![]()
NÚI THIÊNG MANG TÊN NGŨ
Có một nguyên tắc chung rất rõ ràng với các ngọn núi Ngũ là nguyên tắc ngũ cung (ngũ nhạc) mà cũng là nguyên tắc ngũ hành. Để hiểu sự liên hệ của ngũ hành và ngũ nhạc, chúng ta cần hiểu rằng ngũ hành Kim Mộc Thuỷ Hoả Thổ đang ẩn cấu trúc và vận hành của nguyên tố thứ 5 là Khí. Ngũ hành là cách nói tắt của ngũ hành khí và ngũ nhạc ở đây chính là nhạc khí.
Ngũ hành là bộ chuyển hoá các nguyên tố cơ bản Kim Mộc Thuỷ Hoả Thổ, mà cũng là bộ đất nước khí lửa (số 4) hoặc bộ đất nước khí lửa kim mộc (số 6).
Nếu hiểu đúng nguyên tắc này, chúng ta sẽ không phân loại Địa chi theo Ngũ hành để rồi luôn có 4 con giáp Thổ và 2 con giáp cho mỗi nguyên tố Kim Mộc Hoả Thuỷ – một điều không thể chấp nhận được về mặt cân bằng âm dương. Có thể chúng ta nên tách đôi 4 con giáp Thổ thành 2 Khí và 2 Thổ. Cũng theo cách đó, chúng ta có thể đối ứng được hệ 10 của Thiên Can (mà hợp với hệ Ngũ hành) với hệ 12 của Địa Chi (mà không thể chia hết cho 5, chỉ chia hết cho 4 và 6).
Danh sách các núi thiêng mang tên Ngũ
– Ngũ nhạc danh sơn ở miền bắc Trung Quốc có Hoa Sơn nằm ở Tần Lĩnh liên quan đến văn minh Hoa Hạ, người Hoa; Thái Sơn là ngọn núi thiêng nhất Trung Quốc nơi các đời vua Trung Quốc lên đây làm lễ tế trời, và Tung Sơn ngọn núi trung tâm của bộ này cũng được coi là ngọn núi ở trung tâm của Trung Quốc
– Núi Ngũ Lĩnh (Nam Lĩnh) ở miền Nam Trung Quốc (thời Hùng Vương thuộc về nước Việt)
– Tản Lĩnh với Ngũ cung ở Sơn Tây, Hà Nội, Việt Nam
– Núi Ngũ Nhạc ở Côn Sơn, Chí Linh, Hải Dương, Việt Nam
– Ngũ Hành Sơn ở Đà Nẵng, Việt Nam
NÚI THIÊNG MANG TÊN LĨNH
Cho dù ở Trung Hoa hay Việt Nam, núi mang tên Lĩnh đều là núi thiêng, núi thủ lĩnh cả nền văn minh, núi lĩnh hội tinh hoa đất trời.
Nước Việt ta một thời đã tên là Lĩnh Nam, là lĩnh với nguyên tắc đối xứng âm dương, chuyển hoá đa dạng và linh hoạt, đối xứng với Tần Linh, là lĩnh với nguyên tắc tập trung thống nhất định hình tuyệt đối.
Các núi thiêng mang tên Lĩnh có thể vận hành các bộ số khác nhau gắn với vận số, số mệnh, không chỉ của quả núi đó, bộ núi đó mà còn của các đất nước và các dân tộc liên quan.
Núi thiêng mang tên Ngũ là trường hợp đặc biệt của núi thiêng mang tên Lĩnh, mà vận hành bộ số 5. Ngũ là con số đặc biệt vì nó là con số chuyển hoá không thời gian. Ngũ hành cũng có thể được xếp thành Tứ trụ ví dụ Đông Tây Nam Bắc (với Trung ở giữa) hoặc thành Lục phương như Thượng Hạ Đông Tây Nam Bắc. Ngũ hành cũng có thể quy về Tam hợp như cách Ngũ cung vây xung quanh núi Tản, Ba Vì. Tam lại có thể quy về Nhị rồi Nhất hoặc từ Tam sinh ra Vạn, như câu của Lão tử “Đạo sinh nhất, nhất sinh nhị, nhị sinh tam, tam sinh vạn vật”. Câu này cũng tương tự như Vạn pháp quy tâm và Tâm lại quán chiếu được về Vạn pháp.
Nguyên tắc chuyển hoá giữa các bộ số chính là nguyên vận hành của vận số hay của mệnh số.
Nếu hiểu đúng nguyên tắc này, chúng ta sẽ cẩn trọng hơn hơn với sự phức tạp của Ngũ Hành Sơn Đà Nẵng mà có 6 núi ứng với 5 nguyên tố (nguyên tố Hoả có 2 quả núi), lại còn thêm 1 núi nữa tên là Ghềnh không biết thuộc hành gì hay Thất Sơn lại có hơn 30 ngọn núi.
Hãy cùng điểm tên các núi thiêng thuộc bộ Lĩnh ở Trung Quốc (gồm miền nam Trung Quốc từng thuộc về nước Việt), Việt Nam (gồm Bắc Việt và phía Nam từng thuộc về Chiêm Thành và Cao Miên).
