![]()
NGÀY ĐỨC PHẬT CHUYỂN PHÁP LUÂN
Rằm tháng sáu là ngày Đức Phật chuyển pháp luân.
Sau khi đắc đạo, vào ngày đó Đức Phật đã tìm năm anh em Kiều Trần Như để giảng pháp cho họ về con đường người trung đạo mà ngài đã tìm ra sau kh rời bỏ con đường tu khổ hạnh, mà năm người này đang theo đuổi. Bài giảng đầu tiên này sau được gọi là Kinh chuyển pháp luân, còn năm anh em trở thành tăng đoàn đầu tiên.
A-nhã Kiều-trần-như là vị đệ tử xuất gia và chứng quả A-la-hán đầu tiên của đức Phật, là thành viên đầu tiên của Tăng đoàn, có hạnh cao nhất.
Căn cứ vào các kinh điển Phật giáo, Kiều-trần-như được xác định sống vào khoảng thế kỷ thứ 6 TrCN ở khu vực tương ứng với Uttar Pradesh và Bihar, Ấn Độ ngày nay. Ông xuất thân thuộc đẳng cấp Bà-la-môn. Một số tài liệu chép rằng, Kiều-trần-như vốn là anh ruột của thân mẫu tôn giả Phú-lâu-na, một trong mười vị đệ tử lớn của đức Phật.
Vào thời điểm vương tử Tất-đạt-đa Cồ-đàm đản sinh, ông hãy còn là một đạo sĩ Bà-la-môn trẻ tuổi nhưng cực kỳ thông tuệ, sống ở thành Ca-tỳ-la-vệ. Khi đó, vua Tịnh Phạn đã cho mời nhiều sa-môn học rộng tài cao, trong đó có cả Kiều-trần-như, vào triều dự lễ đặt tên cho thái tử. Tất cả các đạo sĩ Bà-la-môn sau khi quan sát tướng mạo đặc biệt của thái tử, đều cho rằng sau này thái tử hoặc sẽ trở thành một vị Chuyển luân vương (Cakravarti-raja). Chỉ riêng Kiều-trần-như quả quyết rằng, thái tử sẽ hoàn toàn thoát tục và trở thành một bậc giác ngộ (bodhi) vĩ đại. Tương truyền, cái tên Tất-đạt-đa của thái tử là do Kiều-trần-như và 4 đạo sĩ Bà-la-môn khác là Bạt-đề (Bhardrika – Bhaddiya), Bà-sư-ba (Vaspa – Vappa), Ma-ha-nam (Mahanama) và A-thuyết-thị (Asvajit – Assaji) đặt. Vì thế, do cơ duyên này, về sau, khi nghe tin vị tu sĩ trẻ Tất-đạt-đa, cũng chính là vị thái tử năm xưa, đang tu khổ hạnh rừng Khổ Hạnh (Tapovana), Kiều-trần-như cùng 4 đạo sĩ trên đã tìm đến để cùng tu tập.
Khi đức Cồ Đàm (Gautama – Gotama – tức thái tử Tất Đạt Đa) tìm đến đạo tràng của đạo sư Uất Đầu Lam Phất (Udraka Ramaputra – Uddaka Ramaputta), ở vùng phụ cận phía Nam kinh thành Vương Xá, của vương quốc Ma Kiệt Đà để xin học đạo, Ngài đã gặp sa môn Kiều Trần Như nơi đây. Hai vị sa môn dần dần kính mến nhau về thông minh tài trí và đức hạnh thanh cao, mà trở thành tri kỉ của nhau. Không những sa môn Kiều Trần Như đã coi sa môn Cồ Đàm là một người bạn tri kỉ, mà còn hơn nữa, là một bậc thầy.
Tất-đạt-đa quyết tâm tìm cách diệt khổ và tìm mọi đạo sư với các giáo pháp khác nhau. Theo truyền thống Ấn Độ bấy giờ chỉ có con đường khổ hạnh mới đưa đến đạt đạo. Sau một thời gian dài tu khổ hạnh một cách triệt để, cả sáu người đều kiệt sức, mà trí tuệ vẫn không phát triển thêm, trái lại còn mòn mỏi đi. Một hôm Cồ Đàm ngất xỉu giữa chừng, và gặp 1 cô gái, thấy Cồ Đàm, đang nằm giữa đường, đành đem chén sữa lại cho uống, và cô gái đó nói rằng: nếu như ngài cứ tiếp tục ép xác như vậy thì sẽ không làm được đâu, vì cả 1 thần linh còn phải ăn để sống, lúc đó ngài bèn suy nghĩ lại. Hưởng thụ dục lạc là một cực đoan, mà hành hạ thể xác cũng là một cực đoan; cả hai đều sai lầm, đều không giúp ích được gì cho sự phát triển trí tuệ. Ngài bèn quyết định từ bỏ phép tu khổ hạnh triệt để như bấy lâu nay, trở lại ăn uống bình thường để phục hồi sức khỏe, và bắt đầu theo đuổi con đường thiền tập – mà Ngài xét thấy, đó mới là con đường chính đáng nhất đưa đến đạo quả giác ngộ.
Sa môn Kiều Trần Như thấy đức Cồ Đàm ăn uống bình thường trở lại, bỏ việc tu khổ hạnh và chỉ chuyên tu thiền định nên thất vọng bỏ đi cùng với 4 người bạn đạo sĩ thân thiết của mình. Họ đi sang vườn Nai (Lộc Uyển, Mrgadava – Migadava), gần thành Ba La Nại (Varanasi – Baranasi), nước Ca Thi (Kasi) (thuộc Ấn Độ ngày nay), để cùng tu học với nhau.
Nửa năm sau, bỗng một hôm Sa môn Kiều Trần Như và 4 anh em còn lại trông thấy đức Cồ Đàm (lúc này đã đạt đạo) tìm đến với họ tại vườn Nai. Khi thấy bóng dáng Ngài còn đang thấp thoáng ở ngoài xa, họ đã bảo nhau là sẽ không ra đón tiếp, nhưng khi Phật đến nơi thì tất cả bọn họ đều vui mừng nghênh đón.
Đức Phật lần lượt giảng cho năm anh em tôn giả Kiều Trần Như ba bài kinh pháp đầu tiên:
– Bài kinh đầu tiên mà đức Phật đã giảng cho họ là bài kinh về con đường tu tập Trung đạo (trung – nghĩa là ở giữa – tức là con đường tu tập tránh những cực đoan, khổ hạnh tuyệt đối trong cách tu học những cũng tránh buông thả theo dục lạc thế gian). Vì trước đây năm anh em tôn giả Kiều Trần Như đã chấp vào việc tu tập khổ hạnh.
– Bài kinh thứ hai mà đức Thế Tôn giảng cho họ là bài kinh Tứ diệu đế. Bấy giờ, cả năm vị sa môn nhóm Kiều Trần Như đều tôn đức Cồ Đàm làm Thầy, gọi Ngài là Phật, và gọi giáo pháp do Ngài chỉ dạy là Đạo Phật. Họ từ bỏ lối tu khổ hạnh cũ, cùng tinh cần tu tập theo sự hướng dẫn của Phật. Sau khi nghe đức Phật giảng bài kinh Tứ diệu đế, tôn giả Kiều Trần Như chứng đắc quả vị Tu Đà Hoàn đầu tiên, rồi lần lượt bốn vị còn lại cũng chứng đắc quả vị Thánh này.
– Bài kinh thứ ba mà đức Phật giảng là bài kinh Vô Ngã Tướng (trạng thái vô ngã). Chỉ trong một thời gian ngắn sau đó, nhờ quyết tâm và tinh chuyên tu học, cả năm vị, đầu tiên là tôn giả Kiều Trần Như, rồi tiếp đến là bốn vị kia, lần lượt đều chứng thánh quả A la hán.
