![]()
TÂY NGUYÊN : ĐỊA LÝ
—o—o—o—o—o—
CÁC TỈNH TÂY NGUYÊN
Tây Nguyên gồm 5 tỉnh nằm ở Tây Nam Bộ, sát nhập với các tỉnh Đông Nam Bộ, thành 4 tỉnh lớn trải dài từ vùng cao nguyên quay dãy Trường Sơn sang biển Đông
– Kon tum, sát nhập với Quảng Ngãi
– Gia Lai, sát nhập với Bình Định
– Dak Lak, sát nhập với Phú Yên
– Đak Nông, sát nhập với Bình Thuận (Phan Thiết)
– Lâm Đồng, sát nhập với Bình Thuận (Phan Thiết)
Khối Đông Nam Bộ của vương quốc Chămpa xưa sát nhập thành 4 tỉnh lớn
– Quảng Bình sát nhập với Quảng Trị
– Huế không sát nhập
– Quảng Nam sát nhập với Đà Nẵng
– Nha Trang sát nhập với Nịnh Thuận (Phan Rang)
Có thể chia Tây Nguyên gốc thành 3 khu vực
– Bắc Tây Nguyên : Kon tum, Gia Lai, sau này thành vương quốc Nam Bàn dưới thời Lê Thánh Tông, và kết thúc vào thời chúa Nguyễn
– Nam Tây Nguyên : Lâm Đồng, Đak Nông, Đak Lak
NAM BÀN
Tiểu quốc J’rai (còn gọi là Ala Car P’tao Degar, Dhung Vijaya, Nam Vijaya, Nam Bàn, Nam Phan, Nam Phiên, Chămpa Thượng) là một tiểu quốc cổ của các bộ tộc Nam Đảo ở Tây Nguyên, Việt Nam với bộ tộc nòng cốt là người Gia Rai và người Êđê hình thành từ khoảng cuối thế kỷ 15 và chấm dứt sự tồn tại sau khi phân rã ra thành các bộ tộc độc lập vào khoảng cuối thế kỷ 19. Tiểu quốc này được cai trị dưới quyền các vị tiểu vương mà người Việt gọi là Thủy Xá – Hỏa Xá, tức là Pơtao Apui-Pơtao Ia.
Tháng 2 năm Tân Mão niên hiệu Hồng Đức thứ 2 (1471), vua Lê Thánh Tông thân chinh đi đánh Chiêm Thành, phá được thành Đồ Bàn, bắt sống vua Champa là Trà Toàn. Chiến tranh Đại Việt-Champa năm 1471 kết thúc, vua Lê Thánh Tông xâm chiếm hoàn toàn khu vực Vijaya-Degar (tỉnh Bình Định).
Sau cuộc chiến, Vijaya-Champa bị sụp đổ và thu hẹp dần phía nam và phân chia thành nhiều tiểu quốc hay địa khu nhỏ như sau
– Chămpa Đại Việt : Đây là các phần phía Nam đèo Ngang đến Bình Định đã được Đại Việt đánh chiếm từ thời Lê Hoàn, thời Lý, sang thời Trần.
– Phần Champa còn lại, được Lê Thánh Tông chia thành các tiểu quốc nhỏ thuần phục Đại Việt.
– – – Một phần đất nay là tỉnh Phú Yên, Lê Thánh Tông phong cho Hoa Anh vương tạo nên nước Nam Hoa.
– – – Vùng đất phía Tây núi Thạch Bi, tức miền bắc Tây Nguyên ngày nay được lập thành nước Nam Bàn, vua nước này được phong là Nam Bàn vương.
– – – Phần đất Phan Lung (tức Phan Rang ngày nay) do viên tướng Chăm là Bồ Trì trấn giữ, được vua Lê coi là phần kế thừa của vương quốc Chiêm Thành.
Phần Nam Tây Nguyên (Đak Lak, Đak Nông, Lâm Đồng), vẫn chưa bị ảnh hưởng trực tiếp bởi sự tấn công của Đại Việt
Tiểu quốc Hoa Anh (Aia Ru – Phú Yên) là một địa khu Aia Ru-Champa phân bố trên một không gian từ Tây Nguyên, đèo Cù Mông đến núi Đá bia-Thạch Bi Sơn thuộc Phú Yên và cư dân nòng cốt là người Rhade (Raday, Ede).
