tỉnh Thiểm Tây, cách 15 km về phía tây từ trung tâm huyện và 11 km về phía bắc từ núi lăng. Đây là một bảo tàng kiểu di chỉ. Bảo tàng lưu giữ hơn 8.000 hiện vật với bốn phòng trưng bày hiện có: phòng trưng bày tinh phẩm văn vật Chiêu Lăng, phòng trưng bày bích họa mộ Đường, hai phòng trưng bày bia đá (rừng bia Chiêu Lăng). Bốn phòng trưng bày này tập trung giới thiệu hơn 400 hiện vật tinh túy (nhóm) được khai quật từ gần 40 ngôi mộ tùy táng trong khu lăng. Trong phòng trưng bày tinh hoa văn vật, trưng bày nhiều hiện vật quý giá được khai quật từ di chỉ tế đàn Chiêu Lăng và một số ngôi mộ tùy táng, trong đó có đồ gốm tráng men vẽ màu độc đáo và tam thái Đường rực rỡ. Tượng quan văn võ sơn son thếp vàng khai quật từ mộ Trương Sĩ Quý được xác định là bảo vật quốc gia. Phòng trưng bày bích họa mộ Đường trưng bày nhiều bức bích họa được khai quật từ các ngôi mộ tùy táng, là tái hiện trực quan về các hoạt động chính trị, ngoại giao, văn hóa và quân sự thời Đường. Rừng bia Chiêu Lăng được xây dựng từ năm 1974, đã sưu tập hơn 60 tấm bia bao gồm bia Lục Tuấn Chiêu Lăng, bia tượng Đường Thái Tông, bia đồ Chiêu Lăng…, nhiều tấm được xếp hạng di tích văn hóa cấp quốc gia.
—o—
TÂY AN
Tây An là một trong 4 kinh đô trong lịch sử Trung Hoa, là kinh đô của 13 triều đại, bao gồm: nhà Chu, nhà Tần, nhà Hán và nhà Đường. Thành phố có lịch sử hơn 3100 năm với tên gọi trong thời đấy Tràng An hay Trường An. Tây An trở thành thủ đô từ cuối thời nhà Chu. Nhà Chu có 3 kinh đô lần lượt là Tông Chu (1046–771 TCN) nay thuộc Tây An, Vương Thành (771–510 TCN; 314–256 TCN) và Thành Chu (510–314 TCN) nay đều thuộc Lạc Dương.
– Thành cổ Tây An : Tường thành cổ Tây An được xem là biểu tượng lịch sử đặc trưng của thành phố, thể hiện rõ dấu ấn kiến trúc và tinh thần phòng thủ của Trung Hoa cổ đại. Công trình được xây dựng vào thế kỷ 14 dưới triều Minh trên nền cung thành cũ của nhà Đường và vẫn được bảo tồn gần như nguyên vẹn cho đến hôm nay. Với chiều dài 13.7 km, bao quanh toàn bộ khu phố cổ, tường thành có 98 tháp canh và bốn cổng lớn tạo thành một hệ thống phòng thủ vững chắc.
– Hoa Thanh Trì : Cung điện hoàng gia này không giống bất kỳ nơi nào khác. Từng là cung điện nhưng giờ đây nó được sử dụng làm suối nước nóng tự nhiên. Nơi này đã được biết đến trong 6.000 năm như một suối nước nóng và 3.000 năm với kiến trúc vườn hoàng gia. Có bốn đầu lò xo và nước không chỉ thích hợp để tắm và tắm vòi sen mà còn có tác dụng giảm đau rất tốt. Tòa nhà tắm lớn nhất có thể phục vụ tới 400 người cùng lúc. Ngoài ra còn có nhiều khu vườn mà khách du lịch Trung Quốc có thể đi dạo xung quanh. Nằm dưới chân núi Ly Sơn, cách Tây An khoảng 30 km, nơi đây từng là khu nghỉ dưỡng yêu thích của các Hoàng đế, gắn liền với chuyện tình nổi tiếng giữa Đường Huyền Tông và Dương Quý Phi. Du khách nay có thể tham quan khu tắm cổ của Dương Quý Phi, chiêm ngưỡng kiến trúc cung điện phục dựng và dạo quanh hồ nước trong xanh.
– Cung điện Đại Minh là biểu tượng quyền lực và thịnh vượng của triều Đường, đồng thời là quần thể cung điện hoàng gia lớn nhất trong lịch sử Trung Quốc, từng là nơi ở và làm việc của 17 Hoàng đế. Với diện tích rộng gấp nhiều lần Tử Cấm Thành, Daming Palace được xem là “trái tim” đế đô Trường An xưa. Dù nay chỉ còn dấu tích khảo cổ, khu di tích trong Công viên Di tích Cung điện Đại Minh vẫn thể hiện quy mô hoành tráng và kiến trúc đối xứng đặc trưng thời Đường.
