PHẬT TỔ MAN NƯƠNG

Loading

SỰ TÍCH
Vào thời Hán, sư Khâu Đà La người nước Thiên Trúc đã đến thành Luy Lâu, nước Giao Chỉ truyền đạo. Sư thường ngồi tĩnh tọa không ăn uống, đêm ngủ trên tảng đá. Bên cạnh thành Luy Lâu có ông bà Tu Định người làng Mãn Xá biết sư là Phật xuất thế nên rất kính cẩn mến mộ, nên cho con gái Man Nương 10 tuổi đến theo sư học Đạo.
Một hôm, thiền sư đi vắng và dặn Man Nương trông coi chùa cẩn thận. Tối đến Man Nương ngủ ở thềm, Khâu Đà La về và bước qua người, sau đó bà thụ thai. Cha mẹ Man Nương trách cứ thì Khâu Đà La dặn rằng đó là con Phật, không phải lo phiền.
Hai mươi tháng sau, Man Nương sinh hạ một người con gái vào ngày 8 tháng Tư (âm lịch), đem đến chùa trả lại Thiền sư. Ông dùng cây tầm xích (gậy tích trượng) gõ vào cây Dung Thụ (dâu); cây dâu tách ra, thiền sư để đứa trẻ vào trong, cây lại khép vào.
Khâu Đà La trao cho Man Nương cây gậy và dặn khi nào hạn hán thì đem gậy cắm xuống đất để cứu nhân dân. Khi vùng Dâu bị hạn hán ba năm liền, nhớ đến lời dặn của ông, Man Nương đã đem cây gậy thần cắm xuống đất. Ngay lập tức nước phun lên, cây cối, ruộng đồng lại tươi tốt và chúng sinh thoát nạn hạn hán.
Tiếp đó có trận mưa to, cây dâu bị gió bão quật đổ xuống sông Thiên Đức (sông Dâu) rồi trôi về Luy Lâu. Khi đó, Thái thú Sĩ Nhiếp (137 – 226) cho quân lính vớt lên để làm nóc điện Kính Thiên, nhưng không ai lay chuyển nổi. Man Nương đi qua liền xuống sông, buộc dải yếm vào và bảo “Có phải con mẹ thì đi lên theo mẹ” lập tức kéo cây lên dễ dàng.
Sĩ Nhiếp thấy thế kính sợ, tuyển mười người họ Đào tạc tượng Tứ pháp là Pháp Vân – Pháp Vũ – Pháp Lôi – Pháp Điện tượng trưng cho Mây, Mưa, Sấm, Chớp để thờ. Bốn bức tượng phật đó được đặt ở bốn ngôi chùa khác nhau ở trên cùng một khu vực là Chùa Dâu, Chùa Đậu, Chùa Dàn, Chùa Tướng. Khi thợ tạc tượng gặp trong thân cây một khối đá bèn vứt xuống sông. Đến đêm thấy lòng sông rực sáng, Sĩ Nhiếp cho người vớt nhưng không tài nào vớt được. Man Nương liền đi thuyền ra giữa sông thì khì khối đá tự nhiên nhảy vào lòng. Khối đá ấy được gọi là Thạch Quang Phật.
BỘ CHA MẸ THỤ THAI & SINH DƯỠNG
– THỤ THAI : “Một hôm, thiền sư đi vắng và dặn Man Nương trông coi chùa cẩn thận. Tối đến Man Nương ngủ ở thềm, Khâu Đà La về và bước qua người, sau đó bà thụ thai. Cha mẹ Man Nương trách cứ thì Khâu Đà La dặn rằng đó là con Phật, không phải lo phiền”
Man Nương và sư Khâu Đà La đều là người xuất gia, ở chùa. Thềm chùa đại diện cho cổng xứ sở. Man Nương nằm dưới đất, sư Khâu Đà La bước qua nghĩa là cha mẹ xứ sở tạo nên ca thụ thai này là cha trời, mẹ đất, gặp nhau ở cổng xứ sở, nơi xứ sở tiếp xúc với thân thể.