– Tần Lĩnh ở Thiểm Tây, Trung Quốc là ngọn núi cùng với sông Hoài Hà tạo nên đường phân chia Hoa Bắc (văn minh Hoàng Hà) và Dương Tử (văn minh Hạ), tạo thành văn minh Hoa Hạ
– Bát Đạt Lĩnh ở Bắc Kinh là đoạn núi nổi tiếng nhất của Vạn Lý Trường Thành
– Núi Ngũ Lĩnh (Nam Lĩnh) ở miền Nam Trung Quốc (thời Hùng Vương thuộc về nước Việt)
– Tản Lĩnh & Ngũ cung ở Sơn Tây, Hà Nội, Việt Nam là ngọn núi thiêng nhất của người Việt
– Nghĩa Lĩnh ở Phú Thọ, Việt Nam là ngọn núi của các Vua Hùng
– Tây Côn Lĩnh ở vùng núi Đông Bắc, Việt Nam
– Hồng Lĩnh, ở Nghệ An Hà Tĩnh, Việt Nam (ở Nghệ An còn có Di Lĩnh và ở Thanh Hoá có Phượng Lĩnh) là ngọn núi gắn liền với đất nước Xích Quỷ
NÚI LĨNH Ở DẠNG ÂM ẨN
Lại có những ngọn núi không có tên lĩnh cũng không có con số, nhưng lại lĩnh hội tinh hoa trời đất và mang vận số của đất nước và dân tộc
– Côn Lôn ở Trung Quốc, được coi là nguồn mạch của Tần Lĩnh, kết nối Trung Quốc với Ấn Độ, Trung Á, Trung Đông và xa hơn nữa là châu Âu. Côn Lôn là núi của Tây Vương Mẫu đứng cấu trúc nền tảng, cấu trúc bao bọc của các đất nước và các dân tộc, ứng với số 0
– Ai Lao Sơn ở Vân Nam, Trung Quốc (thời Hùng Vương thuộc về nước Ai Lao, nước Lào) đứng tượng số và có nghĩa là hậu lĩnh. Ai Lao Sơn đứng mạch sông Hồng
– Thất Sơn chính là nam lĩnh của sông Mê Kông, trong khi Ngũ Lĩnh là nam lĩnh của sông Dương Tử, hai con sông của hai lục địa Trung Hoa và Ấn Độ nằm hai bên của đới đứt gãy sông Hồng
NÚI NGŨ LĨNH (NAM LĨNH) Ở NAM TRUNG QUỐC
Ngô Sĩ Liên ghi chép về Ngũ Lĩnh trong “Đại Việt sử ký toàn thư” như sau: “Ngũ Lĩnh đối với nước Việt ta là ải hiểm, cửa ngõ của nước, cũng như Hổ Lao của nước Trịnh, Hạ Dương của nước Quắc. Làm vua nước Việt tất phải đặt quân chỗ hiểm để giữ nước, không thể để cho mất được. Họ Triệu một khi đã không giữ được đất hiểm ấy thì nước mất dòng tuyệt, bờ cõi bị chia cắt. Nước Việt ta lại bị phân chia, thành ra cái thế Nam – Bắc vậy. Sau này các bậc Đế Vương nổi dậy, chỗ đất hiểm đã mất rồi, khôi phục lại tất nhiên là khó. Cho nên Trưng Nữ Vương tuy đánh lấy được đất Lĩnh Nam, nhưng không giữ được nơi hiểm yếu ở Ngũ Lĩnh, rốt cuộc đến bại vong. Sĩ Vương tuy khôi phục toàn thịnh, nhưng bấy giờ còn là chư hầu, chưa chính vị hiệu, sau khi chết lại mất hết; mà các nhà Đinh, Lê, Lý, Trần chỉ có đất từ Giao Châu trở về Nam thôi, không khôi phục được đất cũ của Triệu Vũ Đế, cái thế khiến nên như vậy.”
Núi Ngũ Lĩnh (hay còn gọi là Nam Lĩnh) nằm ở khu vực ranh giới giữa bốn tỉnh : Hồ Nam, Giang Tây, Quảng Đông và Quảng Tây ở miền nam Trung Quốc.
Dãy núi này kéo dài khoảng 600 km từ tây sang đông. Ngũ bao gồm 5 ngọn/dãy núi nhỏ
– Việt Thành Lĩnh (ở tây nam Hồ Nam)
– Đô Bàng Lĩnh (giữa Hồ Nam và Quảng Tây)
– Manh Chử Lĩnh (ở nam Quảng Tây)
– Kỵ Điền Lĩnh (ở nam Hồ Nam)
– Đại Dữu Lĩnh (giữa đông nam Hồ Nam và tây nam Giang Tây)
Nơi đây đóng vai trò là đường phân thủy giữa lưu vực sông Dương Tử ở phía bắc và sông Châu Giang ở phía nam, đồng thời từng là ranh giới tự nhiên quan trọng trong lịch sử.
Trước Công Nguyên, Ngũ Lĩnh – Nam Lĩnh thuộc về nước Việt (Hồng Bàng Thị), đối xứng với Ngũ Nhạc Danh Sơn ở phía Bắc, thuộc về văn minh Hoa Hạ (Hoa Tự Thị). Nước Việt Nam ta hiện nay mất Ngũ Lĩnh hay Nam Lĩnh về phía Trung Quốc nhưng lại còn giữ được Lĩnh Nam, mà chính là khu vực đồng bằng sông Hồng.
NGŨ NHẠC DANH SƠN Ở BẮC TRUNG QUỐC
Ngũ nhạc xếp theo sơ đồ chữ Thập
– Đông Nhạc: Thái Sơn, thuộc tỉnh Sơn Đông
– Tây Nhạc: Hoa Sơn, thuộc tỉnh Thiểm Tây
– Nam Nhạc: Hành Sơn, thuộc tỉnh Hồ Nam
– Bắc Nhạc: Hằng Sơn, thuộc tỉnh Sơn Tây
– Trung Nhạc: Tung Sơn, thuộc tỉnh Hà Nam
Theo thần thoại Trung Quốc, Ngũ Nhạc có nguồn gốc từ thân thể và đầu của Bàn Cổ, vị thần đầu tiên sáng tạo ra thế giới. Do vị trí ở phía đông của mình nên Thái sơn được gắn liền với mặt trời mọc, là biểu tượng cho sự ra đời và sự hồi sinh. Cũng vì cách diễn giải này, nó thông thường được nhắc đến như là ngọn núi linh thiêng nhất trong số Ngũ đại danh sơn. Phù hợp với vị trí đặc biệt của nó, Thái sơn được cho là được tạo thành từ phần đầu của Bàn Cổ.
Với một ngũ hành chuẩn thì không núi nào nên thiêng hơn núi nào như trường hợp xảy ra với Ngũ nhạc danh sơn, khi linh thiêng nhất là Đông Nhạc Thái Sơn. Thái Sơn như tên gọi và sự tích cho thấy còn thuộc về một hệ thống núi lĩnh cổ xưa hơn, bao trùm hơn.
