BÌNH THUẬN : DINH THÀY THÍM, CHÙA CỔ THẠCH & 5 ÔNG TÀ

Loading

Các vùng đất trấn biên, đặc biệt là Bình Thuận đều là các vùng đất cực kỳ khó đi và khó hiểu, vì giao thoa nhiều mạch núi sông, giao thoa nhiều tầng văn hoá, giao toa nhiều nhóm sắc tộc, và xảy ra nhiều sự kiện lịch sử phức tạp, mà vào thời điểm khi tôi thực hiện chuyến đi xuyên Việt, tôi còn chưa đủ vững vàng.
Trong chuyến đi xuyên Việt của tôi năm 2023-2024 đã xảy ra một chuyện đáng tiếc tại Bình Thuận.
Chả là khi ấy, tôi chở một người bạn bằng xe máy, hẹn với hai người bạn khác cũng đi xe máy ở dinh Thày Thím, địa điểm tâm linh nổi tiếng bậc nhất của tỉnh Bình Thuận. Khi đến nơi, nhóm tôi đợi mãi chẳng thấy nhóm kia xuất hiện, trong khi ngay trước đó họ còn gọi điện cho chúng tôi bảo vài phút nữa là đến nơi rồi. Sau khi đi ra mộ Thày Thím, rồi quay lại dinh thì tôi gặp hai người bạn tôi đang nằm nghỉ ở dinh, máu me be bét, vì bị ngã xe ngay trước cửa Tam quan của dinh Thày Thím. Cú ngã rất nặng làm xe máy hỏng, người lái xe máy bị thương phải khâu 6 mũi, người ngồi sau xe bị thương nhẹ hơn.
Điều kỳ lạ là cú ngã xe này xảy ra ngay trước cửa tam quan rộng rãi chả có một bóng người của dinh Thày Thím, chứ không phải ở đường đèo núi hay ngã ba ngã tư đông đúc gì cả, cũng không có bất kỳ ai va chạm hay đến gần chiếc xe lúc đó. Nói cách khác là hai người bạn của tôi đến trước cửa dinh Thày Thím thì tự dưng ngã lăn đùng ra, như va phải một cánh cửa vô hình, khiến cho cả người và xe đều bị văng rất mạnh xuống đất.
Lý do mà chúng tôi cố gắng đem ra giải thích là người lái xe đã phanh xe đột ngột để vào dinh, nhưng dù như vậy cũng không thể có một tai nạn nặng đến như thế. Chúng tôi tự hiểu tai nạn này không vui vẻ gì, nhưng là điều cần thiết phải xảy ra ở đó và theo cách đó, hơn là xảy ra ở chỗ khác, theo kiểu khác, vào lúc khác. Nói như ngôn ngữ dân gian là cái tai nạn này đã gánh cho chúng tôi một kiếp nạn khác, hoặc mở ra cho chúng tôi một dòng nghiệp quan trọng, mà chúng tôi không thể để lỡ.
Tai nạn này giống như là một lời thề của chúng tôi với Thày Thím đã đến lúc mở ra, vì chúng tôi dường như đã hơi bị chậm “deadline” trên con đường tâm linh của mình, và cánh cửa tam quan dinh Thày Thím đã kiểm tra “deadline” và tự động bắt chúng tôi phải trả nợ rồi mới được vào.
Trước chuyến đi xuyên Việt nhiều năm, gia đình tôi đã gặp một chuyện hy hữu cũng ở Bình Thuận. Đó là chị gái tôi đã đặt khách sạn cho chuyến du lịch tắm biển Múi Né ở mũi … Kê Gà, cách đó có 55km thôi. Kết quả là sau khi xuống máy bay Phan Thiết, cứ tưởng là được tắm biển luôn, thì cả gia đình tôi phải khệ nệ mang vác đồ đạc, lên taxi đi cả giờ đồng hồ nữa về mũi Kê Gà. Sự nhầm lẫn buồn cười này giúp gia đình chúng tôi có một chuyến đi để đời : Chúng tôi được tắm biển ở nơi vắng vẻ, đẹp đẽ, hoang sơ, cả gia đình tự câu được rất nhiều cá ở mấy cái hồ gần biển.
Sau khi vụ tai nạn ở Bình Thuận, tôi đã kiểm tra lại vị trí của mũi Kê Gà, so với Mũi Né, dinh Thày Thím và bộ 5 núi thiêng tên Tà của Bình Thuận. Kết quả như sau : Mũi Né nằm ở cực bắc của vịnh Phan Thiết, còn Mũi Kê Gà nằm ở cực nam của vịnh này, cách Mũi Né 55km. Sân bay Phan Thiết và Núi Tà Dôn (1 trong 5 núi thiêng của Bình Thuận) nằm ở Mũi Né. Núi Tà Cú. Dinh Thày Thím và núi Tà Cú, ngọn núi nổi tiếng nhất trong bộ núi thiêng Bình Thuận nằm ở Kê Gà. Kết luận của tôi là địa điểm chuẩn nhất để trải nghiệm sự linh thiêng của Tà Cú và dinh Thày Thím giữa chốn thiên nhiên tươi đẹp có cả núi và biển chính là mũi Kê Gà, chứ không phải là mũi Né.