– Đây vốn là một tiểu vương quốc của đại vương quốc Chămpa xưa
– Thành lập tiểu vương quốc phụ thuộc vào Đại Việt năm 1471 bởi Lê Thánh Tông
– Tiểu quốc Hoa Anh (Aia Ru-Champa) chính thức kết thúc vào năm 1611, thời Tiên chúa (trị vì 1558–1613) Nguyễn Hoàng (sinh 1525–mất 1613). Vào năm 1611 Nguyễn Hoàng (1588-1613) ra lệnh cho tướng Văn Phong xua quân đánh Phú Yên (Aia Ru) chiếm hai huyện Đồng Xuân và Tuy Hòa để lập ra phủ Phú Yên, dời biên giới miền nam của nhà Nguyễn đến mủi Varella ở phía bắc Nha Trang.
Tiểu quốc Kauthara (Aia Terang-Nha Trang) thuộc địa khu Khánh Hòa.
– Đây vốn là một tiểu vương quốc của đại vương quốc Chămpa xưa
– Thời Lê Thánh Tông Ccơ bản vẫn do người Chăm quản lý
– . Tiểu quốc Kauthara-Champa chính thức kết thúc vào năm 1653, thời chúa Hiền Nguyễn Phúc Tần ((trị vì 1648 – 1687, sinh 1620, mất 1687) : Sau khi Phú Yên (Aia Ru) thuộc tiểu quốc Hoa Anh bị thất bại dưới bàn tay của Chúa Nguyễn Hoàng vào năm 1611, tức Nguyễn Thái Tổ, Chúa Tiên là chúa Nguyễn, ông đầu tiên đặt nền móng cho triều đại nhà Nguyễn (1558-1945). Nhà Nguyễn chưa chịu dừng chân tại đất Phú Yên (Aia Ru), mà tiếp tục cầm gươm đi mở mang bờ cõi tiến về phía Nam (tức cầm gươm đi xâm lược nước Champa). Bốn mươi hai năm sau, tính từ năm mất Phú Yên (Aia Ru), nhà nguyễn tiếp tục chinh phạt Kauthara-Champa từ năm 1611 đến năm 1653 chiếm đất Kauthara (Aia Terang, Nha Trang-Khánh Hòa)
Tiểu quốc Panduranga (Ninh Thuận, Bình Thuận, Đồng Nai).
– Đây vốn là một tiểu vương quốc của đại vương quốc Chămpa xưa
– Thuộc vùng đất Chămpa độc lập thời Lê Thánh Tông
– Tiểu quốc Panduranga-Champa độc lập chính thức kết thúc vào năm 1692 thời chúa Nguyễn Phúc Chu (trị vì 1691 – 1725, sinh 1675, mất 1725) : Sau khi Kauthara bị thất thủ vào năm 1653, nhà Nguyễn tiếp tục cầm gươm Nam tiến xâm lược Panduranga ở đồng bằng cực nam Champa. Năm 1692, chúa Nguyễn Phúc Chu sai Nguyễn Hữu Cảnh đưa quân đánh tan quân Kauthara-Champa ở Thái Khang và Diên Ninh, đuổi theo vượt biên giới đánh vào thành Panduranga-Champa. Năm 1693, quân chúa Nguyễn bắt được vua Panduranga là vua Po Saot (Ba Trauh hay Bà Tranh) là vị vua Islam (Hồi giáo) đưa về Phú Xuân. Po Saot là cháu trai của vua Po Rome với Hoàng hậu Bia Than Chan (con gái của thủ lĩnh người Rhade). Sắc tộc: Churu, Raglai, Rhade. Một năm sau Po Saot qua đời tại Phú Xuân. Po Saot là vị vua cuối cùng của Panduranga độc lập.
Thuận Thành trấn (1693 – 1832).
– Năm 1692, nhà Nguyễn tấn công Panduranga-Champa, thay đổi danh xưng “Panduranga” thành “Trấn Thuận Thành” và thành lập phủ Bình Thuận đầu tiên trên lãnh thổ của Panduranga-Champa, tập trung những cư dân người Kinh sinh sống ở Panduranga-Champa, cư dân này là công dân của triều đình Huế.