Ngũ nhạc danh sơn đi theo nguyên tắc ngũ cung, ngũ hành, nguyên tắc nam lĩnh, đông lĩnh hay cổ lĩnh.
NÚI TẦN LĨNH Ở THIỂM TÂY TRUNG QUỐC
Tần Lĩnh là một dãy núi chính chạy theo hướng đông-tây ở nam bộ tỉnh Thiểm Tây, Trung Quốc (tỉnh Thiểm Tây cũng có tên là Tần và đây là nơi nhà Tần của Tần Thuỷ Hoàng định đô sau khi thống nhất đất nước Trung Quốc).
Ở phía bắc Tần Lĩnh là thung lũng Vị Hà có dân cư đông đúc, và là một trung tâm thời cổ của nền văn minh Trung Hoa tính từ nhà Hạ, Thương, Chu đến Tần, và sau này cả thời Hán, thời Đường.
Ở phía nam Tần Lĩnh là thung lũng Hán Thủy.
Ở phía tây là một dãy các ngọn núi dọc theo mép phía bắc của cao nguyên Thanh-Tạng.
Ở phía đông Tần Lĩnh là Phục Ngưu Sơn và Đại Biệt Sơn.
Tần Lĩnh có một số ngọn núi nổi tiếng
– Hoa Sơn chính là Tây Nhạc của Ngũ nhạc danh sơn
– Thái Bạch Sơn đỉnh núi cao nhất phía Đông
– Chung Nam đôi khi còn được gọi là núi Thái Ất hoặc núi Chu Nam là một nhánh của dãy núi Tần Lĩnh nằm ở tỉnh Thiểm Tây, phía nam của thành phố Tây An, từ Vũ Công ở phía đông kéo dài qua Lam Điền. Một số đỉnh núi đáng chú ý của dãy gồm Lâu Quan Đài (được cho là nơi đạo sĩ hiền triết Lão Tử cư ngụ và truyền đạt Đạo đức kinh), hay Nam Ngũ Đài , Khuê Phong. Các ngọn núi của Chung Nam nổi tiếng khi là nơi ở ẩn của các ẩn sĩ Đạo giáo từ thời nhà Tần. Sau đó, các tu sĩ Phật giáo bắt đầu sống ở vùng núi này khi Phật giáo du nhập vào Trung Quốc từ Ấn Độ trong những năm đầu của thiên niên kỷ đầu tiên. Toàn Chân đạo là một trong những giáo phái lớn nhất của Đạo giáo hiện đại được thành lập ở vùng núi Chung Nam bởi Vương Trùng Dương, một đạo sĩ thời nhà Tống.
Tần Lĩnh là điểm chôn cất của các Hoàng đế nhà Tần, nhà Hán, nhà Đường và nhiều quốc tộc, chức sắc. Để mô tả số lượng lớn ngôi mộ ở Tần Lĩnh, người xưa truyền tai nhau câu nói “Tám trăm ngọn núi Tần Lĩnh, một trăm cổ mộ”. Tám trăm ngọn núi trong câu nói này là con số tương đối dùng để chỉ 751 đỉnh núi thực tại dãy Tần Lĩnh. Trước khi tiến hành chôn cất bậc Đế vương tại núi Tần Lĩnh, người xưa sẽ xác định vị trí huyết mạch tổ tiên, gọi là “Tìm rồng”. Quá trình này gồm các bước như quan sát cát, nước và định hướng.
Tần Lĩnh đi theo nguyên tắc vạn pháp quy tâm, hay lãnh đạo thống nhất. Đó là lý do nước Trung Hoa thống nhất được thành lập dưới thời Tần Thuỷ Hoàng ở Thiểm Tây, tỉnh còn có tên khác là Tần.
CÔN LÔN
Dãy núi Côn Lôn hay Côn Lôn Sơn là một trong những dãy núi dài nhất tại châu Á, nó trải dài trên 3.000 km từ Pamir (Afghanistan) ở phía tây qua Tân Cương tới Thanh Hải ở phía đông, với chiều rộng khoảng 130–200 km. Độ cao bình quân 5.500-6.000 m với phía tây chật hẹp và cao còn phía đông rộng rãi và thấp hơn.
Dãy núi Côn Lôn nổi tiếng trong thần thoại Trung Hoa và người ta tin rằng nó là thiên đường của những người theo Đạo giáo.
Theo truyền thuyết, người đầu tiên đến thiên đường này là Chu Mục vương của nhà Chu. Ông ngẫu nhiên phát hiện ra cung điện bằng ngọc của Hoàng Đế, vị hoàng đế thần thoại và là người sáng tạo ra nền văn hóa Trung Hoa, và đã gặp Tây Vương Mẫu, mà đỉnh cao sự sùng bái tôn thờ bà đã diễn ra vào thời nhà Hán, nơi ở thần thoại của bà cũng nằm trong dãy núi này.
Tu viện lạt ma Shangri-La hư cấu cũng nằm trong dãy núi này.
Tuy núi Côn Lôn được biết đến như nguồn gốc của long mạch, trong đó có mạch Tần Lĩnh nhưng người Trung Quốc cho rằng Tần Lĩnh mới chính là long mạch quan trọng nhất.
Côn Lôn là núi của Tây Vương Mẫu mà nguyên tắc của Mẫu ngược với nguyên tắc của Lĩnh, nghĩa là Lĩnh hiện dương còn Mẫu ẩn âm.
BÁT ĐẠT LĨNH
Dải núi Bát Đạt hay Bát Đạt Lĩnh là nơi có đoạn Trường Thành được viếng thăm nhiều nhất, nằm cách trung tâm đô thị của Bắc Kinh 50 dặm (80 km) về phía tây bắc, nơi này thuộc địa giới của huyện Diên Khánh, Bắc Kinh. Phần Trường Thành chạy qua địa điểm này được xây vào năm 1505 dưới thời nhà Minh, cùng với một tiền đồn quan sự đã cho thấy vị trí chiến lược quan trọng của nó. Điểm cao nhất của Bát Đạt Lĩnh là Bắc Bát Lâu (北八楼), có cao độ 1.015 mét (3.330 ft) trên mực nước biển.