Tôi mất nhiều năm để bổ sung và hoàn thiện hơn những gì đã mở ra trong chuyến đi xuyên Việt Nam ấy. Với thời gian, tôi và các bạn học sinh đã hiểu về Trường Sơn, Mê Kông, Biển Đông, Vịnh Thái Lan, Tây Nguyên, về các quốc gia cổ như Phù Nam, Chân Lạp, Chiêm Thành, về người Khmer, người Chăm, người K’ho, người Raglai…, về các vị đạo sỹ khai sơn, mở các dòng tu trên dải đất Nam Trung Bộ và Nam Bộ này.
Chuyến đi xuyên Việt năm đó của tôi tập trung vào văn hoá Chăm/đất nước Chiêm Thành và hai vùng đất/văn hoá liên quan là Khmer Nam Bộ và Tây Nguyên. Bình Thuận, cùng với Đồng Nai và Bà Rịa Vũng Tàu chính là vùng đất ngã ba cho ba nhóm văn minh/sắc tộc này, còn chúng tôi, những người hẹn nhau ở Dinh Thày Thím chính là những đứa trẻ mang trong mình những dòng máu đa sắc tộc này.
Bài viết này của tôi xin dành để trả lại một phần món nợ của tôi với Bình Thuận, một mảnh đất biên các vùng miền, của núi sông và biển, của các nền văn hoá, và của các sắc tộc.
5 ÔNG NÚI TÀ TRẤN GIỮ BÌNH THUẬN
5 ngọn núi “Tà” trấn giữ vùng đất Bình Thuận là Tà Cú, Tà Dôn, Tà Mon, Tà Pao và Tà Pứa.
– Núi Tà Cú (Hàm Thuận Nam): Nổi tiếng nhất với độ cao 649m, có Chùa Linh Sơn Trường Thọ, tượng Phật nằm dài 49m và cáp treo phục vụ du lịch tâm linh.
– Núi Tà Mon (Hàm Thuận Nam) : Tà Mom là núi nằm ở cực nam của bộ 5 núi này. Tà Mon còn là tên một cây cầu trên quốc lộ 1, một hồ thủy lợi và một khu rừng thuộc rừng phòng hộ Sông Móng – Ka Pét.
– Núi Tà Dôn (Hàm Thuận Bắc): Cao 386m, nằm sát quốc lộ 1A. Trong các bộ địa chí của triều Nguyễn (Hoàng Việt thống nhất dư địa chí, Đại Nam nhất thống chí, Đồng Khánh dư địa chí), núi Tà Dôn có các tên gọi khác như Long Thạnh, Tà Bông, Tà Bôn. Ở đây cộng đồng người Chăm rất đông. Trước năm 1975 là nơi đóng quân của quân đội Mỹ.
– Núi Tà Pao (Tánh Linh): Nổi tiếng với thánh tượng Đức Mẹ Tà Pao, điểm hành hương công giáo lớn.
– Núi Tà Pứa (Đức Linh): Nằm giáp ranh, nổi tiếng với đèo Tà Pứa hùng vĩ trên cung đường đi Tánh Linh – Đức Linh.
Những ngọn núi này không chỉ là danh thắng mà còn là “những ông Tà” bảo vệ sự bình yên cho vùng đất và người dân Bình Thuận, gắn liền với các câu chuyện dân gian, huyền sử, và đức tin của người địa phương.
ĐỊA DANH “TÀ” CÓ NGHĨA GÌ ?
Trong “Danh mục địa danh dân cư, sơn văn, thủy văn, kinh tế xã hội phục vụ công tác thành lập bản đồ phần đất liền tỉnh Bình Thuận”, nhiều địa danh có từ “tà” đứng đầu.
– Núi Tà Bằng, rừng Tà Bằng thuộc xã Bình An, huyện Bắc Bình.
– Suối Tà Răng (Tà Ràng) thuộc xã Thắng Hải, huyện Hàm Tân là vạch phân định ranh giới tự nhiên giữa tỉnh Bình Thuận và Bà Rịa Vũng Tàu.
– Cầu Tà Mỹ, sông Tà Mỹ, sông Tà Là Ngầu thuộc xã La Ngâu, huyện Tánh Linh. Suối Tà Rô, suối Tà Hạp, suối Tà Lũ, suối Tà Phà Tung… cũng ở xã La Ngâu.
Tại đảo Phú Quý, nơi địa bàn người Chăm sinh sống xa xưa, từ “tà” là phương ngữ, dùng để chỉ khu vực nào đó. Như một số đất rẫy thuộc xã Tam Thanh gọi là “tà” như tà Bà Bưng, tà Gò Lăng, tà đồng….