– Năm 1802, Nguyễn Ánh thắng trận, lên ngôi lấy niên hiệu là Gia Long, quyết định phục hưng lại nền độc lập Panduranga-Champa và giao quyền cai trị cho Po Saong Nyung Ceng (Nguyễn Văn Chấn, trị vì:1799-1822), người đã từng giúp đỡ Nguyễn Ánh chống quân Tây Sơn. Bên cạnh đó, vua Gia Long còn ban cho người kế cận trong chiến trường chống Tây Sơn là Lê Văn Duyệt lên làm Tổng Trấn Gia Định Thành và giao quyền bảo trợ vương quốc Panduranga-Champa ở phía nam của triều đình Huế. Kể từ đó, nền hòa bình và thịnh vượng trở lại trên vương quốc Panduranga-Champa, một quốc gia đặt dưới quyền đô hộ của triều đình Huế qua trung gian của Lê Văn Duyệt, phó vương ở miền Nam. Sau ngày băng hà của vua Gia Long vào năm 1820, vua Minh Mệnh lên ngôi, tìm cách xóa bỏ qui chế Gia Định Thành của Lê Văn Duyệt và đưa vương quốc Panduranga-Champa vào vòng kiểm soát trực tiếp của triều đình Huế. Chiến tranh giữa vua Minh Mệnh và Lê Văn Duyệt bắt đầu bùng nổ gây ảnh hưởng trực tiếp trên vương quốc Panduranga-Champa.
– Năm 1832, sau khi Lê Văn Duyệt (tổng trấn Gia Định Thành) từ trần, lịch sử địa khu Panduranga-Champa cũng kết thúc khi vua Minh Mệnh cho quân tiến vào tiêu diệt và diệt chủng thần dân Panduranga-Champa, xóa danh xưng vương quốc Panduranga-Champa, xóa Panduranga-Champa khỏi bản đồ thế giới và sáp nhập hoàn toàn vùng đất của tiểu quốc Panduranga-Champa vào nước Việt Nam. Champa trở thành khúc giữa của bản đồ Việt Nam hiện đại. Thuận Thành-Champa chính thức kết thúc vào năm 1832.
Tiểu quốc Nam Bàn-Champa (tiểu quốc Jarai-Tây Nguyên), tồn tại năm 1471 đến năm 1954 (thế kỷ 20).
– Chiến tranh Đại Việt-Champa năm 1471 kết thúc, vua Lê Thánh Tông xâm chiếm hoàn toàn khu vực Vijaya-Degar.
– Tiểu quốc Nam Bàn hay Tiểu quốc Jarai (Ala Car Patao Degar, Dhung Vijaya), được tách ra từ địa khu Vijaya-Degar sau khi Đại Việt xâm chiếm và phá hủy thành Vijaya (Đồ Bàn hay Chà Bàn) vào năm 1471. Tiểu quốc Nam Bàn là một tiểu quốc cổ của các cư dân Nam Đảo ở Tây Nguyên (Champa) nòng cốt là tộc người Jarai và người Rhade kết hợp với những tộc người Champa Vijaya. Bộ phận hoàng tộc Champa Vijaya trong quá trình lịch sử đã đồng hóa vào văn hóa bản địa Jarai.
– Tiểu quốc Nam Bàn hình thành từ khoảng thế kỷ 15 và chấm dứt sự tồn tại sau khi phân rã ra thành các sắc tộc độc lập vào khoảng cuối thế kỷ 20 (năm 1954). Tiểu quốc Nam Bàn chính thức kết thúc vào năm 1954.