Bát Đạt Lĩnh không thể so sánh với Tần Lĩnh trong cả lịch sử và huyền sử.
NGŨ HÀNH SƠN (Ở MIỀN TRUNG XỨ QUẢNG, ĐẤT CHIÊM THÀNH CŨ)
Ngũ Hành Sơn (chữ Hán: 五行山) còn có tên khác Ngũ Uẩn Sơn, Ngũ Chỉ Sơ, gồm các ngọn núi:
– Mộc Sơn,
– Thủy Sơn (lớn, cao và đẹp nhất),
– Thổ Sơn
– Kim Sơn
– Hỏa Sơn (có hai ngọn là Dương Hỏa Sơn và Âm Hỏa Sơn)
và
– Núi Ghềnh
Quê em có núi Ngũ Hành
Có nghề khắc đá lừng danh khắp vùng.
—o—
Quảng Nam có núi Ngũ Hành
Có sông Chợ Củi, có thành Đồng Dương
Cụm núi này trong dân gian gọi là Non Nước
Bao giờ cạn nước Thu Bồn
Ngập chùa Non Nước, lời đồn em mới tin.
—o—
Hòn trên khô sao gọi là hòn Non Nước
Hòn dưới nước sao gọi là hòn Khô?
—o—
Nước chảy lờ đờ, đôi bờ xuôi ngược
Đường đi Non Nước rộng bước thênh thang
Ta vui khắp xóm khắp làng
Mặc cho chớp bể mưa ngàn vẫn vui
Đường đi xa lắm em ơi
Nước non ngàn dặm bể trời mênh mông
Đi qua muôn chợ ngàn sông
Thuyền nan một chiếc vẫy vùng bể khơi
—o—
Chung quanh những chị em người,
Giữa chùa Non Nước một tôi với chàng.
Dù chàng mà có yêu đương,
Thì chàng đắp điếm trăm đường để cho.
Yêu chán, sợ chàng lại no,
Rồi khi ngúng nguẩy biết nhờ cậy ai.
Tên Non nước và cao dao về Non Nước sẽ gợi ý cho chúng ta biết là nguyên tắc lĩnh của Ngũ Hành Sơn, mà có sự liên quan đến sự đa dạng và khác biệt, mà luôn là điểm mạnh của văn hoá Việt và Chămpa, so với nguyên tắc thống nhất như một của văn hoá Hoa Hạ.
Cụm Ngũ Hành Sơn ở Đà Nẵng đối xứng với cụm Ngũ Lĩnh (hay Nam Lĩnh) ở miền nam Trung Quốc.
NÚI NGŨ NHẠC (Ở ĐỒNG BẰNG SÔNG HỒNG)
Núi Ngũ Nhạc (Ngũ Nhạc Linh từ) tại Việt Nam là một dãy núi linh thiêng nằm trong khu di tích quốc gia đặc biệt Côn Sơn, thuộc xã Lê Lợi, TP. Chí Linh, tỉnh Hải Dương. Dãy núi này có 5 đỉnh, trên các đỉnh núi này, người xưa cho xây các miếu thờ 5 vị sơn thần (Ngũ Phương Ngũ Lão quân) và được gọi là Ngũ Nhạc linh từ.
– Đông Nhạc miếu tượng trưng cho hành mộc (màu xanh) thờ Thanh Đế;
– Tây Nhạc miếu tượng trưng cho hành kim (màu trắng) thờ Bạch Đế;
– Nam Nhạc miếu tượng trưng cho hành hỏa (màu đỏ) thờ Xích Đế;
– Bắc Nhạc miếu tượng trưng cho hành thủy (màu đen) thờ Hắc Đế;
– Trung Nhạc miếu tượng trưng cho hành thổ (màu vàng) thờ Hoàng Đế.
Ngũ nhạc Côn Sơn có nguyên tắc sắp xếp y như Ngũ nhạc danh sơn ở Trung Quốc.
TẢN LĨNH & NGŨ CUNG (Ở ĐỒNG BẰNG SÔNG HỒNG)
Theo truyền thuyết, Tản Viên Sơn Thánh đã đi khắp nơi, dựng nhiều hành cung trên đất Việt. Hiện tại hệ thống các hành cung của Tản Viên còn lại gồm:
– Thượng cung thần điện là đền Thượng, nằm trên đỉnh Tản của núi Ba Vì.
– Tây Cung gồm đền Trung trên núi Chàng Rể và đền Hạ ở bờ hữu sông Đà, đối diện với Động Lăng Xương huyện Thanh Thủy tỉnh Phú Thọ, nơi thờ đấng sinh thành Ngài là cha Nguyễn Cao Hạnh và mẹ bà Đinh Thị Đen.
Nam Cung là đền Ao Vua
– Đông Cung là Đền Và ở cạnh thị xã Sơn Tây, cạnh sông Hồng. Hội Đền Và khi tổ chức còn có sự tham gia của làng Duy Bình, nơi có Đền Dội ở đối diện bên kia bờ sông Hồng, tương truyền là nơi Thánh Tản đã lấy nước tắm bên sông.
– Bắc Cung là đền Thính ở Tam Hồng – Yên Lạc – Vĩnh Phúc. Thính là đọc tranh âm của Thánh. Thính cũng có thể hiểu là thính giác, đền và ứng với vị giác. Bắc Cung Thượng là đền Tranh ở Trung Nguyên – Yên Lạc – Vĩnh Phúc. Yên Lạc cũng là nơi có di chỉ khảo cổ Đồng Đậu, với tầng văn hóa từ thời Phùng Nguyên.
Theo thần tích Đền Và thì cung Trung và cung Hạ (Tây Cung) là nơi cầu đảo, tế lễ. Đông Cung là nơi “nghe tâu bày các việc”. Bắc Cung là nơi nghỉ ngơi.
Tuy gọi là Đông – Tây – Nam – Bắc cung nhưng nếu nhìn trên bản đồ thì các cung này nằm gần như trên cùng một đường thẳng chạy theo hướng Đông Bắc – Tây Nam, cắt vuông góc với sông Hồng ở gần Sơn Tây. Đây là cũng là hướng “tọa Cấn hướng Khôn”, hướng của Đền Thượng như ghi trong thần tích Đền Và.
