![]()
Nhìn sau là thế mắt tự bảo vệ, tự che chắn phần lưng và tự kiểm điểm quá khứ, thay vì chỉ lao về tương lai, về mục đích, về đối tượng bên ngoài. Cho nên, đó là thế mắt của người trưởng thành, người bắt đầu biết tu thân.
Nhìn sau là thế mắt suy tưởng, mắt chiêm nghiệm, mắt suy ngẫm, mắt đúc kết, mắt thấu hiểu pháp, mặt đĩnh ngộ chân lý. Cho nên, đó là thế mắt của tu thiền và tu đạo.
Nhìn sau là thế mắt giám đốc dự án ở điểm kết thúc dự án nhìn lại cả dự án, mắt của lãnh đạo gánh vác trách nhiệm của cả tiến trình.
Nhìn sau là thế mắt hồi tưởng tuổi thơ, tuổi trẻ, mắt hồi tưởng tình yêu, mắt nhớ thương, mắt day dứt mắt biết ơn, mắt ân hận sai lầm, mắt tiếc nuối mất mát … Cho nên, đó là thế mắt của thi ca, của nhạc hoạ.
Nhìn sau là thế mắt của đứa trẻ bắt đầu học cách lớn lên từ sự chiêm nghiệm trải nghiệm quá khứ của chính mình. Nhìn sau là thế mắt của người già sắp, chiêm nghiệm lại những bài học của cả cuộc đời. Nhìn sau là thế mắt của cha mẹ kể cho con cái nghe chuyện của ông bà, mắt ông bà kể chuyện dòng họ, kể chuyện tổ tiên. Đó là thế mắt của gia đình, dòng tộc, dân tộc.
Nhìn sau là thế mắt đồng cảm và hiếu đạo “sinh con, nuôi con mới hiểu lòng cha mẹ”, khác với nhìn trước là thế mắt đồng chí hướng.
Mắt nhìn sau là mắt của người dẫn đường, quay lại quan sát phía sau mình xem có ai bị tụt lại, xem có ai bị sai đường, xem có ai bị lạc đường, xem có kẻ thù rình rập phia sau, xem có các nguy hiểm từ phía sau, xem ai cần bảo vệ, ai cần che chắn và để quan sát chính bản thân mình trong cả hành trình quá khứ.
Nhìn sau là thế mắt khó với con người và các loài chim thú nói chung, vì mắt và vận động nói chung ở phía trước.
Bức tranh “Mã đáo thành công” mô tả cái thế mắt này rất khó này, của một đàn ngựa với thân thế lao như bay về phía trước, về đích, vượt qua mọi cản trở, bay qua mọi thử thách, theo con ngựa đầu đàn, cùng con ngựa đầu đàn, mà vẫn luôn giữ được tâm thế nhìn ra phía sau, cho chính nó và cho cả đàn ngựa.
Mắt nhìn phía sau kiểu cận thị, kiểu soi xét một số sự kiện, kiều thấy một vài tiền kiếp, khi quay lai nhìn về phía trước, sẽ rơi ngay vào trạng thái viễn thị
– Khi hai vợ chồng cãi nhau, thì đem sai lầm của nhau trong quá khứ ra nhai đi, nhai lại, … nhai nhiều quá thì muốn ly hôn luôn
– Ngày hôm đó, chính mày đã nói câu này, chính mày đã làm việc này, tao quyết thù mày cả đời, tao cạnh mặt mày cả đời,
– Tiền kiếp đó, tôi đã trồng một cái cây, nên sứ mệnh đời này của tôi là làm nông nghiệp sạch.
Học sinh thiền thường có nhiều sự suy tưởng với tâm thế nhìn về phía sau, sau khi đã trải qua bao đau thương, bao sai lầm, …. Tôi thường đùa rằng người nhiều tiền, người thành công thì nhìn về phía trước, lao về phía trước, đến lúc thất bại, đến lúc hết tiền, đến lúc đâm đầu vào tường, thì mới đến lớp thiền và bài thiền của một học sinh như vậy thường có sự sâu sắc, vì nó có nỗi đau và chiều sâu trong cái nhìn về sau.
Có học sinh chưa kịp nhìn sau 1m đã nhìn ra trước 100km, chưa kịp nhìn sau được đến tuổi thơ, tuổi trẻ của mình, đã đưa ra các tầm nhìn bao la bát ngát cho cả cuộc đời mình, cho những người xung quanh mình, cho đất nước mình, cho dân tộc mình, kiểu gì cũng tự đi ra khỏi lớp thiền, vào các lớp làm giàu, lớp truyền cảm hứng gì đó … mà toàn lao về phía trước. Khi thế nhìn sau trong thiền chỉ là những chuyến du lịch khỏi trạng thái lao về phía trước vốn quá mạnh, một người sẽ bỏ thiền, bất chấp là trong lớp họ thiền được hay không thiền được, thiền đúng hay thiền sai.