Ở Lâm Đồng, Bà Rịa Vũng Tàu và Nam Bộ còn có nhiều địa danh “Tà” rất nổi tiếng như
– Núi Tà Đùng, hồ Tà Đùng
– Xã Tà Năng ở đầu cung đường trekking nổi tiếng Tà Năng Phan Dũng.
– Núi Tà Pạ còn gọi là đồi Tà Pạ thuộc xã Núi Tô, huyện Tri Tôn, Tỉnh An Giang.
Theo “Từ điển địa danh đối chiếu Việt – các dân tộc thiểu số miền Trung – Trường Sơn – Tây Nguyên – Nam Bộ” của tác giả Sakaya
– Địa danh Tà Cú có nguồn gốc từ tên gọi Po Ina Nagar Tikuh (Takuh), nghĩa là “xứ nữ thần Takuh”. Tên gọi Takuh được người Việt đọc thành Tà Cú. (Po Ina Nagar của Champa có nhiều người con, mỗi người cai quản một vùng).
Ngoài địa danh Tà Cú có cách giải thích riêng, thì các địa danh còn lại như Tà Dôn, Tà Mon, Tà Pao… đều được Sakaya có một kiểu giải thích ý nghĩa chung. Có thể khái quát như sau: “từ Tà (nguồn gốc từ chữ Ja chỉ giới tính nam, ông này, ông kia) + tên riêng”.
– Nhưng tựu trung lại, “chữ Tà ở vùng Bình Thuận là từ đọc chệch âm từ chữ Ja (chỉ giới tính nam của người Chăm) gắn với tên riêng (người, vùng đất, núi, sông, suối của các dân tộc Chăm, Raglai, K’ho) mà thành. Tà Dôn có thể biến âm từ Ja Ndaong/Đong – chỉ người quản lý vùng đất của người Chăm thuộc khu vực Đồng Nai Hạ (Ndaong Nai/Đong Nai)”.
– Tà Mon được giải thích là từ Tà từ chữ Ja (chỉ giới tính nam, ông này, ông kia) còn Mon là tên riêng. “Ja Mon có thể tên đất do ông Ja Mon khai hoang hoặc là tên nhân viên Champa (Chăm, K’ho hay Raglai) quản lý vùng này”.
– Tà Pao là địa danh thuộc xã Đồng Kho, huyện Tánh Linh, nơi có Trung tâm Thánh mẫu Đức Mẹ Tà Pao, công trình thủy lợi Tà Pao. Tà Pao/Bao cũng được giải thích là đất do ông Ja Pao khai hoang hoặc là tên nhân viên nhân viên Champa (Chăm, K’ho hay Raglai) quản lý vùng này.
– Đèo Tà Pứa trên đường ĐT713 từ Võ Xu (huyện Đức Linh) lên thị trấn Đạ M’ri (huyện Đạ Hoai, Lâm Đồng) trên quốc lộ 20. Suối Tà Pứa ở khu vực đèo Tà Pứa, nằm trong rừng khu vực giáp ranh 2 huyện Đức Linh – Tánh Linh. Tà Pứa cũng được giải thích là đất do ông Ja Pứa khai hoang hoặc là tên nhân viên nhân viên Champa (Chăm, K’ho hay Raglai) quản lý vùng này).
“Tà” có thể liên quan đến ngôn ngữ người K’ho, Ra Glai, những tộc người bản địa sống trên vùng Trường Sơn – Tây Nguyên, chung gốc Nam Đảo với người Chăm.
Tiếng Khmer có từ “tà” trong “Neak Tà”. Neak là có nghĩa con người nói chung, Tà là người đàn ông đứng tuổi. Neak Tà có nghĩa là những vị thần linh. Neak Tà ghép với các từ khác có nghĩa là các vị thần cai quản điều gì đó như : Neak Tà Meha Sros (thần cai quản phum sóc), Neak Tà Watt (thần chùa chiền, đền miếu), Neak Tà Ra Chay (thần ao hồ, ngã ba sông), Neak Tà Đom Chreay (thần cây đa, cây đề)…. Người ta hay dùng cục đá để đại diện cho ông Neak Tà. Ông được hiểu như thần thổ địa, thần bản thổ, thần đất, thần xóm làng, thần núi rừng …
Còn có những cách giải thích khác
– Tà Cú : Tên gọi tà kóu bắt nguồn từ tiếng Chăm cổ “tà” là núi và “kóu” là già. Nghĩa là “núi già”.
– Tà Pao là tiếng K’ho, “tà” là bến sông, Pao là một tên riêng của người chủ bến đó.
– Tà Zone : Theo truyền thuyết , nơi đây có một câu chuyện tình lãng mạn của một chàng trai tên là Tà zone với một người con gái là Sara. Chuyện tình rất cảm đông. Bây giờ người ta gọi địa danh nơi đây là Sara hay Tà Zone.