Các cung này liên quan ngũ cung (trong âm nhạc) vì Đức Thánh Tản Viên là vua cha nhạc phủ, và liên quan đến ngũ uẩn.
Núi Tản đối với người Việt giống như núi Thái Sơn với người Trung Quốc.
Nhất cao là núi Tản Viên
Nhất sâu là vũng Thủy Tiên cửa Vường
—o—
Nhất cao là núi Tản Viên
Nhất thanh, nhất lịch là tiên trên đời
—o—
Nhất cao là núi Tản Viên
Bình yên vạn sự là tiên trên đời
—o—
Ai qua núi Tản sông Đà
Ghé qua Tu Vũ mặn mà tình thương
—o—
Đồng xanh sông Nhị chạy dài
Mây quang non Tản chiếu ngời Thăng Long
—o—
Bao giờ đổ núi Tản Viên
Cạn sông Tô Lịch thiếp mới quên nghĩa chàng
Tản Lĩnh đối xứng với Tần Lĩnh, ít nhất về nghĩa là rõ ràng. Khi Tần Lĩnh mạnh, văn minh Hoa Hạ ra đời và xảy ra với sự kiện thống nhất đất nước Trung Quốc thì Tản Lĩnh hay văn minh Việt chìm xuống, đúng hơn là tản ra. Tức nhiên, Tản Lĩnh cũng là Viên Lĩnh, Tần mạnh rồi Tần phải suy.
HỒNG LĨNH (THỨU LĨNH) : KINH ĐÔ CỦA ĐẤT NƯỚC XÍCH QUỶ CỦA VUA KINH DƯƠNG VƯƠNG
Hồng Lĩnh là một dãy núi nằm tại tỉnh Hà Tĩnh, đúng hơn nằm ở xứ Nghệ bao gồm cả tỉnh Hà Tĩnh và Nghệ An.
Theo Ngọc phả Hùng Vương : “Vua Kinh Dương Vương thông minh thánh trí, vượt trội hơn tầm của Đế Nghi. Đế Minh muốn truyền ngôi báu để làm chính thống cho muôn nước. Nhưng Kinh Dương vương cố nhường cho anh. Thế là Đế Minh lập Đế Nghi nối ngôi, cai trị phương Bắc, phong cho Kinh Dương vương quay mặt về phương nam mà cái trị thiên hạ [tức là làm vua phương Nam], gọi tên là nước Xích Quỷ.
Kinh Dương vương kính tuân chỉ dụ của vua cha, đem quân lính theo núi Nam Miên mà đi về phía nam. Trên đường ngắm xem phong thủy, chọn nơi hình thế thắng địa để đóng đô ấp [tức quốc đô]. Qua đất Hoan Châu (nay đổi là xứ Nghệ An. Nơi đó là các xã Nội Thiên Lộc, Tả Thiên Lộc, Tỉnh Thạch thuộc huyện Thiên Lộc phủ Đức Quang) vua chọn được một vùng phong cảnh tươi đẹp, [núi non] muôn nhẫn lâu đài, gọi là núi Hùng Bảo Thứu Lĩnh, tất cả có 199 ngọn. (Xưa gọi là Cựu Đô, nay gọi là Ngàn Hống).
Vùng này giáp biển ở cửa Hội Thốn, đường núi quanh co, đường sông uốn khúc, địa thế rồng cuộn hổ ngồi, bốn hướng cùng trông, bèn xây dựng đô thành để định nơi cho bốn phương triều cống. Bấy giờ khí xuân ấm áp, vô vàn cảnh sắc. Vua Kinh Dương bản tính thích phong thuỷ bèn lên thuyền ngự tuần du hải ngoại. Vua trải xem địa đồ, bất giác thấy thuyền rồng đã thẳng đến hồ Động Đình. Vua sai dừng thuyền, đứng xem cảnh trời nước. Vua chợt thấy một thiếu nữ lưng eo dung nhan tuyệt sắc từ dưới nước đi lên. Vua cho là cuộc hội ngộ hiếm có xưa nay, bèn sai quân chèo thuyền đến gần. Vua nói:
– Tiên nữ đẹp quá, từ đâu đến đây?
Thiếu nữ đáp:
– Thiếp tên là Thần Long, là con gái vua Động Đình. Thiếp ở trong thâm cung cửa ngọc, từ lâu đợi bậc anh hùng. Nay gặp thiên sứ, nguyện được hầu trầu khăn.
