![]()
Tây Nguyên gồm 5 tỉnh nằm ở Tây Nam Bộ, sát nhập với các tỉnh Đông Nam Bộ, thành 4 tỉnh lớn trải dài từ vùng cao nguyên quay dãy Trường Sơn sang biển Đông
– Kon tum, sát nhập với Quảng Ngãi
– Gia Lai, sát nhập với Bình Định
– Dak Lak, sát nhập với Phú Yên
– Đak Nông, sát nhập với Bình Thuận (Phan Thiết)
– Lâm Đồng, sát nhập với Bình Thuận (Phan Thiết)
Khối Đông Nam Bộ của vương quốc Chămpa xưa sát nhập thành 4 tỉnh lớn
– Quảng Bình sát nhập với Quảng Trị
– Huế không sát nhập
– Quảng Nam sát nhập với Đà Nẵng
– Nha Trang sát nhập với Nịnh Thuận (Phan Rang)
Có thể chia Tây Nguyên gốc thành 3 khu vực
– Bắc Tây Nguyên : Kon tum, Gia Lai, sau này thành vương quốc Nam Bàn dưới thời Lê Thánh Tông, và kết thúc vào thời chúa Nguyễn
– Nam Tây Nguyên : Lâm Đồng, Đak Nông, Đak Lak
NAM BÀN
Tiểu quốc J’rai (còn gọi là Ala Car P’tao Degar, Dhung Vijaya, Nam Vijaya, Nam Bàn, Nam Phan, Nam Phiên, Chămpa Thượng) là một tiểu quốc cổ của các bộ tộc Nam Đảo ở Tây Nguyên, Việt Nam với bộ tộc nòng cốt là người Gia Rai và người Êđê hình thành từ khoảng cuối thế kỷ 15 và chấm dứt sự tồn tại sau khi phân rã ra thành các bộ tộc độc lập vào khoảng cuối thế kỷ 19. Tiểu quốc này được cai trị dưới quyền các vị tiểu vương mà người Việt gọi là Thủy Xá – Hỏa Xá, tức là Pơtao Apui-Pơtao Ia.
Tháng 2 năm Tân Mão niên hiệu Hồng Đức thứ 2 (1471), vua Lê Thánh Tông thân chinh đi đánh Chiêm Thành, phá được thành Đồ Bàn, bắt sống vua Champa là Trà Toàn. Chiến tranh Đại Việt-Champa năm 1471 kết thúc, vua Lê Thánh Tông xâm chiếm hoàn toàn khu vực Vijaya-Degar (tỉnh Bình Định).
Sau cuộc chiến, Vijaya-Champa bị sụp đổ và thu hẹp dần phía nam và phân chia thành nhiều tiểu quốc hay địa khu nhỏ như sau
– Chămpa Đại Việt : Đây là các phần phía Nam đèo Ngang đến Bình Định đã được Đại Việt đánh chiếm từ thời Lê Hoàn, thời Lý, sang thời Trần.
– Phần Champa còn lại, được Lê Thánh Tông chia thành các tiểu quốc nhỏ thuần phục Đại Việt.
– – – Một phần đất nay là tỉnh Phú Yên, Lê Thánh Tông phong cho Hoa Anh vương tạo nên nước Nam Hoa.
– – – Vùng đất phía Tây núi Thạch Bi, tức miền bắc Tây Nguyên ngày nay được lập thành nước Nam Bàn, vua nước này được phong là Nam Bàn vương.
– – – Phần đất Phan Lung (tức Phan Rang ngày nay) do viên tướng Chăm là Bồ Trì trấn giữ, được vua Lê coi là phần kế thừa của vương quốc Chiêm Thành.
Phần Nam Tây Nguyên (Đak Lak, Đak Nông, Lâm Đồng), vẫn chưa bị ảnh hưởng trực tiếp bởi sự tấn công của Đại Việt
Tiểu quốc Hoa Anh (Aia Ru – Phú Yên) là một địa khu Aia Ru-Champa phân bố trên một không gian từ Tây Nguyên, đèo Cù Mông đến núi Đá bia-Thạch Bi Sơn thuộc Phú Yên và cư dân nòng cốt là người Rhade (Raday, Ede).
– Đây vốn là một tiểu vương quốc của đại vương quốc Chămpa xưa
– Thành lập tiểu vương quốc phụ thuộc vào Đại Việt năm 1471 bởi Lê Thánh Tông
– Tiểu quốc Hoa Anh (Aia Ru-Champa) chính thức kết thúc vào năm 1611, thời Tiên chúa (trị vì 1558–1613) Nguyễn Hoàng (sinh 1525–mất 1613). Vào năm 1611 Nguyễn Hoàng (1588-1613) ra lệnh cho tướng Văn Phong xua quân đánh Phú Yên (Aia Ru) chiếm hai huyện Đồng Xuân và Tuy Hòa để lập ra phủ Phú Yên, dời biên giới miền nam của nhà Nguyễn đến mủi Varella ở phía bắc Nha Trang.