Như vậy, “Tà” có thể là
– Từ chỉ người nam, đặc biệt là ông già hay người nam có uy tín, thậm chí là nam thần
– Từ chỉ núi, hay thần núi
– Từ chỉ bến sông,
– Từ chỉ vùng đất, mà gắn với người đứng đầu hay quản lý vùng đất đó, kiều như đất của ông này, đất của ông kia
CHÙA NÚI TÀ CÚ
Trong các ngọn núi này, Tà Cú nổi tiếng hơn cả vì có chùa núi Tà Cú và sự tích về vị sư khai sơn đắc đạo ở chùa này.
Chùa núi Tà Cú (người địa phương hay gọi đơn giản là chùa Núi) là một ngôi chùa tọa lạc trên núi Tà Cú ở độ cao hơn 400 m.
Vào giữa thế kỷ 19 nhà sư Trần Hữu Đức (1812-1887) pháp danh Thông Ân, pháp hiệu Hữu Đức từ Phú Yên vào Bình Thuận dựng một thảo am ở làng Kim Thạnh (Bàu Trâm) vừa tu hành vừa bốc thuốc. Ông đã từng tu hành và góp nhiều công sức chăm lo Phật sự ở nhiều chùa tại Bình Thuận như chùa Cổ Thạch, Linh Sơn (Tuy Phong), Phước Hưng (Phan Thiết) và một số chùa ở đảo Phú Quý. Năm 1872 nhà sư lên núi Tà Cú tu hành trong một hang đá (sau này gọi là hang Tổ). Trong hang này có mạch nước ngầm. Cho đến lúc mất, sư Hữu Đức không xuống núi nữa. Lúc đương thời nhà sư Hữu Đức là một thầy thuốc giỏi. Năm Tự Đức thứ 33 (1880) hoàng thái hậu bệnh nặng, chư thần tâu xin rước sư về giúp trị bệnh nhưng nhà sư từ chối, chỉ gởi người về triều. Bệnh hoàng thái hậu hết, vua Tự Đức mới ban cho tên chùa là Linh Sơn Trường Thọ và nhà sư là “Đại lão hòa thượng”. Đến khi nhà sư Hữu Đức viên tịch (nhằm ngày 5 tháng 10 năm 1887 âm lịch) thì sư Tâm Hiền lập ngôi chùa mới ở phía dưới, sau này gọi là chùa Dưới hay chùa Long Đoàn và chùa Linh Sơn Trường Thọ là chùa Trên.
DINH THÀY THÍM
Dinh Thày Thím là địa điểm linh thiêng bậc nhất Bình Thuận nằm ngay trong vòng cung 5 ngọn núi Tà, và cực kỳ gần với núi Tà Cú mà nổi tiếng nhất trong 5 núi Tà.
Truyền thuyết:
Ngày xưa ở Quảng Nam, có một đạo sĩ giàu lòng nhân ái, võ thuật hơn người thường có những nghĩa cử cao đẹp được dân làng mến mộ. Vì bị nhà Vua xét xử oan ức nên đạo sĩ cùng vợ phiêu bạt vào phương Nam lánh nạn.
Tam Tân, một vùng quê xa xôi và trù phú trở thành nơi dừng chân cuối cùng của vợ chồng đạo sĩ. Và cũng từ đây, những truyền thuyết, đức độ của vợ chồng đạo sĩ được lòng dân hết mực ca ngợi. Họ gọi vợ chồng đạo sĩ là Thầy – Thím.
Ít khi nhắc về thân thế của mình nhưng người trong làng cũng hiểu đôi chút về quá khứ của Thầy. Thầy sinh vào những năm đầu của triều Gia Long, thuở thiếu thời, Thầy vừa cần mẫn dùi mài kinh sử, vừa tầm sư học đạo, nuôi chí giúp đời, ước muốn thoả chí tung hoành ngang dọc. Việc lớn chưa thành, danh chưa toại thì Thầy gặp đại tang, cha mẹ Thầy đột ngột cùng lúc qua đời. Là người con hiếu thảo, Thầy ở lại quê nhà cùng vợ là người cùng phủ chịu tang cha mẹ, sống những ngày tháng kham khổ.
Làng quê Thầy Thím nhiều năm liền bị hạn hán, mất mùa, đời sống của nhân dân cơ cực, cơm không đủ no, nước không đủ uống. Động lòng trước nỗi khốn khổ của dân, Thầy lập đàn khấn nguyện. Trời đang trong xanh bỗng sấm chuyển ầm ầm, mưa như trút nước, cây cỏ hồi sinh.
Từ đó, Thầy nổi danh là một đạo sĩ có tài, dùng phép thuật của mình để giúp đỡ dân lành. Một lần trong ngày hội đầu năm, dân làng mơ có một mái đình khang trang để thờ phụng Thành Hoàng như ngôi đình to lớn nhưng thiếu người hương khói ở làng bên. Như cảm thông với nỗi khát khao của những tấm lòng thành kính với thần linh, đêm hôm ấy gió mưa dữ dội, chớp giật rung chuyển cả đất trời báo trước một điềm lạ. Quả nhiên, khi trời yên, đất lặng, mọi người thấy ngôi đình mới tọa lạc ngay giữa làng thay thế ngôi đình lá cũ rách. Dân làng kinh ngạc rồi reo hò vui mừng.