Các tiểu vương quốc Chămpa chuyển hoá sau 1471
– Indrapura (Bình Trị Thiên) —> Đã sát nhập vào Đại Việt —> Nam Bàn (Chămpa Thượng trên Tây Nguyên)
– Amaravati (Quảng Nam) —> Đã sát nhập vào Đại Việt —> Nam Bàn (Chămpa Thượng trên Tây Nguyên)
– Vijaya (Bình Định) —> Đã sát nhập vào Đại Việt năm 1471 —> Nam Bàn (Chămpa Thượng trên Tây Nguyên)
– Aryaru (Phú Yên) —> Hoa Anh
– Kauthara (Khánh Hòa)
– Panduranga (Phan Rang) —> Thuận Thành Trấn
Nguồn
– Nước Nam Bàn-Champa chính thức bị xóa năm 1954
– Người Jrai
TÂY NGUYÊN – CHĂMPA
Tây Nguyên và Chămpa là một chìa khoá kết nối về Đông Nam Á biển đảo (thuỷ) và Đông Nam Á đất liền (sơn)
– Chămpa nằm trong vành đai Đông Nam Á biển đảo gồm Chămpa, Malaysia, Indonesia, Brunei, Đông Timor, Philippines, đảo Hải Nam. Vành đai này nằm sát với vành đai núi lửa Thái Bình Dương. Trung tâm của vành đai này là Hoàng Sa, Trường Sa.
– Tây Nguyên nằm trong vài đai Đông Nam Á đất liền gồm Lào, Campuchia, Thái Lan, Myanmar, Sri Lanka, cực Đông Bắc Ấn Độ, cực Tây Nam Trung Quốc (Đại Lý, Nam Chiếu xưa, Vân Nam, nam Tây Tạng nay), phần tranh chấp giữa Trung Quốc và Ân Độ giáp với Buhtan và Miến Điện. Vành đai này nằm sát với cụm Ân Độ, Nepal, Bhutan. Xuyên suốt vùng đất này là sông Mêkông.
HOÀNG TRIỀU CƯƠNG THỔ
Hoàng triều Cương thổ là khái niệm địa lý chính trị của Nhà Nguyễn để ấn định những khu vực cai trị mà người Việt không chiếm đa số, sau trở thành đơn vị hành chính của Quốc gia Việt Nam.
Hoàng triều cương thổ bao gồm vùng đất Đêga Tây Nguyên Việt Nam hiện nay và các Khu Tự trị dân tộc thiểu số ở miền Bắc. Hoàng triều Cương thổ chính thức thành lập ngày 15 tháng 4 năm 1950 rồi giải thể ngày 11 tháng 3 năm 1955.
Ngày 30 tháng 5 năm 1949 người Pháp trao quyền quản lý vùng Cao nguyên Trung phần với Xứ Thượng Nam Đông Dương cho Chính phủ Quốc gia Việt Nam. Quốc trưởng Bảo Đại đã tách riêng phần Cao nguyên Trung bộ ra và lập quy chế hành chính đặc biệt có tên là Hoàng triều Cương thổ qua Dụ số 6 ngày 15 tháng 4 năm 1950. Tại vùng này thì Bảo Đại ngoài danh nghĩa Quốc trưởng ra vẫn giữ vai trò Hoàng đế.
Năm tỉnh thuộc Xứ Thượng Nam Đông Dương chuyển giao thành Hoàng triều Cương thổ ở Trung phần là:
Đồng Nai Thượng
Lâm Viên
Pleiku
Darlac
Kontum
Ngoài ra Dụ số 6 còn ấn định một khu vực khác ở Bắc phần gồm các tỉnh sau đây cũng thuộc Hoàng triều cương thổ:
– Hòa Bình (Khu Tự trị Mường)
– Phong Thổ (Khu tự trị Thái)
– Lai Châu (Khu tự trị Thái)
– Sơn La (Khu tự trị Thái)
– Lào Kay (Khu Tự trị Mèo)
– Hà Giang (Khu Tự trị Mèo)
– Bắc Kạn (Khu Tự trị Thổ)
– Cao Bằng (Khu Tự trị Thổ)
– Lạng Sơn (Khu Tự trị Thổ)
– Hải Ninh (Khu tự trị Nùng)
– Móng Cái (Khu tự trị Nùng)
Đứng đầu Hoàng triều Cương thổ là vị Khâm mạng Hoàng triều do Quốc trưởng Bảo Đại bổ nhiệm. Theo thỏa hiệp giữa Tổng thống Pháp Vincent Auriol khi giải tán Xứ Thượng Nam Đông Dương và nhường quyền lại cho Quốc gia Việt Nam thì quy chế tự trị của các sắc tộc thiểu số sẽ có thể lệ riêng và Chính phủ Pháp vẫn có bổn phận tham nghị nên mỗi khi ban bố luật pháp thì Chính phủ Quốc gia Việt Nam phải có sự thỏa thuận của Pháp.