Tiểu quốc Kauthara (Aia Terang-Nha Trang) thuộc địa khu Khánh Hòa.
– Đây vốn là một tiểu vương quốc của đại vương quốc Chămpa xưa
– Thời Lê Thánh Tông Ccơ bản vẫn do người Chăm quản lý
– . Tiểu quốc Kauthara-Champa chính thức kết thúc vào năm 1653, thời chúa Hiền Nguyễn Phúc Tần ((trị vì 1648 – 1687, sinh 1620, mất 1687) : Sau khi Phú Yên (Aia Ru) thuộc tiểu quốc Hoa Anh bị thất bại dưới bàn tay của Chúa Nguyễn Hoàng vào năm 1611, tức Nguyễn Thái Tổ, Chúa Tiên là chúa Nguyễn, ông đầu tiên đặt nền móng cho triều đại nhà Nguyễn (1558-1945). Nhà Nguyễn chưa chịu dừng chân tại đất Phú Yên (Aia Ru), mà tiếp tục cầm gươm đi mở mang bờ cõi tiến về phía Nam (tức cầm gươm đi xâm lược nước Champa). Bốn mươi hai năm sau, tính từ năm mất Phú Yên (Aia Ru), nhà nguyễn tiếp tục chinh phạt Kauthara-Champa từ năm 1611 đến năm 1653 chiếm đất Kauthara (Aia Terang, Nha Trang-Khánh Hòa)
Tiểu quốc Panduranga (Ninh Thuận, Bình Thuận, Đồng Nai).
– Đây vốn là một tiểu vương quốc của đại vương quốc Chămpa xưa
– Thuộc vùng đất Chămpa độc lập thời Lê Thánh Tông
– Tiểu quốc Panduranga-Champa độc lập chính thức kết thúc vào năm 1692 thời chúa Nguyễn Phúc Chu (trị vì 1691 – 1725, sinh 1675, mất 1725) : Sau khi Kauthara bị thất thủ vào năm 1653, nhà Nguyễn tiếp tục cầm gươm Nam tiến xâm lược Panduranga ở đồng bằng cực nam Champa. Năm 1692, chúa Nguyễn Phúc Chu sai Nguyễn Hữu Cảnh đưa quân đánh tan quân Kauthara-Champa ở Thái Khang và Diên Ninh, đuổi theo vượt biên giới đánh vào thành Panduranga-Champa. Năm 1693, quân chúa Nguyễn bắt được vua Panduranga là vua Po Saot (Ba Trauh hay Bà Tranh) là vị vua Islam (Hồi giáo) đưa về Phú Xuân. Po Saot là cháu trai của vua Po Rome với Hoàng hậu Bia Than Chan (con gái của thủ lĩnh người Rhade). Sắc tộc: Churu, Raglai, Rhade. Một năm sau Po Saot qua đời tại Phú Xuân. Po Saot là vị vua cuối cùng của Panduranga độc lập.
Thuận Thành trấn (1693 – 1832).
– Năm 1692, nhà Nguyễn tấn công Panduranga-Champa, thay đổi danh xưng “Panduranga” thành “Trấn Thuận Thành” và thành lập phủ Bình Thuận đầu tiên trên lãnh thổ của Panduranga-Champa, tập trung những cư dân người Kinh sinh sống ở Panduranga-Champa, cư dân này là công dân của triều đình Huế.
– Năm 1802, Nguyễn Ánh thắng trận, lên ngôi lấy niên hiệu là Gia Long, quyết định phục hưng lại nền độc lập Panduranga-Champa và giao quyền cai trị cho Po Saong Nyung Ceng (Nguyễn Văn Chấn, trị vì:1799-1822), người đã từng giúp đỡ Nguyễn Ánh chống quân Tây Sơn. Bên cạnh đó, vua Gia Long còn ban cho người kế cận trong chiến trường chống Tây Sơn là Lê Văn Duyệt lên làm Tổng Trấn Gia Định Thành và giao quyền bảo trợ vương quốc Panduranga-Champa ở phía nam của triều đình Huế. Kể từ đó, nền hòa bình và thịnh vượng trở lại trên vương quốc Panduranga-Champa, một quốc gia đặt dưới quyền đô hộ của triều đình Huế qua trung gian của Lê Văn Duyệt, phó vương ở miền Nam. Sau ngày băng hà của vua Gia Long vào năm 1820, vua Minh Mệnh lên ngôi, tìm cách xóa bỏ qui chế Gia Định Thành của Lê Văn Duyệt và đưa vương quốc Panduranga-Champa vào vòng kiểm soát trực tiếp của triều đình Huế. Chiến tranh giữa vua Minh Mệnh và Lê Văn Duyệt bắt đầu bùng nổ gây ảnh hưởng trực tiếp trên vương quốc Panduranga-Champa.