Nhưng niềm vui ấy chưa được bao lâu thì làng bên trống dục liên hồi cấp báo về triều tố cáo Thầy dùng phép đánh cắp Đình, âm mưu gây bạo loạn. Thế là Vua nghiêm trị Thầy ở mức án cao nhất. Xong, cẩm thông trước khí khái quân tử, nhà vua gia ân cho Thầy được chọn ba trọng tội hình: Xử trảm, uống thuốc độc hoặc tự thắt cổ. Thầy xin một tấm lụa đào và chọn hình thức sau cùng. Kì lạ thay, khi tấm lụa đào đến tay Thầy bỗng trở nên có sức sống kỳ lạ. Thầy múa xong một bài cũng là lúc tấm lụa biến thành rồng nâng Thầy và Thím bay bổng lên không trung trước nổi kinh hoàng của quan lại và dân làng. Khi bay qua quê mình, Thím còn làm rơi chiếc hài như một lời nhắn thưa từ biệt, rồi lụa rồng bay về phương nam. Từ đó, Thầy – Thím đến cư ngụ tại làng Tam Tân (nay là xã Tân Hải, tỉnh Lâm Đồng), dưới lớp áo của người xa quê đến lập nghiệp.
Lúc đầu Thầy Thím ở trọ nhà ông hộ Hai. Ngày ngày, vợ chồng Thầy làm các nghề đốn củi, đóng ghe, bốc thuốc chữa bệnh cứu người. Có điều lạ là lúc nào bên Thầy cũng có một quả bầu khô, người ta nói Thầy có phép “sái đậu thành binh” tức là “gieo đậu thành binh lính”. Một hôm, nhân lúc thầy vào rừng đốn củi mà quên đem theo quả bầu, chủ nhà tò mò lấy ra xem bỗng lửa phụt ra thiêu rụi cả căn nhà. Sau khi làm lại căn nhà mới cho ông Hộ Hai, và để tránh sự chú ý của nhiều người, vợ chồng Thầy chuyển vào ở hẳn trong rừng sâu gần Bàu Cái. Thế nhưng, càng ở xa dân cư, danh tiếng của Thầy càng lan rộng. Thầy nhận đóng ghe cho ngư dân và giao rất đúng hẹn. Quanh khu rừng vang lên tiếng đãn gỗ, đục đẽo cả ngày, nhưng chưa bao giờ người ta thấy một người giúp việc nào của Thầy. Từ cánh rừng nơi Thầy đóng ghe ra đến biển dài hơn 3km có mạch nước nhỏ đổ ra biển, người dân tương truyền đó là dòng nước Thầy dùng gậy tạo ra để đưa ghe ra biển. Lạch nước ấy ngày nay vẫn còn, dân thường gọi là đường lướt ván.
Còn nhiều câu chuyện về lòng nhân ái của Thầy như trừng phạt bọn buôn gạo lợi dụng năm mất mùa bóp chẹt dân nghèo, cứu giúp dân chài trong cơn sóng to gió dữ… Không dừng lại ở đó, Thầy còn cảm hóa cả thú rừng vốn là nỗi nơm nớp lo sợ của nhiều người khi buổi đầu khai phá thiên nhiên hoang dã.
Một ngày mùa thu, được tin Thầy Thím qua đời, dân làng loan báo tin buồn, vội vã vào đến nơi, thì thấy hai ngôi mộ bằng cát trắng phau được thú rừng vun đắp thành mộ ở gần nơi Thầy Thím tạ thế.
Hằng năm, cứ đến mùng 5 tháng giêng âm lịch, người ta thấy có đôi Bạch – Hắc Hổ thường xuyên về tảo mộ, phủ phục gần đó canh gác cho ngôi mộ.
Về sau khi đôi Bạch – Hắc Hổ qua đời, dân làng an táng ngay sau ngôi mộ Thầy – Thím để tưởng nhớ hai con vật có nghĩa, tận trung với người. Ngày 15/9 âm lịch hằng năm là ngày lễ tế thu Thầy – Thím. Qua khói hương, trong tiếng chuông trầm mặc, nghĩa cử Thầy – Thím vẫn được dân gian lưu truyền. Thế nên đến đời vua Thành Thái năm thứ 18, nhà vua đã xem xét lại án xử trước đây và ban sắc phong cho Thầy – Thím là “Chí Đức Tiên Sinh, Chí Đức Nương Nương Tôn Thần”.