QUY Y TĂNG : BƯỚC CHUYỂN TỪ TIỀU THỪA SANG ĐẠI THỪA
Cách đây hơn mười hai năm tôi tham gia khóa thiền Vipassana mười ngày. Khi bắt đầu khoá thiền sinh được yêu cầu quy y Phật, Pháp, Tăng. Mặc dù được giảng giải về bản chất của quy y nhưng tôi không sao chấp nhận được việc quy y Tăng. Với tôi quy y Pháp là đương nhiên vì Pháp là chân lý, quy y Phật cũng là đương nhiên vì Phật chính là chân ngã tối cao, còn Tăng là cái gì và vì sao phải quy y Tăng.
Lúc đó tôi suy nghĩ là mình đã không chịu tìm hiểu kỹ về quy định này của khoá thiền, giờ đã vào trong khoá thiền rồi, đi ra không được, nên đành phải chấp nhận quy y cho xong cái khoá này đã, nhưng mà thực tâm của tôi là tôi không chấp nhận quy y tăng. Tôi tự nhận thấy tôi không ở trong tăng đoàn nào cả, tôi cũng không hề có bất kỳ ý định vào tăng đoàn, mọi sự liên hệ với tăng đoàn của tôi chỉ là các sự kiện tình huống ngắn hạn ví dụ như trong khoá thiền ngắn hạn này, nên đương nhiên là tôi không đồng ý quy y Tăng. Thành ra, trong sự kiện quy y tam bảo này thì tôi chỉ quy y nhị bảo thôi. Quy y nhị bảo là hình thức quy y dành cho hàng cư sĩ tại gia như tôi, không dành cho người xuất gia đã tham gia tăng đoàn.
Hiện tại tôi phải mở một lớp học cho học sinh mới, có tên là Nội tĩnh công, kết hợp tư thế, thiền quán thân và quán tâm. Sau khi kiểm tra tình hình lớp học sau buổi đầu tiên, tôi cảm giác tôi không đủ sức trùm nặng lượng lên đỡ cả lớp học và từng người trong lớp học như trước nữa. Việc này tôi đã biết trước khi mở lớp, chỉ là khi nó thực sự xảy ra, tôi cảm giác tình hình là khá tệ hại. Một số học sinh trình độ quán tâm đầu tiên đã không trụ nổi. Sợ rằng, nếu không có giải pháp gì, học sinh khó mà làm nổi các mức độ quán tâm tiếp theo. Tôi rất nản, tôi muốn bỏ cái lớp học này lắm nhưng cảm giác không thể, mà làm tiếp thì chắc chắn phải bổ sung, phải thay đổi một cái gì so với các lớp học tôi vẫn dạy trước đây.
Trước kia học sinh thiền trước hết tự lo bài thiền của mình, sau đó mới nương theo theo nhóm, nương theo đi theo lớp, chỉ cần tôi cô giáo trụ lớp là đủ vững, bởi vì lớp học của tôi là hệ tiểu thừa. Bây giờ lớp học đã chuyển sang hệ đại thừa, liên kết nhau theo nhóm. Lúc này tôi nhận ra một nhóm người đi trên đường đạo Phật thực sự như những học sinh trong lớp học của tôi thực chất là một nhóm Tăng, nên họ phải ở trong trường Phật, trường Pháp, và trường Tăng, nói cách khác là họ quy y Tam bảo, trong khi tôi đang quy y Nhị bảo, là quy y Phật và quy y Pháp, không quy y Tăng.
Lớp học của tôi dạy thiền Vipassana của đạo Phật nhưng lại thiếu mất trường Tăng. Điều này làm cho các học sinh một khi bị mất nội thế thân và nội thế tâm, nhảy sang ngoại thế, thì không chỉ không thiền được, mà sẽ bị văng luôn ra khỏi lớp ngay. Với người chưa từng hành thiền, việc mất Pháp lúc này hay lúc khác là đương nhiên với trình độ của tất cả mọi người bao gồm giáo viên, mà một khi vô Pháp là vô Phật luôn. Mất cả Phật và Pháp, và thế là thiền sinh không thể nào mà trụ nổi trong thiền, nhưng nếu có trường Tăng thì họ sẽ văng ra trường Tăng này, ở lại được trong lớp để đủ thời gian khôi phục được Pháp, và thiền tiếp được. Nhưng lớp của tôi đang không có trường Tăng này, nên là học sinh mất Pháp nặng không tự khôi phục được Pháp, thì không chỉ văng ra khỏi thiền, văng ra khỏi buổi học, mà thậm chí văng luôn ra khỏi lớp học.
Phật vẫn luôn hiện diện ở mọi nơi chốn nhưng không thể đỡ được các trường hợp vô pháp, bởi vì một khi đã vô Pháp thì chắc chắn cũng vô Phật. Xin lấy vài ví dụ về vô Pháp thì sẽ vô Phật
– Mê tín dị đoan là vô Pháp. Phật sẽ không đỡ cũng chẳng phạt các chùa mê tín di đoan, cùng các sư vô pháp, Phật vẫn luôn là Phật, mà luật nhân quả tự nó sẽ vận hành.
– Sùng bái chính là vô pháp. Một người sùng bái đức Phật, coi đức Phật là trung tâm, là đỉnh cao của con đường tu của họ sẽ chuyển tâm về đức Phật, mất nội thế, mất nội tâm và mất toàn bộ năng lực tự quan sát, là năng lực cơ bản của thiền. Sùng bái đức Phật mãi nhưng lại không thiền được, đức Phật thì xa vời, nên cuối cùng người sùng bái sẽ tìm đến những đối tượng khác. Người sùng bái nghĩ rằng họ sùng bái đức Phật và người xứng đáng mẽ hướng dẫn đường tu cho họ. Họ không nhận thức được rằng sùng bái là trạng thái có sẵn bên trong họ, mà sớm muộn cũng phải được thoả mãn bằng một đối tượng bên ngoài. Đức Phật chẳng làm gì cả, đức Phật vẫn ở đó, nhưng người sùng bái đức Phật sẽ luôn ở trạng thái vô Phật, và lúc này luật nhân quả sẽ vận hành.
– Qúa quan tâm, lo lắng, quá căm hận, tức giận người khác, đều là hướng ngoại. Lo lắng hay yêu thương thái quá một ai đó đều tạo ra môt thế năng với đối tượng, ngoại thế năng nếu liên tục xuất hiện, chạy từ đối tượng này sang đối tương khác sẽ gây phân tâm loạn tâm và làm cho một người đánh mất chính mình. Lúc này người ấy rơi vào vô pháp và mật nội thế, là hai thứ tạo ra năng lực trụ tâm và năng lực tự quan sát nội tâm của một người. Người này không còn quan sát được gì, mà chỉ còn chạy theo xúc cảm của mình mà thôi.
Với những người sa cơ, Tăng đại diện cho cả Phật và Pháp, mất Tăng là mất tất cả.
Tóm lại là lớp học của tôi có 2 trường là Pháp và Phật, đó cũng là hai trường tôi đã quy y, nhưng không có trường Tăng.
NỘI THẾ TIỂU THỪA
Tăng chính là trường phân biệt giữa quy y Đại thừa và quy y Tiểu thừa. Nếu tôi không thể xây dựng lại được trường Tăng này, tương đương với việc phải đóng lớp học lại hoặc chỉ có thể tiếp tục dạy theo cách cũ, tiểu thừa.
Sau mười hai năm dạy thiền tôi vẫn chưa thề quy y Tăng. Đứng trước tình huống hôm nay của lớp học, tôi vẫn thật sự không cam lòng nếu phải quy y Tăng, tôi vẫn muốn đi một mình, hướng về Phật, hướng về Pháp là đủ rồi.