– Năm 1832, sau khi Lê Văn Duyệt (tổng trấn Gia Định Thành) từ trần, lịch sử địa khu Panduranga-Champa cũng kết thúc khi vua Minh Mệnh cho quân tiến vào tiêu diệt và diệt chủng thần dân Panduranga-Champa, xóa danh xưng vương quốc Panduranga-Champa, xóa Panduranga-Champa khỏi bản đồ thế giới và sáp nhập hoàn toàn vùng đất của tiểu quốc Panduranga-Champa vào nước Việt Nam. Champa trở thành khúc giữa của bản đồ Việt Nam hiện đại. Thuận Thành-Champa chính thức kết thúc vào năm 1832.
Tiểu quốc Nam Bàn-Champa (tiểu quốc Jarai-Tây Nguyên), tồn tại năm 1471 đến năm 1954 (thế kỷ 20).
– Chiến tranh Đại Việt-Champa năm 1471 kết thúc, vua Lê Thánh Tông xâm chiếm hoàn toàn khu vực Vijaya-Degar.
– Tiểu quốc Nam Bàn hay Tiểu quốc Jarai (Ala Car Patao Degar, Dhung Vijaya), được tách ra từ địa khu Vijaya-Degar sau khi Đại Việt xâm chiếm và phá hủy thành Vijaya (Đồ Bàn hay Chà Bàn) vào năm 1471. Tiểu quốc Nam Bàn là một tiểu quốc cổ của các cư dân Nam Đảo ở Tây Nguyên (Champa) nòng cốt là tộc người Jarai và người Rhade kết hợp với những tộc người Champa Vijaya. Bộ phận hoàng tộc Champa Vijaya trong quá trình lịch sử đã đồng hóa vào văn hóa bản địa Jarai.
– Tiểu quốc Nam Bàn hình thành từ khoảng thế kỷ 15 và chấm dứt sự tồn tại sau khi phân rã ra thành các sắc tộc độc lập vào khoảng cuối thế kỷ 20 (năm 1954). Tiểu quốc Nam Bàn chính thức kết thúc vào năm 1954.
Các tiểu vương quốc Chămpa chuyển hoá sau 1471
– Indrapura (Bình Trị Thiên) —> Đã sát nhập vào Đại Việt —> Nam Bàn (Chămpa Thượng trên Tây Nguyên)
– Amaravati (Quảng Nam) —> Đã sát nhập vào Đại Việt —> Nam Bàn (Chămpa Thượng trên Tây Nguyên)
– Vijaya (Bình Định) —> Đã sát nhập vào Đại Việt năm 1471 —> Nam Bàn (Chămpa Thượng trên Tây Nguyên)
– Aryaru (Phú Yên) —> Hoa Anh
– Kauthara (Khánh Hòa)
– Panduranga (Phan Rang) —> Thuận Thành Trấn
Nguồn
– Nước Nam Bàn-Champa chính thức bị xóa năm 1954
– Người Jrai
TÂY NGUYÊN – CHĂMPA
Tây Nguyên và Chămpa là một chìa khoá kết nối về Đông Nam Á biển đảo (thuỷ) và Đông Nam Á đất liền (sơn)
– Chămpa nằm trong vành đai Đông Nam Á biển đảo gồm Chămpa, Malaysia, Indonesia, Brunei, Đông Timor, Philippines, đảo Hải Nam. Vành đai này nằm sát với vành đai núi lửa Thái Bình Dương. Trung tâm của vành đai này là Hoàng Sa, Trường Sa.
– Tây Nguyên nằm trong vài đai Đông Nam Á đất liền gồm Lào, Campuchia, Thái Lan, Myanmar, Sri Lanka, cực Đông Bắc Ấn Độ, cực Tây Nam Trung Quốc (Đại Lý, Nam Chiếu xưa, Vân Nam, nam Tây Tạng nay), phần tranh chấp giữa Trung Quốc và Ân Độ giáp với Buhtan và Miến Điện. Vành đai này nằm sát với cụm Ân Độ, Nepal, Bhutan. Xuyên suốt vùng đất này là sông Mêkông.
HOÀNG TRIỀU CƯƠNG THỔ
Hoàng triều Cương thổ là khái niệm địa lý chính trị của Nhà Nguyễn để ấn định những khu vực cai trị mà người Việt không chiếm đa số, sau trở thành đơn vị hành chính của Quốc gia Việt Nam.
Hoàng triều cương thổ bao gồm vùng đất Đêga Tây Nguyên Việt Nam hiện nay và các Khu Tự trị dân tộc thiểu số ở miền Bắc. Hoàng triều Cương thổ chính thức thành lập ngày 15 tháng 4 năm 1950 rồi giải thể ngày 11 tháng 3 năm 1955.