Lễ hội
Hàng năm, vào ngày mùng 5 tháng giêng âm lịch (lễ tảo mộ) và các ngày từ 14 đến 16 tháng 9 âm lịch (lễ tế thu hay còn gọi là ngày vía Thầy Thím) rất đông người dân địa phương và du khách đến Dinh để cầu sức khỏe, hạnh phúc gia đình và công việc làm ăn của mình được thuận lợi…
Khu mộ Thầy Thím (gồm một đền thờ và bốn nấm mộ) cũng nằm trên địa phận xã Tân Hải, cách Dinh Thầy Thím khoảng 3km về phía Tây. Bốn nấm mộ được đắp bằng cát trắng tinh, và ở ngay phía sau đền thờ. Theo truyền thuyết dân gian thì hai mộ phía trước là mộ của Thầy Thím, hai mộ phía sau là mộ đôi Bạch – Hắc Hổ (vốn được coi là vệ sĩ, đệ tử của Thầy Thím).
Đổi hướng cửa dinh
Thày Thím lúc còn sống đã làm ra nhiều chuyện phi thường, mà được truyền miệng trong dân gian, và có một truyền thuyết liên quan đến dinh thày thim, có là thày thím đã làm phép thuật đổi hướng cổng của dinh.
Vụ tai nạn của chúng tôi liên quan ở ngay cổng dinh Thày Thím đến cánh cổng bị đổi này. Sau này khi phải thực hiện lễ đổi cổng cả hai ngôi nhà của tôi, tôi đều nhớ đến cánh cổng dinh Thày Thím.
CHÙA CỔ THẠCH
Như trên đã kể, đoàn của chúng tôi sau khi chữa chạy vết thương của vụ tai nạn ở Dinh Thày Thím đi tiếp về núi Tà Cú, ngay gần đó. Đường lên núi đã hoàn toàn bị chặn, bắt buộc phải đi cáp treo. Chúng tôi quyết định không lên Tà Cú nữa.
Đoàn chúng tôi tiếp tục đi đến cực bắc của tỉnh Bình Thuận nơi có chùa Cổ Thạch (hay Chùa Hang). Ở đây chúng tôi lại bị hỏng xe một cách vô lý mà chỗ đó người thợ sửa xe lại vừa uống ngủ say mất mấy tiếng không dạy. Hiểu rằng, tôi có việc phải ở lại đây lâu, nên mới xảy ra chuyện này, chúng tôi quay lại ban tổ của chùa khấn với thiền sư Bảo Tạng, tổ sư khai sơn của chùa.
Chùa Cổ Thạch được khai sơn bởi Thiền sư Bảo Tạng (còn gọi là Tổ Hải Bình – Bảo Tạng), thuộc đời thứ 40 Thiền phái Lâm Tế chi phái Liễu Quán. Ngài tên thật là Lê Chi, quê ở Tuy An, Phú Yên, sinh năm 1818. Ngài thọ giới quy y với Thiền sư Tánh Thông – Giác Ngộ tại chùa Bát Nhã (Phú Yên). Sau đó, Ngài từ núi Linh Sơn (Vĩnh Hảo) đến vùng Bình Thạnh, chọn một hang đá trên đồi núi để tu hành và dựng thảo am. Tương truyền, Tổ Bảo Tạng đã độ cho vợ chồng hương hào Hồ Công Điểm (nhà giàu có nhưng hiếm muộn) quy y và cầu tự. Sau khi vợ ông Điểm sinh được một trai, một gái, để báo ơn, ông bà đã xây dựng ngôi chùa khang trang trên nền thảo am cũ.
Tôi cho rằng việc tôi cần làm có thể liên quan đến thiền sư Bảo Tạng hoặc cần được thiền sư Bảo Tạng hỗ trợ. Kết quả đúng là như thế, chỉ có điều dù gặp được thiền sư Bảo Tạng tôi vẫn cực kỳ bế tắc.
Tuy nhiên tôi sẽ nhận ra có sự liên quan sâu sắc giữa chùa Phú Yên và chùa Bình Thuận. Tổ khai sơn chủa hang Tà Cú, cũng quê Phú Yên, hơn Thiền sư Bảo Tạng vài tuổi, và cũng đã từng qua Chùa Hang Cổ Thạch trước khi ẩn tu về Tà Cú. Có thể nói hai vị thiền sư khai sơn đắc đạo đều gốc Phú Yên này giữ hai ngồi chùa nổi tiếng bậc nhất trấn nam và trấn bắc cho Bình Thuận.
Phú Yên nổi tiếng với câu “Tu Phật Phú Yên, Tu Tiên Bảy Núi”.
– Chùa Bình Thuận liên quan đến Phú Yên, giữ chìa khoá nam bắc Chămpa, nam bắc Tây Nguyên và nam bắc Chân Lạp
– Dinh Thày Thím, người xứ Quảng/Chămpa liên quan đến Tu Tiên Bảy Núi, giữ chìa khoá văn minh Khmer, Mê Kông và Trường Sơn
TÀ NĂNG – PHAN DŨNG : CUNG ĐƯỜNG NỐI CAO NGUYÊN VỚI BIỂN
Tà Năng – Phan Dũng là con đường trekking đi bộ nổi tiếng bậc nhất của nước ta. Con đường này dẫn người đi bộ từ cao nguyên Lâm Đồng (xã Tà Năng) xuống biển Bình Thuận (Phan Dũng), qua ngã 3 của ba tỉnh Lâm Đồng – Ninh Thuận – Bình Thuận cũ. Đây là cung đường thuận lợi nhất để đi từ Tây Nguyên xuống biển.