Một người đi trên con đường tiểu thừa chỉ cần quy y Phật và quy y pháp. Họ sống theo pháp và hướng thẳng về đức Phật. Họ không cần và không muốn liên quan dính dáng đến bất kỳ tăng đoàn nào cả. Điều này là cực kỳ cần thiết đối với tiểu thừa, mà đòi hỏi nội thế phải cực kỳ vững vàng.
Tinh thần tiểu thừa thể hiện ở cái bi trí dũng của một cá nhân, tự chịu trách nhiệm, tự thề nguyền với chinh mình, tự đi trên con đường đạo, tự giữ lấy Pháp, tự hướng về đức Phật.
“Thiên thượng thiên hạ, duy ngã độc tôn” – câu nói của Đức Phật sau khi sinh ra
“Đời đục một mình ta trong, đời say một mình ta tỉnh” – câu nói của Khuất Nguyên
Cho nên những người đang tự thiền, đang muốn tập trung vào nội thế cá nhân ít nhiều đều không ưa tất cả các tình trạng đám đông, trong đó có tăng đoàn, mà ngoại thế là cực kỳ nặng nề.
Trong tôi xảy ra đấu tranh nội tâm dữ dội : tôi vừa không muốn quy y tăng, vừa không thể không bước vào con đường đại thừa.
NỘI THẾ & NGOẠI THẾ
Đứng từ địa vị của người dạy thiền, tôi cho rằng vấn đề trọng tâm của lớp thiền là làm sao giữ được thiền sinh trong nội thế, nghĩa là trong trạng thái quan sát thân tâm của mình ngay cả khi cảm xúc bị kích động mạnh, lý trí cứng nhắc vụn văt hoặc mù mờ và ý chí chán nản hoặc gào thét.
Hình dung trường thiền của học sinh là cái chuông úp, làm thế nào để học sinh ngồi yên trong cái chuông đó để quan sát thân tâm mình thì chừng đó học sinh còn thiền được. Ở trong chuông là còn nội thế, còn pháp, ra khỏi chuông là thành ngoại thế, là vô pháp.
Tôi quan sát những cái chuông nhỏ xinh của học sinh, chập chờn rồi vỡ vụn, tôi quan sát trường hợp nặng nhất chẳng có cái chuông nào cả, tôi suy nghĩ và đấu tranh nội tâm.
Ngày mai nếu những cái chuông bé xíu này gặp một thử thách thân tâm mà đương nhiên là mục đích của lớp học, nó vỡ tan ra là học sinh văng ra khỏi lớp luôn, cũng văng luôn ra cái chuông của tôi, mà chỉ đỡ ở một thế âm nền vòng ngoài khá xa học sinh.
Tình hình thực ra còn nặng nề hơn nhiều với các học sinh bước ra đời không hề có cái chuông ấy, vào trong lớp cũng chẳng hề có cái chuông ấy, nghĩa là chẳng bao giờ có nội thế thân tâm, mất thân và dần dần mất tâm.
– THIỀN QUÁN THÂN & NGOẠI THẾ THÂN
Quán thân là quan sát thân thể, bên trong và bên ngoài, quan sát cấu trúc, quan sát nhịp điệu như nhịp tim và nhịp thở.
Một người chỉ quan sát được thân, khi người này có thân, trụ thân, ở trong thân, cảm nhận được thân, điều khiển được thân.
Nguy hiểm nhất với thiền quán thân chính là mất thân. Điều này gần như là đương nhiên, là hiển nhiên.
Vấn đề là người mất thân không có năng lực nhận ra người ấy mất thân, vì những cảm giác chân thật của thân, như tim đập, chân run, hồi hộp lồng ngực… Bản năng và trực giác đến từ thân của họ gần như không có, các sự đồng cảm liên quan đến thân cũng gần như rất nông cạn. Sự đồng cảm và ý chí hành động của họ nếu có đến từ suy luân logic và cái mắt họ thấy tai họ nghe, mà cực kỳ dễ bị suy diễn sai lệch so với thân.
Ví dụ : 1 người mất màu cơ bản không thể biết được tình trạng của mình, cho dù có được người ngoài giải thích đến đâu, vì mất màu là một nội thế thân. Nếu 1 người không phân biệt được sắc tím hồng và tím xanh, nếu như 1 người khác phát hiện ra điều này bảo họ, thì họ có tin cũng như không, có hiểu cũng chỉ là lý thuyết, vì với họ rõ ràng hai màu này y chang nhau. Như vậy bất kỳ cái gì trong cuộc đời này và trong vũ trụ này mà rơi vào 2 gam màu này trong con người họ, ở xung quanh họ, bao gồm các trạng thái tế bào, xúc cảm, lý trí, ý chí đều không chính xác.
Muôn vàn vấn đề nghiêm trọng tương tự như mù màu xảy ra với các trạng thái mất thân khác.
Đây là thời kỳ sức khoẻ ai cũng rất tồi, tất cả chúng ta đều mất thân nặng hay nhẹ, chỉ là với một số người tình trạng này là cực nặng, chắc chắn sẽ có biến. Một điều quan trọng với người mất thân là phải quay về thân, ở trong thân, trụ với thân, chịu trách nhiệm về thân, tự chăm sóc bản thân, tự thân hành động, nghĩa là không được ngoại thế thân, có nghĩa là chuyển các vấn đề của bản thân họ ra bên ngoài, ra người khác, ra xã hội, ra môi trường.
Cấp độ nguy hiểm thứ hai với thiền quán thân là ngoại thế thân.
Một người bị bệnh có thể đi bác sỹ khám bệnh, rồi uống thuốc, hay mổ xẻ theo chuẩn đoán của bác sỹ, nhưng không có nghĩa là họ đổ tội cho bác sỹ về các vấn đề thân thể của mình hay kỳ vọng thái quá vào bác sỹ giải quyết vấn đề thân thể cho mình. Một hành vi như vậy là ngoại thế thân, vì bác sỹ là đối tượng ngoài thân.
Một người mất thân bắt người khác giải thích và giải quyết vấn đề thân cho mình, thì không khác gì bắt người không mù màu phải chứng minh và giải quyết vấn đề cho người mù màu. Đây là lỗi ngoại thế thân. Chứng minh mù màu thôi cố cũng được, nhưng chứng minh điếc âm chẳng hạn là gần như vô phương. Giải quyết mất thân như giải quyết mù màu là vô nghĩa vì thân ai người nấy biết, thân ai người nấy lo, không ai sống thay cho thân ai được.
Các duy nhất để khôi phục năng lực thiền quán thân là quay về nội thế thân, nghĩa là phải trụ thân, dùng thân, có thêm trải nghiệm sâu sắc về thân, nhưng một người mất thân có những kỳ vọng, cảm xúc, lý lẽ, ý chí sai lầm cho các vấn đề thân thể.
Thiền quán thân không khó, chừng nào một người hướng cảm nhận, cảm xúc, lý trí, ý chí của mình về thân thể, thì người đó sẽ thiên quán thân được ngay.
Bài toán chỉ là cấp độ thiền quán thân sâu sắc đến thế nào thôi để sự quan sát còn giữ được khi thân thể bi đau ốm, khi tâm trạng bị kích động hoặc chán nản.
Ngay khi tình trạng ngoại thế thân xảy ra cho các vấn đề nội thế thân, một người đương nhiên không có năng lực thiền quán thân nữa. Để khôi phục năng lực này rất đơn giản, quay lại với nội thế thân, tự chịu trách nhiệm với thân thể của chính mình, làm gì cũng được, miễn là tự thân hành động, tự thân cảm nhận, tự thân suy nghĩ, không hướng sang thân khác, hướng sang người khác.