Ngày 21 tháng năm 1951, Quốc trưởng Bảo Đại ban hành “Quy chế 16” với chín điều khoản đặt nền móng cho việc cai trị Xứ Thượng. Nội dung các điều khoản đó có thể tóm tắt như sau:
– Quyền lợi tối cao của Quốc gia Việt Nam được bảo đảm cùng với quyền lợi của các sắc tộc thiểu số
– Cao nguyên trực thuộc Quốc trưởng
– Người Thượng cần tham gia vào việc phát triển Cao nguyên
– Tôn trọng hệ thống bộ lạc và chức sắc kế truyền của người Thượng
– Thành lập Hội đồng Kinh tế
– Thành lập Tòa án Phong tục Thượng
– Bảo đảm quyền sở hữu đất đai của người Thượng
– Phát triển cơ cấu dịch vụ xã hội ở Cao nguyên như y tế, giáo dục
– Thành lập đơn vị riêng quân sự riêng biệt cho người Thượng với ưu tiên phục vụ ở Cao nguyên
Quy chế Hoàng triều Cương thổ sau khi ban hành bị chỉ trích vì đã nhượng bộ quyền lợi cho Pháp quá lớn nhất là việc thành lập Hội đồng Kinh tế phần lớn do các chủ đồn điền người Pháp thao túng. Chính sách hạn chế di dân người Kinh lên Cao nguyên vẫn duy trì và người Pháp còn nắm quyền hành chánh như trong thỏa thuận với Tổng thống Pháp Vincent Auriol. Trong số năm tỉnh thì ba tỉnh Kontum, Pleiku và Darlac vẫn do tỉnh trưởng người Pháp cai quản. Hơn nữa đại diện Quốc trưởng Bảo Đại ở Cao nguyên, tức vị Khâm mạng cũng lại là người Pháp, đại tá Pierre Didelot, chồng của Agnès Nguyễn Hữu Hào.
Ngày 10 tháng 8 năm 1954, quy chế Hoàng triều Cương thổ bị xóa bỏ. Thủ tướng Ngô Đình Diệm thông qua Dụ số 21 ngày 11 tháng 3 năm 1955 và Quốc trưởng Bảo Đại chấp thuận, chính thức sáp nhập Hoàng triều Cương thổ lại vào Trung phần chấm dứt đặc quyền của người Pháp và Quốc trưởng trên vùng Thượng và danh xưng Cao nguyên Trung phần được dùng lại.
CAO NGUYÊN XẾP TẦNG
Danh sách cao nguyên ở Tây Nguyên
– Cao nguyên Kon Tum : Bề mặt bao trùm phần lớn diện tích tỉnh Quảng Ngãi và lan sang một phần ở Campuchia và Lào. Phía nam là cao nguyên Plâyku được làm ranh giới bởi con sông Pô Kô, phía đông bắc là thành phố Đà Nẵng được dãy Trường Sơn Nam làm ranh giới. Phía tây lan sang các Campuchia và Lào, gần giáp với cao nguyên Bolaven của Lào. Có độ cao trung bình khoảng 500 m, điểm cao nhất ở núi Ngọc Linh có độ cao 2.605 m.
– Cao nguyên Măng Đen (Kon Plông) : Kon Plong nằm giữa dãy An Khê và dãy Ngọc Linh với độ cao trung bình 1.100 – 1.300 m. Cao nguyên cao thứ nhì so với Lâm Viên.
– Cao nguyên Kon Hà Nừng : Có bề mặt phân cắt mạnh, cao 700 – 1.000 m, thấp dần về phía nam còn 500 – 600 m. Có khu bào tồn thiên nhiên Kon Ka Kinh và Kon Chư Răng. Đỉnh núi cao nhất là Kon Ka Kinh (1748m). Vùng trũng là thung lũng sông Ba. Người dân tộc Bahnar và Jrai.