Ca thụ thai này xảy ra khi không có tiếp xúc vật lý, mà do hợp duyên trời đất. Theo ngôn ngữ dân gian, bào thai này là ca “Thiên thai”, theo ngôn ngữ của Khâu đà la, đây là con Phật.
Trèo lên trái núi Thiên Thai,
Thấy đôi chim phượng ăn xoài trên cây.
Đôi ta được gặp nhau đây,
Khác gì chim phượng gặp cây ngô đồng
– SINH DƯỠNG : “Hai mươi tháng sau, Man Nương sinh hạ một người con gái vào ngày 8 tháng Tư (âm lịch), đem đến chùa trả lại Thiền sư. Ông dùng cây tầm xích gõ vào cây Dung Thụ cây tách ra, thiền sư để đứa trẻ vào trong, cây lại khép vào.”
Đứa trẻ sau khi sinh được cha mẹ đẻ trao cho ai, thì người đó là cha mẹ nuôi của nó. Vậy gậy tầm xích là cha nuôi và cây dung thụ là mẹ nuôi của đứa trẻ.
Bộ cha mẹ của ca sinh này
– Cha mẹ xứ sở : Cha trời – Mẹ đất
– Cha mẹ bào : Khâu Đà La (cha) – Man Nương (mẹ)
– Cha mẹ phôi : Cha trời – Mẹ đất
– Cha mẹ thai : Cha trời – Mẹ đất
– Cha mẹ đẻ : Khâu Đà La (cha) – Man Nương (mẹ)
– Cha mẹ thân : Gậy tầm xích (cha) – Cây dung thụ (mẹ)
KHOÁ & CỔNG XỨ SỞ
Trong các ca sinh bình thường, đứa trẻ sinh ra được cha mẹ thân nuôi dưỡng trong ngôi nhà – gia đình.
Ối thường ngấm xuống đất, nói cách khác là ối về xứ sở nước, rốn thường được phơi nói cách khác là ối về xứ sở khí, còn nhau được chôn, nói cách khác là nhau về xứ sở đất. Cơ bản so với nhau rốn ối, đứa bé được về xứ sở của lửa.
Gậy tầm xích của sư Khâu Đà La và cây dung thụ đều thuộc về xứ sở. Như vậy đứa bé gái con của Man Nương đã được gửi về với xứ sở, như là rốn, ối, nhau.
Những trường hợp mà một đứa bé sau khi sinh được gửi về xứ sở
– Đứa bé là con vật lý nhưng vì là con của Phật chỉ mượn đường thân thể của cha mẹ bào và cha mẹ thai để sinh ra, nên nó sẽ xuất gia ngay sau khi sinh, quay về lại xứ sở để được xử sở nuôi dưỡng, xứ sở mới là cha mẹ thật của đứa bé. Trong dân gian, những đứa trẻ con là con cầu tự của xứ sở như vậy có thể không cần bú mẹ, không sống với bố mẹ, mà chỉ húp nước cơm mà vẫn sống được qua thời kỳ sơ sinh.
– Đứa bé là con vật lý, nhưng mất khi sinh, đặc biệt là trường hợp đứa bé là bà cô của cây dòng họ
– Đứa bé là con năng lượng
Trong cả bà trường hợp này, đứa bé sẽ cần quay lại ngay với bộ Thân Rốn Ối Nhau của mình, để tái thiết lại bào thai ở dạng năng lượng (bào thai âm) thì nó mới có thể tồn tại được
Đối chiếu cấu trúc cây với cấu trúc bào thai
– Thân : Tán cây
– Rốn : Thân cây
– Nhau : Rễ cây
– Ối : Trường năng lượng gồm trường sinh học
– Bào : Biên của trường sinh của cây ứng với bào âm, biên của cây tinh từ rễ đến ngọn là bào dương, bào hình
Gậy tầm xích là khoá và cây dung thụ là cổng đưa đứa bé về trường bào thai của xứ sở.