Một người mất thân càng nặng, ngoại thế thân càng nặng, thì con đường quay về của họ càng khó khăn.
Tôi nhớ hai ca bệnh ung thư, mà đều đã mất. Một người căm thù thượng đế. Một người suốt ngày ám ảnh về chồng. Tình trạng ngoại thế thân nặng đến mức như vậy cho đến phút cuối cùng – cái chết. Ừ thì ai cũng chết, nhưng có người chết tan xác trên chiến trường nhưng mà họ lại vẫn an thân, có người đến chết nằm trên giường bệnh mà vẫn đánh mất cái thân mình.
– THIỀN QUÁN TÂM & NGOẠI THẾ TÂM
Quán tâm là quan sát trạng thái tâm, và nhân ra cái tâm ấy đang điều khiển hành vi, xúc cảm, suy nghĩ, thân thể của mình như thế nào và đến mức nào.
Một người chỉ quán tâm được khi người này có tâm, nói cách khác là người này nội thế tâm.
Một người không thiền quán tâm được khi người này không có tâm, nói cách khác là người này ngoại thế tâm.
Ví dụ như trong lớp học của tôi, khi một người còn ở trong chuông thì người ấy sẽ là tâm, và cái chuông là biên. Ở trong tâm cũng là ở trong tấm lòng, ở trong lòng chuông. Chừng nào người này còn ở trong chuông, thì người này còn quan sát được tiếng lòng mình, còn quan sát những trường xúc cảm, suy nghĩ, âm thanh, ánh sáng từ ngoài dội vào cái chuông này. Chừng nào người này còn ở trong cái chuông, thì người này còn có sự phân biệt trong ngoài và còn có sự lựa chọn với các tác động bên ngoài.
Lỗi đầu tiên của người thiền quán tâm là mất tâm và phá biên.
Ví dụ về tâm : Thông thường khi một người có một đối tượng quan sát cụ thể, tâm quan sát của họ tốt hơn, thay vì trôi vẩn vở rồi đậu vào một kích thích vẩn vơ nào đó. Quan sát tâm không dễ, tâm dễ quan sát các kích động lớn như căm ghét, chán nản … Ví dụ một người ngồi trong phòng bị muỗi cắn, dễ quán sát tâm khó chịu, bực bội, tâm ham muốn phá tư thế để đi đập muỗi của mình hơn là ngồi trong phòng ấm nệm êm.
Ví dụ về thân : thấy cái gì bên ngoài là lôi vào trong tâm mình, lúc thì lo cho mẹ, lúc thì nghĩ cho con, lúc thì mang cái gì từ Trái đất vào người, và một khi đã lôi vào trong biên của mình thì không phân biệt minh và người khác nữa. Đây là tình trạng bao đồng, muốn lo cho người khác, muốn nhận lỗi của người khác về mình, muốn sống đời người khác. Lỗi này nếu hoc sinh còn giữ được sự quan sát thì vẫn chấp nhận hoặc tự nhận ra được, chỉ có điều là khó sửa ngay, nếu đã quá lâu tự mình dung túng cho mình, đến mức thành quán tính.
Lỗi thứ hai nặng hơn là ngoại thế tâm. Ngoại thế tâm xảy ra khi một người tìm kiếm nguyên nhân, thủ phạm, cứu cánh, thần tượng, đám đông, môi trường bên ngoài, tìm cách dựa vào người khác hoặc đổ lỗi cho người khác cho các trạng thái tâm bên trong của mình.
Xã hội hiện này được vận hành theo kiểu là có bất kỳ vấn đề gì bên trong là có sẵn một địa chỉ, một đối tượng bên ngoài để chạy ra đó tìm kiếm, giải quyết. Ngoại thế tâm và ngoại thế thân, một xu thế của cả xã hội một khi vào thiền lại phá hỏng toàn bộ trạng thái thiền. Ngoại thế tâm vô cùng dễ quan sát ở ngoài đời và cực kỳ khó phát hiện đã vào thiền, vì khi nó xảy ra rồi thì tâm còn ở trong thiền được nữa đâu mà quan sát.
Cho nên hãy lấy ví dụ về ngoại thế tâm ngoài đời sẽ dẫn đến ngoại thế tâm trong lớp học thế nào
– “Tôi lấy anh là để hạnh phúc, nhưng tôi lại cô đơn, bất hạnh, nên anh phải chịu trách nhiệm cho những đau khổ của tôi.” Khi chồng ngoại tình, một người vợ đau khổ có thể ly hôn, nhưng cô ấy vẫn nên thừa nhận rằng đau khổ là ở trong tâm của cô ấy chứ không ở trong tâm ông chồng, ly hôn ông chồng bên ngoài và giải quyết đau khổ trong tâm không đồng nghĩa với nhau. Ly hôn và ở lại với hôn nhân đều có thể gây ra đau khổ hơn. Nếu một người vào thiền, và nhận ra mình vẫn còn đâu khổ vì việc chồng phản bội mình thì cứ chấp nhân quan sát cái đau khổ ấy, chứ đừng quay sang tự hỏi thằng chồng cũ của mình dạo này đã lấy con nào chưa, thằng mất dạy ấy lấy ai cũng phản bội thôi, mình nhất định phải lấy thằng chồng tốt gấp ba để trả mối thù này … Nếu chính mình không thừa nhận mình đau khổ ai sẽ thừa nhận cho mình, chồng mình người gây ra đau khổ cho mình ư ? Nếu mình không thừa nhận mình đau khổ, mình có thừa nhân người thân của mình đau khổ không ?
– “Mỗi lần về nhà là tôi cảm thấy bức bối, khó chịu, tất cả là do cha mẹ. Thất bại trong cuộc đời tôi, thất bại trong công việc, thất bại trong hôn nhân, tình trang sức khoẻ và tâm lý tồi tệ của tôi đều là do cha mẹ.” Ngoại thế tâm kinh khủng nhất xảy ra với các trường hợp dùng bạo lực gia đình và bạo lực xã hội để trút giận. “Vì tôi là nạn nhan của người khác, nên tôi cho tôi cái quyền biến người khác thành nạn nhân của tôi”.
– “Đau khổ trong cuộc đời tôi là do chính phủ, do chế độ xã hội, tôi cần vạch rõ cái xấu xa của chính phủ cho tất cả cùng thấy, tôi không lật đổ được chế độ này thì tôi cũng phải sang chế độ xã hội khác để sống.”
– Sức khoẻ không đến từ bên trong mà đến từ bác sỹ, hệ thống y tế, và bệnh tật cũng không đến từ bên trong mà đến từ ô nhiễm môi trường, và từ độc hại thực phẩm. Cho nên có vấn đề sức khoẻ là chạy đi tìm bác sỹ, đổ lỗi cho điều kiện sống
– Mua sắm bao gồm hàng hoá và dịch vụ là cách đi ra bên ngoài để thoả mãn những cái bên trong. Khách hàng được tâng bốc rằng họ là Thượng đế, nghĩa là họ có thể đòi hỏi bất kỳ cái gì từ người bán. Người bán hàng thực ra lại coi khách hàng là con mồi, họ kỳ vọng lấy từ khách hàng cái họ thiếu, mà đầu tiên là tiền. Bản chất của thương mại là trao đổi ngang giá mất đi, chỉ còn là trò chơi ngoại thế.
– “Đi du lịch là để thoát khỏi công việc thường xuyên, khỏi nơi ở thường xuyên, hy vọng qua đó để thoát khỏi tâm trạng chán ghét công việc hay nhàm chán với những thứ thường xuyên phải gặp”.