– Cao nguyên Plâyku : có dạng vòm, địa hình tương đối bằng phẳng, độ cao từ 750 – 800 m, nghiêng dần về phía nam. Điểm cao nhất ở núi Kon Ka King, đèo An Khê nằm ở phía đông là cửa ngõ đi lên cao nguyên từ xã Bình Khê, ở trung tâm của cao nguyên có hồ lớn gọi là Biển Hồ (hồ T’Nưng). Phía bắc là cao nguyên Kon Tum với giới hạn là sông Đắk Pơ ne, phía đông giáp xã Bình Khê, phía nam cách cao nguyên Đắk Lắk khoảng 50 km, địa hình phía tây thấp dần về phía biên giới với Campuchia.
– Cao nguyên M’Drăk : Có bề mặt lượn sóng cao trung bình 400-500 m, thỉnh thoảng còn sót những đỉnh cao 1.000 m. Cao nguyên M’Drắk, hay cao nguyên Khánh Dương. Cao nguyên này nằm ở phía Đông tỉnh tiếp giáp với tỉnh Khánh Hoà. Có rừng phòn hộ núi Vọng Phu (Chư Mư)
– Cao nguyên Đắk Lắk (Buôn Mê Thuột) có bề mặt địa hình khá bằng phẳng, độ cao ở phía bắc 800 m, giảm mạnh về phía nam con 400 m và về phía tây còn 300 m (thấp nhất trong các cao nguyên). Cao nguyên này là một lòng chảo, Bắc Nam dài 90km, Đông Tây dài 70km. Có thành phố Buôn Ma Thuột, nghĩa là Buôn của Ma Thuột, vị tù trưởng giàu có và quyền uy nhất vùng. Có Bản Đôn, nổi tiếng với nghề săn và thuần dưỡng voi.
– Cao nguyên Mơ Nông : Bao trùm diện tích tỉnh Đắk Nông, Việt Nam và một phần lấn sang Campuchia. Cao nguyên có độ cao trung bình là 800 m, điểm cao nhất là đỉnh núi Nam Decbri ở độ cao 1.580 m. Giới hạn phía Nam là đoạn sông Đồng Nai và sông Đăk N’Đrung.
– Cao nguyên Lâm Viên (Đà Lạt) : Là bề mặt san bằng cổ, ở phía bắc cao 1.600 m, giảm dần ở phía nam còn 1.400 m, có các đỉnh núi sót cao trên 2.000 m. Độ cao trung bình 1500m (cao nhất trong các cao nguyên). Cao nguyên Lâm Viên (còn gọi cao nguyên Lang Biang, cao nguyên Lang Bian, cao nguyên Lạng Bương, cao nguyên Đà Lạt, bình sơn Đà Lạt). Phía nam cao nguyên có thành phố Đà Lạt cũ. Phía đông và đông nam dốc xuống thung lũng sông Đa Nhim, tây nam hạ đột ngột xuống cao nguyên Di Linh. Tại đây có các đỉnh núi cao như Bi Doup (2.287 m), Lang Biang (hay Chư Cang Ca, 2.167 m), Hòn Giao (2.010 m). Nước sông trên cao nguyên chảy chậm; những chỗ bị chặn lại toả rộng thành hồ như hồ Xuân Hương, hồ Than Thở, hồ Đa Thiện, hồ Đan Kia (Suối Vàng), thác Cam Ly. Rìa cao nguyên có các thác lớn như Pren (Prenn), Gù Gà, Ankrôet, thác Voi. Diện tích khoảng 1.080 km², cao nguyên này chỉ chiếm khoảng 30% diện tích của toàn tỉnh Lâm Đồng, nằm trên các huyện Lạc Dương, Đam Rông và thành phố Đà Lạt.
– Cao nguyên Di Linh : có dạng một thung lũng kéo dài theo phương đông – tây, cao từ 800 – 1.000 m. Độ cao trung bình 1000. Cao nguyên này có độ cao trung bình là 1000m so với mặt biển. Cao nguyên này chiếm trên 50% diện tích tỉnh Lâm Đồng.
Cao nguyên Di Linh có thể chia thành hai phần: phần phía Bắc tương đối bằng phẳng ở các huyện Đơn Dương, Đức Trọng, Lâm Hà; phần phía Nam bị chia cắt nhiều bởi núi, đồi, sườn dốc, thung lũng hẹp ở các huyện Di Linh, Bảo Lộc.