Ca dao có một bài về thế mắt nhìn sau kết hợp với thế đứng hay đến nao lòng, hay đến mức người Việt nào cũng thuộc nó, dù không thực sự hiểu nó nói về cái gì mà chỉ bằng hai câu đơn giản lại xúc động xâu xa và day dứt đến thế
Chiều chiều ra đứng ngõ sau
Trông về quê mẹ ruột đau chín chiều
– “Chiều chiều” là một từ láy, nói về sự lặp lại một cái gì rất thuận, rất tự nhiên. Chiều ai đó là thuận theo cái bản tính tự nhiên và xúc cảm của người đó, như là “chiều con”, “chiều em yêu”, “chiều chồng”, “chiều cháu”, “chiều trẻ nhỏ”, “chiều như chiều vong”. Chiều là giờ gà lên chuồng, giờ người đi làm về nhà. Chiều là giờ hoàng hôn, giờ nhập nhoạng và chồng chập giữa sáng và tối. Chiều lý trí và ý chí công việc lùi xuống, xúc cảm và sự lo lắng cho gia đình dâng lên.
– “Ra đứng” : “Đứng” là thế sẵn sàng hành động, sẵn sàng tiến tới, sẵn sàng canh phòng, sẵn sàng chiến đấu. Đứng là thế chính phương, chủ động, liên quan đến sự toàn tâm toàn ý. “Ra đứng” là tư thế và tâm thế hoàn toàn ngược với tâm lý của buổi chiều là về nhà, về chuồng, nơi mọi người được ngồi ăn cơm và nằm nghỉ ngơi. Trong bài ca dao, người con lặp đi lặp lại, mỗi buổi chiều khi về nhà riêng của mình, ở trong gia đình riêng của mình, mong muốn được hành động vì gia đình, được về với gia đình, được bảo vệ gia đình, mà chẳng làm được gì cả.
– “Ngõ sau” : là một lối đi nhỏ và kín đáo về phía sau, liên quan đến tâm thế nhìn về sau, hồi tưởng, nhớ thương, day dứt và cả ân hận.
– “Trông về quê mẹ” : “Trông về” là một thế nhìn xa, theo cả không gian (quê mẹ) và thời gian (hồi ức tuổi thơ được sống trong sự yêu thương và dưỡng nuôi của mẹ). Tâm thế hồi tưởng về gia đình, về quê hương của người con ly hương của câu ca dao đến đây đã bộc lộ cực kỳ rõ.
– “Ruột đau” : Con ruột là núm ruột của mẹ, sinh ra từ lòng mẹ và mãi mãi ở trong lòng mẹ. Mẹ thương con ruột đau thế nào, thì con thương mẹ ruột đau như thế
– “Chín chiều” : Tôi đã đọc bao nhiêu bài phân tích về chữ “chín chiều” là liên quan đến “chín chữ cù lao”, mà tôi đánh giá là quá khắc khổ, câu chữ, bác học, suy diễn xa xôi, so với âm hưởng quá giản dị, quá đời thường, quá dân dã của bài ca dao này. “Chín chiều” là phần khó hiểu nhất trong câu ca dao, nhưng về âm, “chín chiều” nghe rất thuận, cùng chiều với phần mở đầu “chiều chiều” của câu ca dao này. Chính vì thế, phần cuối của bài ca dao tạo ra một điệp khúc lặp với phần đầu của cho bài ca dao, như điệp khúc của một bài hát làm cho ta muốn hát lại và nghe lại bài hát đó nhiều lần hơn, làm cho bài hát cứ tự vang lên tha thiết trong lòng ta. “Chín” là một con số, dù là số đếm hay số thứ tự thì chín đều là một con số đặc biệt, vì đó là con số cao nhất của thiên can hay hệ thập phân, mà bắt đầu từ số 0. “Chín” là bình phương của 3, mà 3 là số của bộ âm dương đầy đủ nhất, của ông bà đầu nhau. Chín là ngưỡng của chuyển hoá, của thiên can, của thập phân, của truy nguyên theo lấy căn. “Chín” cũng là trạng thái mang tính tinh thần, liên quan đến sự chín tới, chín muồi, chín chắn.
– “Ruột đau chín chiều” là đứa con ruột, núm ruột của cha mẹ, một chiều ra đứng ngõ sau nhớ về quê mẹ, thì chín chiều sau đó ruột vẫn còn đau, một nỗi đau chín muồi của người con đủ chín chắn, khi chính mình cũng trở thành cha mẹ, cũng sinh ra núm ruột của mình, cũng có con trong lòng mình như biết là có mình trong lòng cha mẹ, nỗi đau mà cũng là nỗi nhớ kéo con cháu về trong lòng cha mẹ.
Tôi có một ký ức rất rõ ràng trong thời gian sống ở bên Pháp, là cứ đến giờ tắt nắng, mà rất muộn so với ở Việt Nam, nếu tôi còn đi ngoài đường hoặc đứng trên tàu điện ngầm, tôi sẽ cảm thấy nhớ nhà đến nao lòng, nhớ thương cha mẹ, biết cha mẹ lo lắng cho mình, cảm thấy cô đơn, yếu đuối, tôi dằn vặt không hiểu vì sao, tên là Hương mà tôi cứ tha hương mãi, chưa thể trở về. Đây chính là ký ức và tâm trạng của tôi khi đọc bài ca dao này.