– “Đến với các khoá học, các tổ chức, các giáo phái … để được truyền lửa, để nhận tình yêu thương, để nhận được kiến thức”. Tóm lại càng đắm chìm trong các dạng lớp học, càng bị lạm vào các dạng ngoại thế, từ đơn giản đến tinh vi như minh sư, chân sư, Phật Chúa, trái đất, vũ trụ …
– “Trẻ em là trung tâm của gia đình”, thế là cha mẹ ông bà đều dồn sự quan tâm vào trẻ em, yêu thương trẻ em, chăm sóc trẻ em. Con hư là tại mẹ. Con khổ là tại cha. Trẻ em làm tâm của chính mình còn chưa nổi, chả có tư cách nào về thân thể, về tâm lý, về tinh thần, về vật chất để trụ nổi cái tâm cho gia đình. Gia đình cơ bản là trạng thái đa tâm, trong đó trẻ em chưa dứt căn, chỉ phụ thuộc vào cha mẹ không tạo nên một cái tâm đúng nghĩa. Khi mỗi thành viên trong gia đình, đặc biệt là các thành viên trụ cột của gia đình lại coi trẻ em là trung tâm của gia đình, họ đang chơi trò ngoại thế tâm, mà sớm muộn cũng dẫn đến sự phá vỡ gia đình từ bên trong nó. Những đứa trẻ trung tâm lớn lên sẽ rất dễ bắt người khác phải chịu trách nhiệm cho chính mình và đổ tội cho người khác cho các vấn đề của mình.
– “Học sinh là trung tâm của lớp học. Không có học nào không dạy được, chỉ là giáo viên chưa đủ trình độ và cách dạy chưa đúng”. Học sinh tự học là trung tâm của giáo dục chính mình. Lớp học thiền cơ bản là lớp tự học, mỗi người tự giáo dục lấy chính mình, rồi tự ngộ. Cô giáo thiền mà lại lấy học sinh làm trung tâm thì cô giáo ngoại thế tâm, chả quan sát được chính mình chứ đừng nói quan sát học sinh. Học sinh thiền mà lại lấy cô giáo làm trung tâm thì cũng lại mất tâm, chẳng còn thiền được nữa. Nếu không ỷ lại được vào cô giáo thì cũng sẽ chơi trò nạn nhân thủ phạm với cô giáo. Cô giáo không vững cũng lai chơi trò nạn nhân thủ phạm với học sinh, cảm thấy bị bất công với học sinh hoặc cảm thấy cần phải có trách nhiệm cá nhân với thành công hay thất bại của học sinh.
– THIỀN QUÁN PHÁP & VÔ PHÁP
Thiền quán pháp là ở trong pháp, quan sát được pháp và khi rơi vào tình trạng vô pháp thì tự nhận ra là vô pháp và quay trở về với pháp.
Quá trình này diễn ra liên tục, cho đến khi đạt được trạng thái Phật, là cấp mà liên tục ở trạng thái quan sát.
Đây là cấp thiền cao nhất.
Có thể coi thiền quán thân là thiền phải giữ pháp thân, giữ thế thân, mà đầu tiên là nội thế thân; thiền quán tâm là thiền phải giữ pháp tâm, giữ thế tâm, mà đầu tiên là nội thế tâm.
Tất cả các trạng thái ngoại thế thân, tâm đều là vô pháp, là phạm pháp, theo nghĩa cụ thể của từng pháp mà người thiền vi phạm (không theo nghĩa pháp luật hiện đại).
TĂNG ĐOÀN : CON ĐƯỜNG NỘI THẾ THÂN TÂM
Cốt lõi của tăng đoàn chính là những người đã đi được đến quả vị trên con đường tiểu thừa. Những người tu tiểu thừa tự chịu trách nhiệm hoàn toàn với con đường tu đạo của mình. Đó là lý do những người chỉ đang tập trung vào việc tu tập của các nhân chỉ quy y Phật và Pháp mà không cần quy y Tăng.
Tăng đoàn là những người đã vững vàng trên con đường quy y Phật và quy y Pháp, liên kết với nhau. Tăng đoàn là một trang thái ngoại thế, liên kết với nhau, ràng buộc lẫn nhau, thúc đẩy lẫn nhau, kiểm soát chéo nhau, nương tựa vào nhau, giúp đỡ lẫn nhau, khi nội thế của từng người trong tăng đoàn đã đạt ngưỡng.
Nếu tăng đoàn chỉ dùng ngoại thế thì một đám đông hay một gia đình cũng làm được việc này, không cần có tăng đoàn. Cơ bản một đám đông từ hai người trở lên đều tạo ra tình trạng ngoại thế.
Một đám tà thuật còn làm việc này tốt hơn nữa. Bản chất của tà thuật là ngoại thế các vấn đề có bản chất nội thế. Khi một người coi ngoại thế lẽ sống, hướng mọi thứ ra bên ngoài thì họ chắc chắn sẽ bị thu hút bởi tà thuật, để đạt được cái mà họ muốn. Tà thuật không phải là cái gì phức tạp, tà thuật chỉ là dùng cái không bản chất phá đi cái bản chất.
Một cách tự nhiên, người đi đường tiểu thừa đích thực thường tránh xa đám đông, tránh xa ngoại thế, và cũng không cần có liên hệ nào với tăng đoàn luôn. Tránh xa đám đông với danh nghĩa tụ tập, tránh xa ngoại thế là cách tránh xa tà thuật nhanh nhất và đơn giản nhất với người tu tiểu thừa.
Có thể nói rằng đạo nào cũng có tăng đoàn. Tăng đoàn của đạo Phật là một mạng lưới của những người tu tiểu thừa đạt quả vị theo con đường của đạo Phật. Đắc quả vị là một trạng thái thân tâm mắt thường không nhìn được. Tăng đoàn có thể nói là một trường hoàn toàn thuộc về huyền môn, mà chỉ có người ở trong tăng đoàn mới nhận thức được mà thôi.
Tăng đoàn hoạt động dựa trên ngoại thế nhưng bản chất của tăng đoàn lại là những vị tu tiểu thừa đắc quả vị nghĩa là đi trên con đường nội thế.
Con đường đại thừa của những người đã tu qua tiểu thừa chính là con đường trung đạo. Khi một người tu tiểu thừa bước sang đại thừa là họ đã đi trên con đường trung đạo rồi.
ĐẠI THỪA : CON ĐƯỜNG NGOẠI THẾ TĂNG ĐOÀN
Sự khác biệt giữa quy y Tiểu thừa và quy y Đại thừa chính là quy y Tăng.
Sự khác biệt giữ quy y nhị bảo của cư sỹ và quy y tam bảo của người xuất gia cũng vẫn là quy y Tăng.
Thực tế có nhiều dạng quy y Tăng
– Quy y Tăng của người không có năng lực Phật và Pháp. Đây thường là người mới bắt đầu trên con đường đạo, vì thế đạo của họ quá yếu nên họ phải dựa vào Tăng, chứ không thể dựa được vào Pháp và Phật. Mặc dù họ quy y Tam bảo thật nhưng không có năng lực quy Phật và Pháp, là hai thứ vô hình, mà chỉ có mỗi năng lực quy y Tăng. Với họ, Tăng đại diện cho cả Phật và Pháp luôn và nếu không có Tăng, thì con đường đến với Phật và Pháp cũng mất luôn.