Ngày 30 tháng 5 năm 1949 người Pháp trao quyền quản lý vùng Cao nguyên Trung phần với Xứ Thượng Nam Đông Dương cho Chính phủ Quốc gia Việt Nam. Quốc trưởng Bảo Đại đã tách riêng phần Cao nguyên Trung bộ ra và lập quy chế hành chính đặc biệt có tên là Hoàng triều Cương thổ qua Dụ số 6 ngày 15 tháng 4 năm 1950. Tại vùng này thì Bảo Đại ngoài danh nghĩa Quốc trưởng ra vẫn giữ vai trò Hoàng đế.
Năm tỉnh thuộc Xứ Thượng Nam Đông Dương chuyển giao thành Hoàng triều Cương thổ ở Trung phần là:
Đồng Nai Thượng
Lâm Viên
Pleiku
Darlac
Kontum
Ngoài ra Dụ số 6 còn ấn định một khu vực khác ở Bắc phần gồm các tỉnh sau đây cũng thuộc Hoàng triều cương thổ:
– Hòa Bình (Khu Tự trị Mường)
– Phong Thổ (Khu tự trị Thái)
– Lai Châu (Khu tự trị Thái)
– Sơn La (Khu tự trị Thái)
– Lào Kay (Khu Tự trị Mèo)
– Hà Giang (Khu Tự trị Mèo)
– Bắc Kạn (Khu Tự trị Thổ)
– Cao Bằng (Khu Tự trị Thổ)
– Lạng Sơn (Khu Tự trị Thổ)
– Hải Ninh (Khu tự trị Nùng)
– Móng Cái (Khu tự trị Nùng)
Đứng đầu Hoàng triều Cương thổ là vị Khâm mạng Hoàng triều do Quốc trưởng Bảo Đại bổ nhiệm. Theo thỏa hiệp giữa Tổng thống Pháp Vincent Auriol khi giải tán Xứ Thượng Nam Đông Dương và nhường quyền lại cho Quốc gia Việt Nam thì quy chế tự trị của các sắc tộc thiểu số sẽ có thể lệ riêng và Chính phủ Pháp vẫn có bổn phận tham nghị nên mỗi khi ban bố luật pháp thì Chính phủ Quốc gia Việt Nam phải có sự thỏa thuận của Pháp.
Ngày 21 tháng năm 1951, Quốc trưởng Bảo Đại ban hành “Quy chế 16” với chín điều khoản đặt nền móng cho việc cai trị Xứ Thượng. Nội dung các điều khoản đó có thể tóm tắt như sau:
– Quyền lợi tối cao của Quốc gia Việt Nam được bảo đảm cùng với quyền lợi của các sắc tộc thiểu số
– Cao nguyên trực thuộc Quốc trưởng
– Người Thượng cần tham gia vào việc phát triển Cao nguyên
– Tôn trọng hệ thống bộ lạc và chức sắc kế truyền của người Thượng
– Thành lập Hội đồng Kinh tế
– Thành lập Tòa án Phong tục Thượng
– Bảo đảm quyền sở hữu đất đai của người Thượng
– Phát triển cơ cấu dịch vụ xã hội ở Cao nguyên như y tế, giáo dục
– Thành lập đơn vị riêng quân sự riêng biệt cho người Thượng với ưu tiên phục vụ ở Cao nguyên
Quy chế Hoàng triều Cương thổ sau khi ban hành bị chỉ trích vì đã nhượng bộ quyền lợi cho Pháp quá lớn nhất là việc thành lập Hội đồng Kinh tế phần lớn do các chủ đồn điền người Pháp thao túng. Chính sách hạn chế di dân người Kinh lên Cao nguyên vẫn duy trì và người Pháp còn nắm quyền hành chánh như trong thỏa thuận với Tổng thống Pháp Vincent Auriol. Trong số năm tỉnh thì ba tỉnh Kontum, Pleiku và Darlac vẫn do tỉnh trưởng người Pháp cai quản. Hơn nữa đại diện Quốc trưởng Bảo Đại ở Cao nguyên, tức vị Khâm mạng cũng lại là người Pháp, đại tá Pierre Didelot, chồng của Agnès Nguyễn Hữu Hào.
Ngày 10 tháng 8 năm 1954, quy chế Hoàng triều Cương thổ bị xóa bỏ. Thủ tướng Ngô Đình Diệm thông qua Dụ số 21 ngày 11 tháng 3 năm 1955 và Quốc trưởng Bảo Đại chấp thuận, chính thức sáp nhập Hoàng triều Cương thổ lại vào Trung phần chấm dứt đặc quyền của người Pháp và Quốc trưởng trên vùng Thượng và danh xưng Cao nguyên Trung phần được dùng lại.