Kinh Dương vương vui mừng đẹp ý, bèn dắt tay thiếu nữ bước vào trong long thuyền. Vua cho quay thuyền trở về thành đô, lập Thần Long làm Cung vi chính khổn (Hậu cung Chính khổn)
Ngày sau vua lại đi tuần thú, rong ruỗi xa giá xem khắp các nơi sơn xuyên. Đến xứ Sơn Tây thấy một nơi địa hình đồi non chập chùng, sông đẹp núi lạ. Vua bèn tìm mạch đất, nhận được khí mạch từ trên núi Côn Lôn đi xuống, qua cửa Ải, lòng sông thoát mạch, rồng đi gần xa đến núi Tụ Long tiếp với châu Thu Vật xứ Tuyên Quang, biến ra toà Kim tinh cao muôn nhẫn. Mạch đất chảy đến các làng Hạ Hoa, Thanh Ba, Sơn Vi, Tây Lan, Phù Ninh phủ Lâm Thao, rồi đến chùa Long Hoa thôn Việt Trì ở Ngã ba sông Bạch Hạc là dừng. Mạch này bên trái từ sông Lôi Hà núi đi đến đâu sông theo đến đó, qua các huyện Đông Lan, Sơn Dương, Đương Đạo, Tam Dương đột khởi núi Tam Đảo, Tả cung Tiên làm thanh long. Trùng sơn vạn thuỷ, nổi lên các dãy núi ở Lập Thạch, Bách Ngoã, Chu Diên, Thanh Tước, Ngọc Bội, Khai Quang. Phụ bên trái có các núi Châu Sơn, Sóc Sơn, Chung Sơn, Trà Sơn, Từ Sơn, Trạm Sơn, Tích Sơn, An Lão sơn thuộc xứ Kinh Bắc chầu về, dẫn đến Hải Dương, Đông Triều, Hoa Phong, Yên Tử thoát ra đến biển, Đồ Sơn tám xã làm Long đầu chầu án. Mạch bên phải từ Ba Thục, Hán Giang, Nhị Hà, Lô Giang, Thao Giang, núi chạy đến đâu sông theo đến đấy. Đến Tuyên Quang, Hưng Hoá, Thập Châu, Thanh Nguyên, Bạn Hà, Đà Hà đến huyện Bất Bạt đột khởi núi Tản Viên. Hữu cung tiên làm Bạch hổ, muôn nhánh quần sơn nổi lên ở Minh Nghĩa, Phúc Lộc, Thạch Thất,Yên Sơn, Tây Phương, Sài Sơn, Tử Trầm, hũu bật đến Chương Đức, Đại Yên, Hương Tích sơn thuộc xứ Sơn Nam. Bên phải là Na Sơn, Nam Công, Vũ Phượng sơn, Đội sơn, Điệp sơn, Nghi Dương sơn, chầu phục vào trong, chảy thoát đến núi cửa biển Thần Phù ỏ núi Chính Đại thuộc Ái Châu, thoát đến Chích Trợ sơn, cửa Trà Lý làm đầu hổ chầu, lấy sông Bạch Hạc làm Nội minh đưòng, lấy Ngã Ba Lãnh ở sông Cả thuộc huyện Nam Xương làm Trung minh đường, núi Tượng Sơn ở Nam Hải làm Ngoại minh đường. Nghìn non nâng chủ, vạn thuỷ chầu nguồn, đều hướng về ngọn tổ sơn Nghĩa Lĩnh. Thu tận hình thế, vua nhận ra thế cục của đất này quý đẹp hơn đô thành cũ ở Hoan Châu, bèn lập Chính điện ở núi Nghĩa Lĩnh để thỉnh thoảng ngự giá đến nghỉ. Bên ngoài lại dựng đô thành Phong Châu (nay là Cựu đô thành ở thôn Việt Trì xã Bạch Hạc, huyện Bạch Hạc), đặt quốc hiệu là nước Văn Lang (Đông giáp Nam Hải, tây đến Ba Thục, bắc đến Động Đình hồ, nam tiếp nước Hồ Tôn (nay là nước Chiêm Thành). Rồi vua ngự giá về cựu đô ở Hoan Châu. Việc dựng đô thành của vua, trước bắt đầu ở núi Thứu Lĩnh, sau lại dựng ở núi Nghĩa Lĩnh, nay lấy núi Nghĩa Lĩnh làm nơi đóng đô ấp của nước Việt Thường. Bấy giờ vua đi tùân thú trở về cung điện ở núi Nghĩa Lĩnh vừa lúc cung phi con gái vua Thần Long có mang, rồng hiện điềm lành, khắp nhà rực ánh sáng đỏ, trong trướng hương thơm ngào ngạt toả ra. Cung phi nghỉ trong trướng ngọc khoảng một tuần (10 ngày) thì sinh ra Lạc Long quân.”
Hồng Lĩnh đi theo nguyên tắc hư vô, hỗn mang, chồng chập, tất cả đều có ở mọi nơi, mọi lúc, đồng thời ở tại đây và ngay lúc này. Đó là nghĩa của hồng, thứu có nghĩa cổ phức tạp hơn, nhưng cơ bản cũng là như vậy.
Hồng Sơn cao ngất mấy trùng
Lam Giang mấy trượng thì lòng mấy nhiêu
Thôi thôi từ giã bạn vàng
Cá lui về sông Vịnh, chim ngược ngàn kiếm đôi
Thôi thôi đã thế thì thôi
Chín mươi chín khe Hồng Lĩnh thiếu chi nơi quế trồng
Rú Bờng, rú Mã, rú Bin
Ba rú họp lại bằng một chin rú Hồng
Sông Lam Giang càng ngày càng rộng
Núi Hồng Lĩnh mỗi bậc mỗi cao
Bấy lâu nay nguyệt tỏ với đào
Búp hoa tàn hết nhụy, chàng tính sao bây giờ?
Bắp với khoai tuy rằng khác giống
Nhưng cùng sống trên cục đất giồng
Anh với em đồng vợ đồng chồng,
Tát biển Đông cũng cạn, đập núi Hồng cũng tan.
Kệ Sơn, Phượng Lĩnh đôi hàng
Đi về mấy độ, ngang tàng vào ra
Ngàn Hồng hỏi khách đi qua
Nào ai là kẻ xông pha đứng đầu?
Phượng Lĩnh là tên ngọn núi xã Đồng Lộc, huyện Hậu lộc, tỉnh Thanh Hóa, nhưng bài ca dao này nói về Phương Lĩnh như là một phái sinh của Ngàn Hồng hay Ngàn Hống, chính là Hồng Lĩnh
DI LĨNH
Di Lĩnh, một ngọn núi đá vôi (lèn) nằm giáp ranh giữa 3 xã Diễn Bình, Diễn Minh, Diễn Thắng của huyện Diễn Châu, tỉnh Nghệ An. Còn có tên dân gian là lèn Dặm hoặc lèn Hai Vai.
Lèn Hai Vai có chiều dài 800m, nơi rộng nhất 120m, nơi cao nhất 141m. Theo truyền thuyết, ông Đùng đánh giặc ngoại xâm đã đứng từ trên cao ném đá vào quân thù, tạo ra lèn Hai Vai, lèn Cờ, và lèn Trống.
Di Lĩnh nổi tiếng trong ca dao như Tản Lĩnh và Non Nước
Kìa Di Lĩnh đó mây tà
Bước đi một bước lòng đà quặn đau,
Đường xuống bến kẻ sau người trước
Thuyền cập bờ cứ bước mà lên.
—o—
Làng ta phong cảnh hữu tình,
Đôi bên khéo đẻ ra mình ra ta
Trưa nồng nằm gốc cây đa,
Chiều về tắm mát ngã ba sông Bùng
Sớm mai vừa hửng đằng đông,
Rủ nhau lấy đá non bồng Hai Vai
—o—
Trèo lên chót vót Hai Vai
Ra tay khoát gió khoác vai ông Đùng.