– Quy y Tăng của người mới bắt đầu trên con đường đạo, nhưng lại có ngay thực lực nhận thức và thuận theo Phật và Pháp, thực chất họ không quy y tăng nhưng lại có ứng xử chuẩn mực của một người trong tăng đoàn, nên họ vẫn sẽ nhận được hỗ trợ của tăng đoàn ở cấp độ cá nhân, đặc biệt dựa trên các tiền kiếp mà họ là thành viên, thậm chí là lãnh đạo Tăng đoàn sẵn rồi
– Quy y Tăng của người đã đắc quả vị tiểu thừa thực chất là người đã ở sẵn trong Tăng đoàn rồi, nhưng họ cần bước sang cấp tu đại thừa, họ cần đi xa hơn trên con đường trung đạo
Những người quy y được Phật và Pháp là quy y bản chất, những người này nếu cứ tiếp tục tu đạo, tiếp tục hành thiền, chắc chắn sẽ gặp Tăng.
Nhưng người không quy y được Phật và Pháp, chỉ quy y Tăng sẽ gặp chuyện gì ? Câu hỏi này lại phụ thuộc vào Tăng mà họ dựa vào là ai và nhận thức về Tăng của họ như thế nào. Nếu tăng đoàn mà họ dựa vào là tăng đoàn vật lý, tăng đoàn hiện hữu, tăng đoàn trong hình thức ni và sư, thì câu hỏi là những người cụ thể mà họ dựa vào có Phật và có Pháp không. Những người quy y hoàn toàn có thể không nhận được hoặc nhận được hỗ trợ của tăng đoàn đích thực, nghĩa là quy y thì cứ quy y nhưng lại không hề có cả Phật, Pháp và Tăng, vì Tăng mà họ dựa vào là Tăng dởm, Tăng chơi đám đông nhưng chẳng có Phật hay Pháp.
Những người quy y Tăng, con đường dựa vào ngoại thế, sớm muộn cũng phải quy y Pháp, con đường nội thế tự dựa vào bản thân và quy y Phật, con đường trung đạo, và có một thời hạn cho việc này. Nếu trong thời hạn này họ không thực hiện được chuyển hoá cần thiết về nội thế và con đường trung đạo, nôị thế sẽ đi đến tận diệt. Điều này không khác gì việc một người tu khổ hạnh, nếu trên con đường khổ hạnh về thân mà không khai mở về tâm, rồi quay về trung đạo kịp thời, người này sẽ chết vì quá yếu hoặc sẽ găp các vấn đề cực đoan khác.
Có thể nói quy y là một bài kiểm tra nội tâm, một trạng thái nội tâm, và nó quyết định rất lớn việc một người có thể theo đường đạo hay không.
Khi tôi quan sát các trạng thái tăng trong lớp, tôi thấy có 3 trường hợp rất đặc biệt liên quan đến quy y tăng
– Một số người không hề quy y Tăng, hoặc khoá trường Tăng ở trạng thái cực kỳ đặc biêt, hoặc chỉ có Tăng Pháp hoặc chỉ có Tăng Phật, không có tăng độc lập. Đó chính là trường hợp của tôi.
– Một số bạn không biết gì về tăng, không hề quy y Tăng mà lại cực kỳ được trường tăng hỗ trợ, bởi vì thân của bạn ấy có trường tăng đỡ, và tâm bạn ấy có nhận thức đúng đắn về tăng. Đây là thời điểm các bạn học sinh này cần quay về nội thế bằng cách quy y pháp và sau đó đi tiếp ngay con đường trung đạo quy y Phật, mà là tổng hợp và cân bằng của nội và ngoại thế. Một số bạn thực chất đi theo hạnh nguyện Bồ Tát hơn là quy y Phật, và hạnh nguyện Bồ tát chân chính luôn bao được nội thế và ngoại thế, nó cũng là trung đạo theo nghĩa bao dung, trung hoà.
– Một số bạn đã chơi ngoại thế đến lúc tận diệt nội thế, trong thời khắc này nếu không kịp thời chuyển thế ngay lập tức, sự huỷ diệt này sẽ dẫn đến bệnh tử mộ tuyệt trong thời gian ngắn theo cả nghĩa đen và nghĩa bóng. Vấn đề là bất kỳ chuyển thế nào cũng cần thực lực và hoàn cảnh phù hợp. Hoàn cảnh thì là lúc này, là lớp học, nhưng thực lực sẽ là vấn đề lớn vì không ai có thể làm hơn cái thực lực của mình.
TẠI SAO NGÀY THÀNH LẬP TĂNG ĐOÀN LÀ NGÀY CHUYỂN PHÁP ?
Khi đức Phật gặp nhóm 5 anh em Kiều Trần Như để giảng pháp, có thể nói ngài đã thành lập nên tăng đoàn. Nghĩa là Phật lúc đó mới quy y Tăng, mặc dù chúng ta có thể thấy ngược lại là nhóm Tăng quy y Phật mới đúng. Hai dạng quy y này với Phật là như nhau vì ngài đã đạt được con đường trung đạo rồi. Phật đem Pháp ra giảng cho anh em Kiều Trần như, nghĩa là ngài đã quy y Phật và Pháp rồi, và ngài mang Phật và Pháp đến cho Tăng trong sự kiện này.
Chính vì thế ngày đức Phật giảng Pháp lần đầu cho năm anh em Kiều Trần Như được gọi là ngày chuyển Pháp, mà cũng là ngày chuyển thế luôn.
Thời khắc một người chuyển từ quy y tiểu thừa, hay quy y nhị bảo sang quy y đại thừa hay quy y tam bảo, bằng cách gia nhập chính thức vào tăng đoàn gọi là sư kiện chuyển pháp. Với người bình thường, Pháp là nội thế, Phật là ngoại thế, và lúc này Tăng là trung thế.
Ngược lại, 5 anh em Kiều Trần Như đã có Tăng, họ chính là Tăng Đoàn đầu tiên. Khi họ nghe theo Phật và được giảng Pháp, mà ngộ ra là họ có Phật và có Pháp. Nhưng những người trong tăng đoàn thời khắc đó lại quy y Phật và Pháp, và họ có sự chuyển pháp từ tu khổ hạnh, dựa vào thân, sang tu Pháp dựa vào tâm, và cân bằng hai thứ đó, kết hợp hai thứ đó, là tu Phật, dựa vào cả thân tâm, dựa vào trung đạo.
Tăng đoàn sau này cũng có mức độ đắc quả vị nhanh và chậm khác nhau. Tăng đoàn nào và lúc nào cũng vậy. Bởi vì quy y là một chuyện nhưng quy y đến mức độ nào là một tiến trình liên quan đến tu tập, và thay đổi theo căn cơ từng người.
Những người đã có Tăng, sau đó mới quy y Phật và Pháp cũng được chuyển pháp luân và chuyển thế trong sự kiện này.
BẢN CHẤT CỦA TĂNG ĐOÀN THỜI MẠT PHÁP
Mạt Pháp là thời mà đạo nằm thực sự được thực hành lặng lẽ bởi giới cư sỹ hơn là được thực hành kiểu hiện như với giới ni sư. Đây là tiên tri được báo trước bởi đức Phật.
Tăng đoàn hiện nay chủ yếu được tao nên bởi cư sỹ và một ít ni sư. Ai trong số ni sư thực sự đạt được trình độ tăng đoàn là rất khó nói, vì đây là trạng thái nội tâm. Ai trong giới cư sỹ đạt được trình độ tăng đoàn lại càng khó nói hơn, vì cư sỹ cơ bản là lối ẩn tu, tu tại gia.
Ca dao có câu : Thứ nhất là tu tại gia, thứ hai tu chợ, thứ ba tu chùa.
Trong tu hiện, xuất gia là vào trong chùa ở, là vào tăng đoàn. Nhưng trong tu ẩn, cư sỹ tại gia mới chính là nhóm làm nên tăng đoàn chân chính. Vì một người tu tại gia được thì tu đâu cũng được, tu chùa cũng được, còn nếu phải vào chùa mới tu được thì không thực sự gọi là tu.