Con đường này không phải do dân phượt khám phá, mà là con đường đi lại từ xưa của người đồng bào dân tộc Tây Nguyên ở núi muốn ra biển hoặc dành cho đồng bào Chăm ở biển muốn lên núi.
Cung đường trekking ngỡ chừng lãng man này đã từng xảy ra nhiều tai nạn ngoài ý muốn, đến mức người ta phải đưa ra nhiều quy định và hỗ trợ để đảm bảo an toàn cho những người thích trải nghiệm đi bộ vượt núi theo tuyến này. Sau khi bản thân trải nghiệm vụ tai nạn kỳ lạ ở Dinh Thày Thím, tôi đã phần nào hiểu được một số tai nạn trên cung đường Tà Năng – Phan Dũng.
Giữa Chămpa và Tây Nguyên còn một con đường liên thông nữa nối Gia Lai/Đak Lak với Bình Định/Phú Yên là con đường chạy từ Pleiku theo đèo Mang Yang – An Khê về Bình Định, hoặc dọc theo lưu vực sông Ba về Phú Yên, thậm chí có thể đi theo đèo Phượng Hoàng về Nha Trang.
– Đây chính là con đường mà người Chămpa dưới sự lãnh đạo của Chế Mân đã rút lên Tây Nguyên kháng chiến chống quân Nguyên Mông, theo trục đường này Chế Mân đã xây hai tháp Chăm là Yang Prong và Yang Mom.
– Đây cũng đường mà người Chămpa lên gặp vua nước, vua lửa và vua gió Tây Nguyên. – Có thể người xưa đã đi đường này thường xuyên bằng voi (phương tiện của vua nước vua lửa) và bằng ngựa tạo nên tên đèo ngựa trên núi ngựa, Chư Sê.
– Đây là con đường nối Nam Bàn (vương quốc người Thượng Tây Nguyên) và Hoa Anh (vương quốc Chămpa Phú Yên) sau khi Lê Thánh Tông sát nhập Vijaya vào Đại Việt, và lập nên 2 vương quốc Nam Bàn và Hoa Anh này.
– Đây là con đường nếu đi tiếp sang phía tây tạo nên nơi hợp của 3 phụ lưu lớn của Mê Kông chảy từ Tây Nguyên là Srepok, Sê San và Sê Kông
– Đây cũng là con đường chạy giữa Thuỷ Chân Lạp phía Nam và Thổ Chân Lạp phía Bắc, bộ tộc dừa Bắc Chămpa và bộ tộc cau nam Chămpa.
Vẫn còn con đường thứ ba nối Tây Nguyên và Chămpa, đi qua chân núi Ngọc Linh. Đây là con đường giao thông chính hiện nay để nối xứ Quảng với Tây Nguyên, ngoài ra còn có thể nối với đảo Lý Sơn, ra Hoàng Sa.
Hình dung Tây Nguyên có hình móng ngựa, dốc hai đầu (bắc Ngọc Linh – nam Đà Lạt) và võng ở giữa, móng ngựa này quay lòng về phía tây nơi có sông Mê Kông và được Chămpa bao bọc về phía Đông
– Cung đường Tà Năng – Phan Dũng liên quan đến nam Tây Nguyên, bộ tộc Cau nam Chăm, Thuỷ Chân Lạp của người Khmer
– Cung đường ở chân núi Ngọc Linh, liên quan đến Bắc Tây Nguyên, bộ tộc Dừa của người Chăm, Thổ Chân Lạp của người Khmer
– Cung đường trung Tây Nguyên
– – – Pleiku – Măng Yang – An Khê – Tây Sơn – Quy Nhơn : Vua lửa – Thổ Chân Lạp
– – – Pleiku – Ayun Pa – Đèo Chư Sê – Tuy Sơn – Phú Yên : Vua nước – Thuỷ Chân Lạp
– – – Măng đen/Mang Yang/Ayun – Đèo Phương Hoàng/Nha Trang : Vua gió – Bà Po Nagar
BÌNH THUẬN VÙNG ĐẤT BIÊN
Về địa hình, Bình Thuận được cho là thuộc Tây Nguyên. Bình Thuận thường được cho rằng là dải đất cuối cùng của Trường Sơn Nam, và 5 quả núi Tà nổi tiếng của Bình Thuận chính là 5 ngọn núi đứng trấn ở điểm tận cùng Trường Sơn này.