—o—
Tiền Tam Thai
Hậu cũng Tam Thai
Tả Di Lĩnh Hai Vai
Hữu Kỳ Giang ba ngả
Trai trong làng trong xã
Đều rả rích giao hiền
Trai đèn sách luyện rèn
Gái tằm tơ bông vải
—o—
Núi Di Lĩnh mây bay
Sông Bùng con cá lượn
Núi cao cao nghìn trượng
Sông uốn khúc dặm dài
Gái lịch sánh trai tài
Muôn dân đều náo nức.
—o—
Lạch Vạn có lèn Hai Vai
Trên thời Phủ Diễn, dưới thời xóm Trang.
—o—
Lèn Hai Vai cao mấy trượng,
Rộc Vang Thượng rộng mấy tầng.
Có o con gái họ Trần,
Cởi áo xắn quần lội nước trèo non.
Bao giờ rặc nước sông Bùng
Hai Vai trúc đá, bể Đông cát bồi,
Thì xin thầy mẹ sang chơi
Hai ta kết ngãi làm đôi vợ chồng.
—o—
Khi mô trúc núi Hai Vai,
Sông Bùng cạn nước mới sai lời thề.
—o—
Ai về Phủ Diễn mà coi,
Sông Bùng tắm mát Hai Vai đứng chầu.
Di Lĩnh gánh vác vận hành, vi hành của non sông, như cái tên của nó. Di Lĩnh cũng được tạo ra bởi ông Đùng, như Hồng Lĩnh và bản chất vẫn nằm trong bộ Hồng Lĩnh như Phượng Lĩnh.
NGHĨA LĨNH – ĐỀN HÙNG (Ở ĐỒNG BẰNG SÔNG HỒNG)
Nghĩa Lĩnh (hay núi Cả, núi Hùng) là ngọn núi thiêng cao 175 mét, tọa lạc tại xã Hy Cương, thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ. Nơi đây là trung tâm của quần thể Khu di tích lịch sử Đền Hùng, nơi lưu giữ các di tích thờ phụng các Vua Hùng.
Vẫn theo Ngọc phả Hùng Vương “Lạc Long Quân huý Sùng Lãm, ở ngôi 400 năm, thọ 420 tuổi, sinh một bọc trăm trứng, an lành nở ra 100 con trai. Vương định 100 họ (tính), đặt 100 tên, xưng 100 hiệu, làm 100 vị thần, mỗi vị chiếm cứ một khu, đều xưng là Thuỷ tổ của Bách Việt, rất mực linh thiêng. Vua cha là Long Quân hoá sinh bất diệt, trở về biển thành Tiên, là Động Đình đế quân.
Long quân bẩm sinh tư chất phi thường, tự có khí tượng đế vương, bèn được lập làm Hoàng thái tử. Bấy giờ có con gái của Đế Lai tên là Âu Cơ về sống ở quê mẹ tại động Lăng Sương huyện Thanh Nguyên châu Đà Bắc (nay đổi làm sách Lăng Sương huyện Bất Bạt). Một hôm Âu Cơ đi chới ở châu Trường Sa, gặp khi vua đi tuần thú ở Đà Giang. Vua thấy Âu Cơ dung nhan xinh đẹp, rất vừa ý, bèn lấy làm vợ, lập làm Hoàng phi. Thề ròi Kinh Dương vương sai Lạc Long quân ra ở tại đô thành núi Nghĩa Lĩnh tại Phong Châu thay vua cha làm việc nước. Kinh Dương vương ở ngôi 215 năm, thọ 260 tuổi. Lạc Long nhiếp chính.”
Nghĩa lĩnh là lĩnh cá thể đặt trong quan hệ với tổng thể, như âm và dương, như chúng ta vẫn nói có nghĩa thế này trong hoàn cảnh này, có nghĩa thế kia trong hoàn cảnh kia
TÂY CÔN LĨNH
Tây Côn Lĩnh là một đỉnh núi trên khối núi thượng nguồn sông Chảy ở phía tây bắc tỉnh Tuyên Quang, dãy núi Tây Côn Lĩnh trải dải trên các xã Thàng Tín, Lao Chải, Hoàng Su Phì, Thanh Thủy, Tân Tiến, Cao Bồ, Nậm Dịch, Thượng Sơn, Tân Quang, Thông Nguyên, cách phường Hà Giang 1 18 km. Với độ cao 2.431 m, đây là đỉnh núi cao nhất vùng Đông Bắc, thường được gọi là “nóc nhà Đông Bắc”. Trên đỉnh núi có mốc trắc địa. Dưới chân núi là rừng nguyên sinh á nhiệt đới còn được bảo tồn. Tây Côn Lĩnh được coi là dãy núi thiêng của người dân tộc La Chí.
Tây Côn Lĩnh chỉ có vị thế vùng miền, như Di Lĩnh vậy, không so sánh được với Tản Lĩnh, Hồng Lĩnh và Nghĩa Lĩnh.
AI LAO SƠN
Nếu như nước Việt mất Ngũ Lĩnh (Nam Lĩnh) vào Trung Quốc ở phía Bắc, thì nước Lào (nước Ai Lao) mất Ai Lao Sơn về tay Trung Quốc theo cách tương tự. Nghĩa của Lào (hay Lao), giống nghĩa với Nam, đều liên quan đến trạng thái đuôi hay thủ hậu. Ai Lao Sơn nằm phía Tây mạch sông Hồng so với Ngũ Lĩnh nằm ở phía Đông mạch hướng ra biển.
Ai Lao Sơn chính là Hậu Lĩnh của nước Lào, và mang vận mệnh của nước Lào vì tên nước Ai Lao, nước Lào cũng chính là tên ngọn núi này.
Vào thời Tam Quốc thì Tần Lĩnh/Ngũ Nhạc Danh Sơn, Ngũ Lĩnh và Ai Lao Sơn thuộc về ba nước khác nhau của Tam Quốc.