Ca dao cũng có câu : Chiếc áo không làm nên thày tu
Có thể nói từ khi Lục Tổ Huệ Năng (638-713) không còn truyền y bát, nhân gian không còn có thể dựa vào y bát mà xác định ai là thày tu, ai thuộc tăng đoàn nữa rồi.
Do tăng đoàn hoàn toàn ở trạng thái ẩn, người trong tăng đoàn có thể nhận ra nhau trong các trường hợp đặc biệt, chứ người ngoài tăng đoàn không thể nhân ra được ai là người trong tăng đoàn.
Tăng đoàn đích thực là giống như cây dòng họ của đạo Phật, gồm cả người con sống và gia tiên là những người khuất. Có những người xuyên đời đi theo đạo Phật và gia nhập tăng đoàn, nên khi quy y tăng đoàn họ sẽ mở ra chính những ký ức và năng lực xuyên đời với thiền hành và Phật pháp. Nói cách khác họ được tăng đoàn hỗ trợ nhờ năng lượng của chính họ trong tăng đoàn.
Tăng đoàn là tổ chức huyền môn, có năng lực huyền bí.
Trường tăng đoàn cho thấy một bản đồ đạo Phật trong không thời gian đích thực.
NỢ TAM BẢO
Quy y Tam Bảo là một trao đổi hai chiều, người quy y nhận được sự hỗ trợ của Phật, Pháp, Tăng, nhưng người Quy y Tam Bảo cũng cần làm hết sức mình để hỗ trợ Phật, Pháp, Tăng.
Việc Quy y Tam Bảo là kết quả của nghiệp duyên, nợ duyên có từ trước. Cứ hiểu đơn giản là chúng ta nhận được gì từ Tam Bảo, thì đó là món nợ của chúng ta với Tam Bảo, nhưng cũng là cái duyên của chúng ta và điểm mạnh của chúng ta với Tam Bảo.
Nợ Tam Bảo thường hay bị lợi dụng để công chúng cúng dường và làm các việc thiện nguyện cho chùa, cho ni sư. Nhưng nợ Tam Bảo rất rộng, nó liên quan đến cam kết kéo dài cuộc đời và xuyên đời của mỗi chúng ta.
Tam Bảo là cây bồ đề, và mình là cái lá, Tam Bảo mạnh thì mình mạnh và ngược lại mình mạnh mình sẽ làm mạnh thêm cho Tam Bảo. Tôi thấy các học sinh của mình đang ở các bước khác nhau trong việc thực hiện các cam kết và trả nợ với Tam Bảo, giống như họ đang ở các bước khác nhau để trả nợ với cha mẹ khi bước vào quá trình dứt căn.
Quy y Tam bảo chỉ là sự kiện cho thấy quan hệ hỗ trợ lẫn nhau, cam kết với nhau, nhận trợ giúp và trả ơn nhau rõ ràng hơn, cho một quan hệ rất sấu sắc xuyên đời có từ trước rồi, trong đó có nợ Tam bảo.
Nợ Tam Bảo gồm ba phẩn là nợ Phật, nợ Pháp và nợ Tăng.
Tôi bắt đầu có ý thức về nợ Tam Bảo khi quan sát hai bạn học sinh trong lớp lý thuyết, mà có trường Tăng đoàn riêng rất mạnh đỡ bạn trong lớp Lý thuyết, ngoài trường Tăng đoàn có sẵn trong lớp của tôi. Điều khá thú vị là bạn học sinh này không vững về Pháp cũng không thực sự hiểu bản chất của Phật, nhưng lại có một trường Tăng cực mạnh đỡ, trong khi bạn này không có khái niệm gì đặc biệt về Tăng, cũng chưa hề quy y Tăng. Điều này lý giải làm sao bạn có thể qua được cấp thiền rất khó mà bình thường đáng lẽ bạn không thể làm được, vì bạn luôn trong danh sách theo dõi đặc biệt ở lớp thiền của tôi do một lỗi bạn mắc suốt mà tôi dù phát hiện được từ lâu mà không sửa được. Bạn thường hiểu được lời dạy của các vị thày như Chu Văn An hay Thích Nhất Hạnh, dù không hiểu kinh hay nguyên lý cơ bản lắm. Bạn cũng có xu hướng vào thiền và dạy thiền từ các quan hệ bạn bè, đồng nghiệp, bạn cũng là người có xu hướng gìn giữ các quan hệ gia đình, đồng nghiệp trong lớp học và cả trong đời. Tôi hiểu rằng bạn đã được trợ duyên từ các đời bạn ở trong Tăng đoàn, bạn có sự trân trọng với các vị lãnh đạo Tăng đoàn, dù bạn không hề nhận thức được sự tôn tại của Tăng đoàn này, giống như bạn nhận ra được tình thày trò, tình đồng môn và trân trọng nó ngay trong các quan hệ cuộc đời. Cho nên tôi cũng thấy ngay một cam kết cuộc đời của bạn đang mở ra vào thời khắc nà, là bạn phải đi dạy, lớp học bạn được xây dựng từ các quan hệ gia đình và ban bè, đồng nghiệp, để trả lại cái ơn bạn đã nhận được từ Tăng đoàn.
Sau khi làm lại lễ quy y Tam bảo, tôi được nhìn lại những sự trợ giúp mà tôi nhận từ Tam Bảo trong đời này. Có những sự trợ giúp đến từ một công việc mà tôi được bảo làm, các việc này tôi có quyền chấp nhận hay không chấp nhận làm. Đây là một bài kiểm tra gia y như quy y Tam Bảo. Có nhiều việc tôi làm thất bại, và cảm giác mệt mỏi, nhưng tôi lại quan sát được rất nhiều điều từ các thất bại này, tôi học được rất nhiều từ các thất bại này, mà không có lý thuyết nào có thể so sánh được.
Có những sự kiện mà một thành viên của Tăng Đoàn có chuyện và tôi bỗng nhiên cảm thấy mình cần vào thiền để đỡ. Có khi tôi bỗng nhiên nhận ra một điều quan trọng trong một cuốn sách, một bộ phim mà do thành viên Tăng Đoàn làm và quyết định hỗ trợ. Có những khi đi qua một ngôi chùa Tổ mà vị Tổ hay vị sư trụ trì hiện tại là thành viên Tăng đoàn thì tôi bỗng nhiên bị giữ lại, để phải tìm thêm hiểu về dòng tu, đặc biệt với dòng Lâm Tế và Liễu Quán.
Điều mà tôi đặc biệt cảm thấy xúc động là khi quan sát được sự trợ giúp của Tăng đoàn cho lớp lý thuyết, một điều mà tôi không ngờ, tôi nghĩ lớp thiền cần nhận được nhiều sự giúp đỡ này hơn. Những bạn học sinh nhận được nhiều trợ giúp nhất từ lớp lý thuyết thường bước vào lớp là bước vào trường tăng đoàn này luôn, các nôi dung của lớp lý thuyết cũng đánh thức các quan hệ và các nhân vật có sẵn trong nghiệp duyên của các bạn với tăng đoàn. Nghĩa là tăng đoàn đỡ tôi và chung cả với tư cách là giáo viên, và đỡ riêng từng bạn học sinh theo duyên nợ có sẵn của các ban đó.