– Tháp Đại Nhạn là một biểu tượng nổi bật của thành phố Tây An. Được xây dựng vào năm 652, tháp ban đầu là nơi lưu giữ các kinh điển Phật giáo mà nhà sư Huyền Trang mang về từ Ấn Độ. Chính tại nơi đây, Huyền Trang đã lập một khu dịch kinh khổng lồ để dịch kinh Phật từ tiếng Phạn sang tiếng Hán. Tháp Đại Nhạn ban đầu có năm tầng, nhưng sau được tái xây dựng và mở rộng lên bảy tầng vào năm 704.
– Tháp Trống : Tháp Trống ban đầu được sử dụng để báo hiệu thời gian và đôi khi báo hiệu trong các tình huống khẩn cấp. Ngày nay, tòa tháp được xây dựng vào năm 1380 là nơi biểu diễn âm nhạc và triển lãm văn hóa trống. Năm 1996, chính phủ quyết định làm lại chiếc trống trong tháp. Trống cũ được thay thế bằng trống mới nặng 1,5 tấn, biến nó thành chiếc trống lớn nhất Trung Quốc. Tiếng của chiếc trống này có thể vang xa 5 km.
– Tháp Chuông : Có diện tích 1.377 m2, tháp Chuông có nhiều chiếc chuông đúc bằng đồng lớn từ thời nhà Đường. Gạch màu xanh đậm, những bức tranh màu xanh lam tô điểm cho công trình nổi tiếng này. Tháp này vốn dùng để báo giờ cho thành phố. Tháp Chuông cao và uy nghi, tọa lạc trên một bệ đá cao với những cánh cửa cổng lớn hướng ra bốn phía. Trong tháp chứa một chiếc chuông đồng khổng lồ, được đánh vào các khoảng thời gian trong ngày để báo giờ.
Tháp Chuông và Tháp Trống là hai công trình biểu tượng của thành phố Tây An, nằm đối xứng ở trung tâm và phản ánh rõ nét phong cách kiến trúc thời Minh. Trong lịch sử, Tháp Chuông vang lên mỗi sớm mai, còn Tháp Trống ngân lên khi chiều tà hoặc trong các dịp trọng đại.
– Đền Tinh Giáo (Xingjiao) là ngôi đền được xây dựng để an táng nhà sư Đường Huyền Trang, với chuyến đi sang Tây Trúc (Ấn Độ) để thỉnh kinh.
– Đền Đại Hưng Sơn (Daxingshan)
– Lâu Quan Đài (Louguantai) : Lâu Quan đài là một di tích Đạo giáo nổi tiếng nằm ở sườn phía bắc dãy núi Chung Nam (Tần Lĩnh), tỉnh Thiểm Tây, Trung Quốc. Nơi đây được mệnh danh là “Tổ đình của Đạo giáo”, tương truyền là nơi Lão Tử đã ở ẩn và truyền lại bộ sách kinh điển Đạo Đức Kinh cho Doãn Hỷ – quan lệnh ải Hàm Cốc. Du khách đến đây thường tham quan các công trình chính như Tử Thuyết Kinh Đài (Đài giảng kinh cổ kính), Tông Thánh Cung (Quần thể kiến trúc thờ phụng)
– Chùa cổ Quan Âm là điểm hành hương linh thiêng và thắng cảnh mùa thu nổi tiếng của Tây An, mang giá trị văn hóa – tâm linh sâu sắc. Ẩn mình dưới tán cây cổ thụ và mái ngói rêu phong, chùa nổi bật với cây bạch quả nghìn năm tuổi, mỗi mùa thu chuyển sang sắc vàng rực rỡ, rụng đầy mặt đất như thảm vàng, thu hút đông đảo du khách và nhiếp ảnh gia.
– Rừng Bia là bảo tàng thư pháp đá nổi tiếng nhất Trung Quốc, được mệnh danh “thư viện bằng đá” lưu giữ tinh hoa văn tự qua hàng nghìn năm. Nằm ở trung tâm Tây An, nơi đây lưu giữ hơn 3.000 bia đá từ thời Hán, Đường, Tống đến Minh, Thanh, khắc ghi văn bản, thơ ca, sắc lệnh và bài ký – kho tư liệu quý giá cho nghiên cứu lịch sử và nghệ thuật. Không gian trưng bày trang nghiêm với hàng dãy bia đá xếp ngay ngắn, tạo cảm giác tĩnh lặng và thẩm mỹ cao.
– Đại Thánh Đường Hồi giáo Tây An là công trình tôn giáo cổ kính và quy mô lớn, phản ánh sự hòa hợp giữa văn hóa Hán và Hồi. Xây từ thế kỷ 8 dưới triều Đường tại cố đô Trường An – điểm giao thương quan trọng trên Con đường Tơ lụa, ngôi đền mang kiến trúc Trung Hoa truyền thống với mái ngói cong, cột gỗ chạm trổ tinh xảo, kết hợp vòm cửa đặc trưng Hồi giáo. Không gian bên trong yên tĩnh, tách biệt hẳn với nhịp sống sôi động của khu phố Hồi giáo bên ngoài.