Nước Lào thì liên quan gì đến nước Việt ? Xin quay lại Ngọc phả Hùng Vương, đời Hùng Vương 17, Thục Phán (từ phía Bắc, phía nước Thục) đánh Ai Lao, Hùng Vương không can thiệp, Thục Phán thắng, đời Hùng Vương 18, Thục Phán đánh vua Hùng, Vua Hùng mất Nghĩa Lĩnh, sau phải nhường ngôi cho An Dương Vương, lập cột đá thề trên núi Nghĩa Lĩnh. Ngay sau đó An Dương Vương mất nước vào tay Triệu Đà, rồi Triệu Đà lại mất nước vào tay nhà Hán. Lúc này, lại xin quay trở lại với phần của Đại Việt Sử Ký Toàn Thư của Ngô Sỹ Liên viết về Ngũ Lĩnh ở trên.
THẤT SƠN AN GIANG
Thất là bộ số linh thiêng. Khi một dãy nũi có rất nhiều núi mà cứ được gọi theo số 5 hay số 7, như thể là nó chỉ có 5 hay 7 núi là vì con số này là số mạng của cả hệ thống núi này và của cả bản thổ cũng như xứ sở rộng lớn mà núi này đứng.
Thất Sơn còn tên là Cấm Sơn, và đây là nguyên tắc lĩnh có tính bí mật, giống như mật truyền.
Thất Sơn liên quan đền Tà Lơn bên Campuchia, và đi theo mạch sông Mê Kông.
LĨNH NÀO LÀ THỦ LĨNH TỐI CAO ? LĨNH NÀO LĨNH HỘI TẤT CẢ TINH HOA TRỜI ĐẤT ?
Tóm lại, nguyên tắc lĩnh của bộ núi Lĩnh có thể tạm hiểu ví dụ như sau
– Ngũ nhạc danh sơn ở miền bắc Trung Quốc : Lĩnh là ngũ lĩnh, bắc lĩnh, tây lĩnh. Vận số 5, 4, 1
– Ngũ Hành Sơn ở Đà Nẵng, Việt Nam : Lĩnh là ngũ lĩnh, lục lĩnh, thất lĩnh, sơn thuỷ lĩnh. Vận số 5, 6, 7
– Núi Ngũ Nhạc ở Côn Sơn, Chí Linh, Hải Dương, Việt Nam : Lĩnh là ngũ lĩnh. Vận số 5
– Núi Ngũ Lĩnh (Nam Lĩnh) ở miền Nam Trung Quốc (thời Hùng Vương thuộc về nước Việt) : Ngũ là ngũ hành và ngũ nhạc. Lĩnh là thái lĩnh, đông lĩnh, nam lĩnh và cổ lĩnh. Vận số 1 (tính cá thể), 5 và số đông, số nhiều.
– Tần Lĩnh ở Thiểm Tây, Trung Quốc : Lĩnh là tần lĩnh, hoa lĩnh, lĩnh tập trung, thống nhất từ một trung tâm duy nhất. Vận số 1 và hằng hà, tất cả
– Núi Tản Lĩnh & Ngũ cung ở Sơn Tây, Hà Nội, Việt Nam : Lĩnh là lĩnh hội, lĩnh của số đông, của mỗi cá thể và cả tổng thể, Vận số : 0, 1, 2, 3 và 5 và vạn.
– Núi Nghĩa Lĩnh ở Phú Thọ, Việt Nam : Lĩnh là lưỡng lĩnh, với ít nhất 2 thái cực, đặc biệt là cá thể trung tâm, số đông và tổng thể thống nhất dạng số 0 và bách lĩnh. Vận số 2, 1, 0 và 100
– Núi Hồng Lĩnh, ở Nghệ An Hà Tĩnh, Việt Nam : Lĩnh này trong lĩnh khác, cùng một lúc tồn tại, chồng chập lên nhau, trạng thái của hư vô và hỗn mang khởi thuỷ. Vận số 0, 1, 2, 99, 100 (Thứu Lĩnh tên khác của Hồng Lĩnh liên quan đến Bách Lĩnh, Bách Việt, Di Lĩnh ở Nghệ An, Việt Nam : Vận số 2 và Phượng Lĩnh ở Thanh Hoá, Việt Nam : Vận số 0)
– Ai Lao Sơn ở Vân Nam, Trung Quốc (thời Hùng Vương thuộc về nước Ai Lao, nước Lào) : Lĩnh là hậu lĩnh. Vận số 4 (tứ tượng) và vạn (vạn tượng)
– Thất Sơn ở An Giang, Việt Nam, trước đây thuộc về đất của Campuchia : Lĩnh là mật lĩnh, chân lĩnh. Vận số 7 và số nhiều
Câu hỏi là núi lĩnh nào là thủ lĩnh tối cao nhất ? Câu trả lời là tuỳ thời, tuỳ hoàn cảnh, tuỳ đối tượng, tuỳ mục đích mà nguyên tắc lĩnh nào, bộ số nào được vận hành, nhưng xét theo dòng chảy lịch sử xuyên suốt từ 4000 năm qua, nguyên tắc có thể bao trùm tất cả chính là Hồng Lĩnh, bởi vì Hồng Lĩnh đi theo nguyên tắc là mỗi núi lĩnh cứ lĩnh hội và làm thủ lĩnh theo cách của mình, những lĩnh nào cũng hiện hữu, mọi nơi, mọi lúc và từng nơi, từng lúc, trong cái hư vô và hỗn mang khởi điểm của một cái nôi văn mình siêu cổ mà bao trùm Trung Quốc, Ấn Độ, Đông Nam Á và Việt Nam. Những gì chúng ta đang chứng kiến là hiện thực của Công Nguyên, mà Tần Lĩnh mà trong nó có Hoa Lĩnh đang cực kỳ mạnh nhưng Công Nguyên chỉ là một giai đoạn của văn minh khởi nguồn từ Hồng Lĩnh mà thôi. Công Nguyên bắt đầu thì Công Nguyên cũng kết thúc, còn Hồng Lĩnh vẫn luôn ở đó ngay từ giây phút ban đầu và xuyên suốt Công Nguyên.