Tôi quan sát một ca mà học sinh bỏ lớp lý thuyết, một việc cực kỳ hiếm, vì bạn này bị phá hoàn toàn trường tăng đoàn này, từ một trường tăng đoàn hay một trường đồng tu ảo nào đó, có từ trước khi ban đến với lớp. Lúc này lời giảng của tôi vang lên trong tai bạn chói như tiếng kính vỡ, như tiếng gào thét, như tiếng chửi, như lời miệt thị dành cho cá nhân bạn, và bạn sẽ bỏ ra khỏi lớp. Nghe những âm thanh này tôi cảm giác như rơi vào địa ngục, tôi tự dưng hiểu địa ngục là gì, và khổ là gì. Tôi thấy bạn phải rất đạo đức để chỉ ra khỏi lớp, chứ không đứng lên chửi thẳng vào mặt tôi. Tôi cũng thấy một bạn cũng bị mất trường Tăng đoàn này, nhưng ảnh hưởng của nó lại là việc bạn luôn nghe giọng mẹ bạn cực kỳ khói tai, cực kỳ bực bội, và tôi hiểu đây là đau khổ rất lớn, vượt quá năng lực phán đoán và giải quyết của bạn.
Tôi hiểu ngay ra trường tăng đoàn là trường huyền thuật, mà sẽ đưa thanh âm lời giảng ngấm sâu vào tâm hồn chúng ta thì trường tăng đoàn dởm cũng có khả năng phá sóng, bóp méo, xuyên tạc các lời giảng chân chính và dẫn dụ chúng ta đến những lời giảng có tính tà thuật mà chúng ta nghe êm tai hơn nhiều. Trường tăng đoàn dởm này giống có năng lực phá âm, chuyển âm, thôi miên và dẫn dụ.
Các bạn học sinh đứng lên dạy lại giảng các bài lý thuyết và các bài thực hành của tôi, nếu không đủ sức nhận truyền thừa dạng tâm theo tăng đoàn ẩn trong đó, mà chỉ coi đây là một gói lý thuyết và kỹ thuật, thì sẽ mất dần đi ra khỏi trường tăng đoàn. Càng đi thì các bạn sẽ không trụ được, sóng phá ngang vào mạnh hơn sóng gốc, cho nên cuối cùng lời giảng và các bài thiền của tôi đã chuyển hoá thành những thứ chả khác gì tà thuật hạng nặng. Điều này y như đọc Kinh Phật ra rả, nhưng lại toàn hiểu sai, thực hành thiền, mà toàn làm sai, thì cái nguy hại còn cao hơn là không làm gì cả.
Khi quan sát tất cả những điều này tôi cực kỳ xúc động, vì biết rằng tăng đoàn vẫn luôn ở bên tôi và bên tất cả các bạn học sinh, và đã đến lúc chúng ta cần nhận thức về món nợ này.
Tôi hiểu rằng có trường huyền thuật tăng đoàn thì cũng có trường tà thuật cực kỳ mạnh mà liên kết các dạng tà thuật khác nhau trong tất cả các lĩnh vực lại, và giờ phút này chúng ta phải lựa chọn, chúng ta phải liên kết lại để bảo vệ lẫn nhau.
Với tôi, nợ tăng đoàn chính là nợ ân tình, nợ tình người, người này làm việc này cho người khác, người khác lại làm việc khác cho người khác nữa, cứ như vậy mà giúp đỡ lẫn nhau.
Một trong những điều khiến tôi xúc động sâu sắc là thấy chồng tôi là người nhiều đời ở trong tăng đoàn, chồng tôi nhiều đời tu theo Phật, đời này anh ấy đóng một vai khác, đẩy tôi vài các bài học cưc kỳ nặng nề, mà nếu không có nó, tôi cũng không đủ sức đi trên con đường dạy học. Có thể nói, đó là người cùng tôi có các cam kết đoạn trường trong cuộc đời này, với đoạn trường là một dạng tu bằng trải nghiệm.
Với tôi quy y Tăng Đoàn là khó hiểu nhất, nhưng nợ Tăng Đoàn và làm việc cho Tăng Đoàn là dễ hiểu nhất.
Quy y Phật với tôi là dễ hiểu nhất, nhưng tôi lại không hiểu tôi nợ Phật cái gì. Tôi cho rằng Phật ở xa tít, tôi tuyệt đối không xin xỏ điều gì ở Phật, tôi chỉ lựa chọn đi cùng đường với Phật mà thôi, mà đạo là đường chung ai đi chả đươc. Kinh Phật tôi hầu như không đọc, mà tôi thường tự hiểu ra một điều rồi nhận ra đó là một điều đã được Phật giảng. Nhưng tôi luôn tự thân vận động, không dựa dẫm vào Phật, thì làm sao mà tôi nợ Phật được. Nhưng cuối cùng tôi hiểu rằng nhận thức của các vị Phật không tách rời khỏi nhận thức của nhân loại, dù nhân loại đang đi trên con đường khoa học hay nghê thuật, không hề biết đến Phật. Tôi chạm được đến khái niệm nào thì nghĩa là khái niệm đó đã có Phật ở đó.
Việc quy y Phật cho tôi hiểu về Bồ Tát đạo, qua các hạnh nguyện Bồ Tát, con đường của hạnh nguyện Bồ Tát và con đường dẫn đến Phật tâm là hai con đường âm dương, không thể tách rời, bản thân nó tạo nên Trung đạo.
Khi bước vào trường Tăng đoàn, tôi nhận ra rằng trường này hoàn toàn được đỡ bởi Phật, đặc biệt toàn bộ trường sóng nền được đỡ bởi mẹ Quán thế âm. Chỉ có vào trường tăng đoàn, tôi mới hiểu được về bể khổ và về sự từ bi, một điều mà từ trước đến nay với tôi hoàn toàn chỉ hiểu trên khía cạnh rất hẹp của cá nhân mình, hoặc chỉ hiểu qua lý thuyết. Người trong tăng đoàn đối mặt chân thực với nỗi đau của họ và của chúng sinh, vì họ nghe được tiếng lòng đau khổ của chúng sinh rõ hơn chính chúng sinh. Năng lực này thanh âm này của tăng đoàn là do mẹ Quán thế âm đỡ và hạnh nguyện của các vi Bồ Tát tràn ngập trong tăng đoàn. Tôi cảm giác tôi chưa từng hiểu được món nợ này, tôi chưa từng chạm được vào cảm giác này.
Ban đầu tôi cũng không hiểu tôi nợ Pháp cái gì, vì Pháp là chân lý, làm sao tôi nợ chân lý cho được. Nhưng khi nhận ra chân lý về Tăng đoàn, về Khổ, về Cứu khổ, về Từ bi, tôi hiểu rằng còn bao nhiêu chân lý bên trong chính thân tâm tôi, cuộc đời tôi, còn bao nhiêu chân lý về sự sống, về Phật Pháp mà tôi không hiểu. Nợ Pháp là nợ các bài học cuộc đời. Nợ Pháp cũng là nợ về cam kết dạy học, đặc biệt là dạy lý thuyết, cả hướng dẫn thiền và giảng giải về kết quả thực hành thiền cho đến bước ngộ ra được về Pháp.
Từ khi đi dạy học, tôi gần như không có thời gian dạy bất kỳ khoá lý thuyết nào đến lần thứ 2, các khoá thiền nâng cao cũng gần như thay đổi liên tgucj qua từng kháo. Tôi cũng chưa từng đào tạo được các giáo viên dạy lý thuyết và cả thực hành đủ sức trụ được Pháp. Việc tôi để các bài viết của mình hoàn toàn miễn phí chỉ giúp ích được cho một ít người, chủ yếu là học sinh cũ của tôi và gieo duyên cho đại chúng được rất ít.
Tôi dạy học được đến hôm nay, học sinh ở được đến với cô giáo đến hôm nay là bao nhiêu ân tình đến từ cả cô giáo, từ học sinh, từ đức Phật, từ Pháp và từ Tăng đoàn âm thầm đằng sau. Xin cảm ơn tất cả những nợ ân tình quá lớn này, mà tôi không biết dùng từ nào, ngoài môt từ mà hôm nay tôi đã thấm thía hơn rất nhiều là nợ Tam Bảo.