– Gậy tầm xích là cái cây có tính kim hoả thổ
– Cây dung thụ là cái cây có tính mộc thuỷ khí
PHÔI DÂU : THỜI KỲ TRỨNG NƯỚC CỦA BÀO THAI
“Khâu Đà La trao cho Man Nương cây gậy và dặn khi nào hạn hán thì đem gậy cắm xuống đất để cứu nhân dân. Khi vùng Dâu bị hạn hán ba năm liền, nhớ đến lời dặn của ông, Man Nương đã đem cây gậy thần cắm xuống đất. Ngay lập tức nước phun lên, cây cối, ruộng đồng lại tươi tốt và chúng sinh thoát nạn hạn hán.”
Sự tích Tứ pháp xuất hiện ở vùng Dâu là vùng đất châu thổ của con sông Dâu và chùa Dâu nơi Khâu Đà La tu về sau được dùng để đặt tượng thờ Pháp Vân.
Nước là năng lượng gốc, xứ sở gốc của Man Nương, của bào thai của người con gái của Man Nương, và của vùng Dâu.
Cây gậy tích trượng của Khâu Đà La là một chìa khoá để vùng đất này khôi phục được trạng thái năng lượng nước gốc này.
TỨ PHÁP
“Tiếp đó có trận mưa to, cây dâu bị gió bão quật đổ xuống sông Thiên Đức (sông Dâu) rồi trôi về Luy Lâu. Khi đó, Thái thú Sĩ Nhiếp (137 – 226) cho quân lính vớt lên để làm nóc điện Kính Thiên, nhưng không ai lay chuyển nổi. Man Nương đi qua liền xuống sông, buộc dải yếm vào và bảo “Có phải con mẹ thì đi lên theo mẹ” lập tức kéo cây lên dễ dàng”
Cây dung thụ cũng là cây dâu, nên cây dung thụ có thể đưa cả bào thai về trường sở của phôi dâu. Trong dân gian, phôi dâu được gọi là thời kỳ trứng nước thai kỳ. hởi vì phôi dâu là tổ hợp tế bào dạng nước tạo ra do sự phân chia của hợp tử.
Phôi dâu là bộ tế bào máu gốc của bào thai. Sau chuyển hoá được thành máu huyết, bộ Thân Rốn Ối Nhau có thể thể tích hợp vào cây dâu.
Đối chiếu máu huyết của bộ Thân Rốn Ối Nhau về trang thái cây
– Máu thổ huyết trong mạch : nhựa cây
– Máu thổ huyết ngoài mạch : dịch cây
– Máu khí huyết trong mạch : luồng sinh khí
– Máu khí huyết ngoài mạch : trường phách
“Sĩ Nhiếp thấy thế kính sợ, tuyển mười người họ Đào tạc tượng Tứ pháp là Pháp Vân – Pháp Vũ – Pháp Lôi – Pháp Điện tượng trưng cho Mây, Mưa, Sấm, Chớp để thờ. Bốn bức tượng phật đó được đặt ở bốn ngôi chùa khác nhau ở trên cùng một khu vực là Chùa Dâu, Chùa Đậu, Chùa Dàn, Chùa Tướng:
Cây dâu sau này trở thành Tứ Pháp : Pháp Vân – Pháp Vũ – Pháp Lôi – Pháp Điện. Tứ Pháp chính là bộ pháp chuyển hoá bộ Thân Rốn Ối Nhau về phôi dâu, rồi từ nước phôi dâu tích hợp vào vạn vật
– Máu thổ huyết trong mạch – nhựa cây : Pháp Vân
– Máu thổ huyết ngoài mạch – dịch cây : Pháp Vũ
– Máu khí huyết trong mạch – luồng sinh khí : Pháp Điện
– Máu khí huyết ngoài mạch – trường sinh học : Pháp Lôi
“Khi thợ tạc tượng gặp trong thân cây một khối đá bèn vứt xuống sông. Đến đêm thấy lòng sông rực sáng, Sĩ Nhiếp cho người vớt nhưng không tài nào vớt được. Man Nương liền đi thuyền ra giữa sông thì khì khối đá tự nhiên nhảy vào lòng. Khối đá ấy được gọi là Thạch Quang Phật.”
“Thạch Quang Phật” giữ nguyên lý chuyển máu huyết gốc về hình tướng vật chất, mang tính dương, đối xứng với bộ Tứ Pháp, mang tính âm.
Chia sẻ:
Scroll to Top