Nguồn
– Danh sách cao nguyên Việt Nam https://vi.wikipedia.org/…/Danh_s%C3%A1ch_cao_nguy%C3…
– Cảnh quan Tây Nguyên https://bktt.vn/C%E1%BA%A3nh_quan_T%C3%A2y_Nguy%C3%AAn
TRƯỜNG SƠN NAM & CÁC NÚI THIÊNG CỦA TÂY NGUYÊN
Trường Sơn Nam là hệ thống dãy núi và khối núi, gờ núi cao bao bọc phía Đông của Tây Nguyên, chạy dài từ khối núi Ngọc Linh (Quảng Ngãi) đến mũi Dinh (sông Dinh Phan Rang).
Các núi chính thuộc Trường Sơn Nam là
– Khối núi Ngọc Linh (cao nguyên Kontum)
– – – Ngọc Linh (2598 m) cao nhất Nam Trường Sơn
– – – Ngọc Krinh (2025 m), và hơn mười ngọn khác cao trên 1200 m cùng thuộc khối núi Ngọc Linh,
– Dãy núi An Khê (cao nguyên Kon Hà Nừng)
– – – Kon Ka Kinh (1761 m),
– – – Chư Yang Sin (2405 m) : Chư Yang Sin là nơi khởi nguồn của sông Krông Ana, một nhánh chính của hệ thống sông Sêrêpốk hùng vĩ. Được coi là núi Thần.
– Cao nguyên Pleiku (Gia Lai)
– – – Chư Đăng Ya : núi lửa
– – – Chư H’Drong (Hàm Rồng) : núi lửa
– – – Chư Tao Yang là núi cất Gươm thần của Vua lửa
– Cao nguyên Đaklak
– – – Chư Yang Lak (hay Chư Yang Lắk) là đỉnh núi cao gần 1.700m thuộc khu rừng hồ Lắk, huyện Lắk, tỉnh Đắk Lắk, cách Buôn Ma Thuột khoảng 50-55km. Tên núi nghĩa là Núi Thần Nước.
– Tây Khánh Hòa (cao nguyên Khánh Dương)
– – – Chư Mư/Vọng Phu (2051 m)
– Cao nguyên Dak Nông
– – – Nam Decbri ở độ cao 1.580 m.
– – – Núi Tà Đùng 1.982m
– Cao nguyên Lâm Viên
– – – Bi Doup (2.287 m),
– – – Lang Biang (hay Chư Cang Ca, 2.167 m),
– – – Hòn Giao (2.010 m).
– Cao nguyên Di Linh
– – – Chư Braian (hay Chư Brayan), Bran Yang (Brăh Yàng) Brah-Yang hay Bray Yang 1.879m
– – – Yang Doan (khoảng 1.800m) ngay cạnh Chư Braian
– – – Bon Nong (1692 m)
– – – M’non Lanlen (1623 m),
– – – Núi Pantar hay M’neun Pantar, M’non Pantar (1644 m)
SÔNG TÂY NGUYÊN
– Hệ thống sông Sê San: Đầu nguồn sông Sê San bắt nguồn từ phía Nam dãy núi Ngọc Linh thuộc tỉnh Kon Tum, Tây Nguyên. Dòng sông hình thành từ nơi hợp lưu của hai con sông chính là Krông Pô Kô (phía hữu ngạn) và Đăk Bla (phía tả ngạn), sau đó chảy qua Gia Lai và đổ sang Campuchia.
– – – Sông Krong Pô Kô
– – – Sông Đak Bla
– Hệ thống sông Srêpốk: Hình thành từ sự hợp lưu của sông Krông Nô (sông Đực) và Krông Ana (sông Cái), chảy qua Đắk Lắk rồi sang Campuchia, nổi tiếng là dòng sông chảy ngược.
– – – Sông Krong Nô
– – – Sông Krong Ana : Phụ lưu của sông Krong Ana Krông Búk, Krông Pắc, Krông Bông, Krông Kmar
– Hệ thống sông Ba (sông Đà Rằng): Bắt nguồn từ Gia Lai, chảy qua Kon Tum, Phú Yên và đổ ra biển.
– – – Sông Krông Năng là phụ lưu của sông Ba.