– Bảo tàng Lịch sử Thiểm Tây là một trong bốn bảo tàng lớn và uy tín nhất Trung Quốc, lưu giữ tinh hoa văn minh Hoa Hạ qua hàng nghìn năm. Nằm ở Tây An với thiết kế cung điện nhà Đường, bảo tàng trưng bày hiện vật theo trình tự thời gian, từ thời tiền sử đến các triều đại Tần, Hán, Tùy, Đường. Điểm nhấn là bộ sưu tập gốm sứ, tiền cổ và tranh bích họa lăng mộ, giúp du khách hình dung rõ mạch lịch sử của vùng đất từng là trung tâm nền văn minh Trung Hoa.
– Lăng Tần Thủy Hoàng là kỳ quan khảo cổ vĩ đại nhất của Trung Quốc, khởi công từ năm 246 TCN cho vị Hoàng đế đầu tiên thống nhất Trung Hoa. Nằm trong quần thể lăng mộ, Đội quân đất nung Binh Mã Dũng là biểu tượng cho sức mạnh quân sự thời Tần, với hơn 8.000 tượng binh sĩ và ngựa chiến kích thước như người thật được điêu khắc tinh vi, mỗi bức tượng mang một nét mặt riêng biệt.
– MAO LĂNG là lăng mộ của Hán Vũ Đế Lưu Triệt thời Tây Hán, được xây dựng trong 53 năm từ năm 139 TCN đến năm 87 TCN. Đây là một trong những lăng tẩm hoàng đế Tây Hán có quy mô lớn nhất, thời gian xây dựng đặc biệt dài và số lượng đồ tùy táng phong phú. Lăng mộ có kiến trúc đồ sộ, hình chóp vuông, được mệnh danh là “Kim tự tháp phương Đông”. Đến nay, các tường đất phía đông, tây và bắc vẫn còn tồn tại. Xung quanh có hơn 20 ngôi mộ tùy táng của các nhân vật nổi tiếng như Lý Phu Nhân, Vệ Thanh, Hoắc Khứ Bệnh, Hoắc Quang, Kim Nhật Đê, tạo thành một quần thể rộng lớn và hùng vĩ. Trong lịch sử, nơi đây đã nhiều lần bị đào trộm, hiện nay các hiện vật khai quật được chủ yếu đến từ các ngôi mộ tùy táng trong khu lăng mộ. Khu lăng mộ xưa được chia thành thành nội và thành ngoại, xung quanh có tường bao (nay đã không còn). Xung quanh lăng mộ là các ngôi mộ tùy táng của phi tần, cung nữ, công thần và quý tộc. Trong khu vực này đã phát hiện nhiều hiện vật quý giá như đầu thú ngọc thanh mỹ với hoa văn mặt thú, tượng tê giác bằng đồng khảm vàng bạc với hoa văn mây, gạch rỗng lớn với hoa văn chim chu tước, rồng, hình học cùng ngói lợp có chữ. Năm 1981, tại ngôi mộ tùy táng phía đông Maoling Mausoleum đã khai quật được nhiều hiện vật quý như ngựa đồng mạ vàng, lư hương trúc tiết mạ vàng bạc, lò sưởi đồng có quai xích. Ngày nay, du khách có thể chiêm ngưỡng những hiện vật này tại Maoling Mausoleum.
Tây An là điểm dừng chân nổi tiếng của con đường Đông Tây
– Con đường tơ lụa tay là con đường nối Âu – Á : Nhân vật tiêu biểu là Hán Vũ Đế, Tuỳ Dạng Đế, Marco Polo
– Con đường đạo Phật là con đường nối Ấn Độ và Trung Quốc : Nhân vật tiêu biểu là Đường Huyền Trang, tác phẩm tiêu biểu là Tây Du Ký.
Trên 2 con đường Đông Tây, có một nhân vật huyền sử nổi tiếng nữa là Tây Vương Mẫu ở núi Côn Lôn
Trên con đường truyền đạo Phật từ Ấn Độ qua Trung Quốc, có các nhân vật sau
– Bồ Đề Đạt Ma gắn với chùa Thiếu Lâm, núi Tung Sơn (Hà Nam). Ông là tổ thứ 28 và cuối cùng sau Phật Thích-ca Mâu-ni của Thiền tông Ấn Độ và là Sơ tổ của Thiền tông Trung Quốc, đánh dấu bước chuyển của đạo Phật từ Tiểu Thừa sang Đại Thừa, từ Đông Nam Á sang Trung Quốc. Khi đến Trung Quốc ông ở vùng núi Tung Sơn, chùa Thiếu Lâm Tự (tỉnh Hà Nam). Y bát của đức Phật theo Bồ Đề Đạt Ma truyền đến Lục Tổ Huệ Năng (người gốc Việt) thời Võ Tắc Thiên) thì không còn được truyền cho các tổ sư thiền đời sau nữa (mất dấu vết) một phần vì các tổ sau của Lục Tổ mỗi người chỉ giữ được một khía cạnh của pháp thiền của ông.
– Đường Huyền Trang gắn với Tây An (Thiểm Tây)
—o—