Về văn hoá và sắc tộc, Bình Thuận được cho là thuộc duyên hải miền Trung. Bình Thuận thuộc về vương quốc Chămpa cổ nằm ở miền Trung, bởi vì ở Bình Thuận có tháp Chăm, có nhiều người Chăm sinh sống. Hai địa điểm tâm linh nổi tiếng của Bình Thuận là dinh Thày Thím và chùa Tà Cú, đều được lập ra bởi các vị tu Tiên tu Phật đắc đạo gốc Phú Yên và Quảng Nam (đều là thuộc Chămpa xưa).
Tóm lại, dù thuộc Tây Nguyên núi hay Chămpa biển thì Bình Thuận vẫn thuộc Nam Trung Bộ.
Nhưng Bình Thuận có lúc được cho rằng thuộc về Đông Nam Bộ, cùng với Bà Rịa Vũng Tàu. Nhiều lĩnh vực quản lý kinh tế, quân sự của Bình Thuận được đưa về đầu mối Sài Gòn và Đông Nam Bộ.
Bình Thuận nằm trong bộ ba tỉnh “trấn biên”
– Bình Thuận
– Đồng Nai
– Vũng Tàu
Ba tỉnh này nằm trong bộ ba vùng
– Tây Nguyên (Đồng Nai)
– Duyên hải nam Trung Bộ – Chămpa (Bình Thuận)
– Nam Bộ – Khmer (Đông Nai)
Vai trò của bộ ba tỉnh trấn biên ở ngã ba này như sau
– Bình Thuận thuộc về Chămpa và các dân tộc Nam Đảo sống cả ở miền núi và đồng bằng như K’Ho, Raglai, mà có quan hệ mật thiết với người Chăm. Bình Thuận là cái biên của người Chăm, với Tây Nguyên và Nam Bộ. Bình Thuận là cửa ngõ ra biển của người dân tộc sống ở cao nguyên Lâm Viên và Di Linh, vì Bình Thuận là nơi có mạch núi từ vùng núi cao Tây Nguyên chạy thấp dần ra biển
– Đồng Nai là mảnh đất giữ biên Tây Nguyên/Chămpa, giáp với Đông Nam Bộ. Đó là lý do mà tên ngày xưa của Đồng Nai là Trấn Biên. Ở Đồng Nai có thánh địa Cát Tiên, vừa giống thánh địa Chămpa vừa không giống. Tỉnh Đồng Nai đặt theo tên của sông Đồng Nai. Đồng Nai là vùng đất pha trộn dòng máu của Khmer và Tây Nguyên.
– Vũng Tàu là mảnh đất pha trộn dòng máu Khmer và Chăm, và bây giờ người ta cho rằng Vũng Tàu là đất của người Kinh. Nhưng Vũng Tàu vẫn có dấu tích thành Chăm cổ và đương nhiên có cả di tích Khmer cổ. Vũng Tàu còn là cửa biển quan trọng của cả Khmer và Chămpa xưa và cũng là cửa ngõ ra biển của Tây Nguyên theo sông Đồng Nai.
Biên chính xác của cụm Tây Nguyên/Chiêm Thành (Nam Trung Bộ) với Đông Nam Bộ là sông Đồng Nai.
– Nguồn là sông Đa Nhim, chảy từ vùng núi cao Đà Lạt
– Sông Đông Nai xuống đến Cát Tiên gặp sông Bé, biên của Nam Bộ.
– Sông Đồng Nai đến Cát Lái gặp sông Sài Gòn, thành sông Xoài Rạp
– sông Xoài Rạp gặp Vàm Cỏ Đông là biên của 3 tỉnh miền Tinh, biên của Cửu Long.
– sông Xoài Rạp ra biển gặp biên của đới đứt gãy sông Hồng chạy thềm lục địa biển Đông đến biên của Trường Sơn gặp biên của thềm lục địa biển Nam Ấn
Ba vùng của nước Việt Nam hiện nay lại nằm trong bộ ba vùng sắc tộc của Đông Nam Á
– Tây Nguyên của người dân tộc thiểu số thuộc 2 nhóm ngôn ngữ là Môn Khmer (người Bahnar, M’Nông, K’ho ..) và người Nam Đảo núi (Êđê, Jrai, Raglai, Churu)
– Chiêm Thành của người Chăm (duyên hải Nam Trung Bộ)
– Vương quốc Chân Lạp của người Khmer (Đông Nam Bộ)
Bộ ba vùng này nằm trong bộ ba vùng
– Đông Nam Á biển gồm Chămpa, Hải Nam, Philippines, Indonesia, Malaysia, Brunei, Đông Timor, Singapore
– Đông Nam Á lục địa gồm Tây Nguyên, Lào, Campuchia, Thái Lan, Myanmar
– Phân tách & chồng chập giữa Đông Nam Á thuỷ/biển Đông và Đông Nam Á thổ/biển Ấn Độ : Phù Nam (gồm Campuchia, Nam Bộ, nam Thái Lan, nam Lào (đến Thakhet), nam Myanmar)
Chia sẻ:
Scroll to Top