– – – Sông Ayun là con sông linh thiêng gắn với vua Nước, vua Lửa và vua Gió của người Jrai
– Hệ thống sông Đồng Nai : Sông Đồng Nai bắt đầu từ vị trí giao nhau của Sông Đa Dung (Đa Dâng) và Sông Đa Nhim tại vị trí nhà máy thủy điện Đa Dâng 2 (xã Tân Hội, tỉnh Lâm Đồng). Sông chảy qua các tỉnh Lâm Đồng (bao gồm Đắk Nông cũ), thành phố Đồng Nai (bao gồm Bình Phước cũ), gặp sông Sài Gòn tại cảng Cát Lái thành xông Xoài Rạp đổ vào biển Đông tại khu vực huyện Cần Giờ cũ.
– – – Sông Đa Nhim chảy qua các huyện Đơn Dương, Đức Trọng và đổ vào sông Đa Dâng gần thác Pongour. Sông Đa Nhim bắt nguồn từ phía bắc núi Gia Rích (1.923 m) ở huyện Lạc Dương, tỉnh Lâm Đồng, gần ranh giới với hai tỉnh Khánh Hoà và Ninh Thuận. Trên sông Đa Nhim có hồ Đa Nhim (hay là hồ Đơn Dương), là một hồ nhân tạo trên địa bàn huyện Đơn Dương. Dọc sông có ba thác chính: thác Liên Khương, thác Gougah và thác Pongour.
– – – Sông Đa Dung (Đa Dâng)
HỒ TÂY NGUYÊN
Có 2 loai hồ là hồ độc lập và hồ thuộc sông
Hồ độc lập
– Biển Hồ (Hồ Tơ Nưng)
– Hồ Lak (Đak Lak) : sông Krong Ana, núi Chư Yang Lak (hay Chư Yang Lắk) là đỉnh núi cao gần 1.700m thuộc khu rừng hồ Lắk
– Hồ Ea Snô (Đắk Nông) : sông Krong Nô, thác Gia Long, thác D’ray Sap.
– Hồ của Đà Lạt
Truyền thuyết hồ Ea Snô
Trước đây, khu vực hồ còn bao quanh là núi rừng rậm rạp, hoang sơ, nơi đây từng là bon của người M’nông sinh sống. Trong bon có một gia đình rất nghèo khổ, hai vợ chồng sinh được hai người con, con trai đặt tên là N’Chông và con gái đặt là M’Po. Sau khi người em vừa bỏ bú thì người mẹ qua đời, không lâu sau người cha cũng bị bệnh qua đời, người anh bị bán sang vùng khác còn em gái được một gia đình giàu có nhận nuôi.
Sau nhiều năm mua qua bán lại, N’Chông được trở về bon cũ nhưng hai anh em vẫn không biết ở cạnh nhau. Khi N’Chông và M’Po ngày càng lớn khôn, N’Chông trở thành chàng trai khỏe mạnh, thông minh, giỏi săn bắt còn M’Po trở thành cô gái xinh đẹp, dịu dàng, khéo tay. N’Chông và M’Po gặp nhau và yêu nhau, họ mơ về cuộc sống hạnh phúc nên đã lấy nhau. Tuy nhiên họ đã phạm vào tội loạn luân mà không hay biết nên bị thần linh trừng phạt, phạt cả dân làng nơi họ sinh ra.
Năm ấy cả buôn làng gặp một trận mưa khủng khiếp, tạo nên trận cuồng phong dữ dội, cuốn đi hết tất cả. Chỗ bon làng đó bị nước nhấn chìm xuống và tạo thành một hồ nước lớn, hiện là hồ Ea Snô ngày nay. Nhiều người vẫn nói Ea Snô chính là hồ vợ chồng.
Truyền thuyết hồ Lak
Truyền thuyết Biển Hồ
Hồ thuộc sông (hồ nhân tạo do chặn sông làm thuỷ điện)
– Hồ Tà Đùng, sông Đồng Nai
– Hồ Ayun Hạ, sông Ayun (Gia Lai)
– Hồ Bến Tuyết, sông Ayun
– Hồ Ea Kao (Đắk Lắk), suối Ea Kao
– Hồ Đram (KonKaKinh)
– Hồ Vĩnh Sơn B (KonKaKinh)
Nguồn
– Danh sách sông của Việt Nam
—o—o—o—
