![]()
CHỮ CAO 高
Tôi khá ám ảnh về chữ Cao. Thứ nhất do tôi phát hiện ra dòng máu bên cha của tôi là Cao Sơn (trong bộ Cao Sơn – Tản Viên – Quý Minh). Thứ hai là tôi khá ấn tượng về các nhân vật có tên họ Cao trong lịch sử, trong đó có Cao Biền mà tôi cho là một người Việt với năng lượng tự mẫu thuẫn cực kỳ đặc trưng. Thứ ba, tôi khá quan tâm đến các địa danh Cao, mà cho tôi rất nhiều trải nghiệm sâu sắc trong các chuyến đi thăm thú thiên nhiên và khảo sát các di tích lịch sử, văn hoá.
Có một ngày tôi ngồi trên núi Sưa trong Bách Thảo và suy nghĩ về độ cao của núi Tản Viên thực sự tính thế nào. Hôm đó tôi hiểu ra rằng độ cao của núi phải tính theo cao độ thực tính từ chân núi, chứ không phải tính theo độ cao của đỉnh núi so với mặt đất hay so với mặt nước biển. Chúng ta có thể không biết chân núi Tản Viên thực sự nằm ở đâu, nhưng chúng ta phải tôn trọng nguyên lý cơ bản.
“Nhất cao là núi Tản Viên, Nhất sâu là vũng Thuỷ Tiên cửa Vường” vì mạch gốc của núi Tản Viên và vũng Thuỷ Tiên đều tâm Trái đất. Tản Viên ứng với “sơn cao” và Thuỷ Vương ứng “thuỷ thâm”, tạo nên bộ “sơn cao thủy thâm” 山高水深, với cao và thâm là các thái cực của các trường sóng, mà độ cao và độ thâm phải tính theo hệ toạ độ gốc chuẩn cho sơn và thuỷ, không phải là mặt đất.
Tương tự độ cao của cây cũng phải tính từ gốc cây đến ngọn cây chứ không được tính từ mặt đất lên ngọn cây.
Cách đây vài năm sau khi dạy khoá Thanh âm tôi có làm một buổi cá nhân bằng cách dẫn thiền cho một chi học viên để hiểu về tên họ của chị, chị họ Cao. Vào thiền, chúng tôi rơi vào một trường biển để hiểu về cao độ, biển sẽ là trường năng lượng để xác định cao độ gốc. Từ cao độ gốc 0 là mặt biển, hay biên của trường sóng này giữa thổ và khí, chúng tôi đi qua các tầng biển và tầng khí khác nhau, mà ở trên và ở dưới cao độ 0. Chúng tôi gặp một nhân vật, tạm gọi là thuỷ tề mà chỉ cần vung tay là có thể tạo nên các đợt sóng cao thấp khác nhau trên các trường cao độ nước khác nhau, như một nhạc trưởng vung đũa điều khiển dàn nhạc. Tôi hiểu người tôi gặp chính là Cao Sơn.
Trong buổi thiền đó, chúng tôi hiểu về cao trào, là các thái cực của trường sóng trong âm nhạc, trong xúc cảm, trong bão lũ …. Tôi được quan sát sự giao thoa giữa các cao trào của âm nhạc điều khiển bởi nhạc trưởng và các cao trào xúc cảm của thính giả. Trường âm mà chúng tôi quan sát tương tự như những gì được mô tả bởi Annie Beasant và Leadbeater trong cuốn Thought Forms (tôi gửi trong hình minh hoạ).
Những trường cao độ dạng biển hay trường âm là những ví dụ về trường lượng tử (quantum field), mà tôi cũng đã dạy trong khoá Thanh âm. Ví dụ một trường lượng tử được mô tả trong video sau https://www.youtube.com/watch?v=eoStndCzFhg
Cao trào trong một trường cao độ tạo ra một trạng thái hạt trong sóng. Cái này được vật lý lượng tử mô tả cực kỳ rõ ràng : Trong các trường lượng tử, các hạt lượng tử (phonon, photon, quark …. ) được định dạng ở các điểm cao trào nơi sóng chuyển hoá thành hạt (quantum particle).

Có ba dạng cao trào
– Cao trào nằm ở biên của trường cao trào. Đây là cao trào ở mặt biển, nói cách khác là cao trào ở cao độ 0. Cao trào dạng này dễ hiểu nhất, nên các video về quantum field đều mô tả về các hạt lượng tử ở cao độ này.
– Cao trào nằm trên biên độ 0, tạm gọi là cao trào bùng nổ. Ví dụ như một hạt neutron phóng ra khỏi nguyên tử dưới một kích thích quá mạnh, cao hơn lực hạt nhân hoặc một eclectron ở lớp biên tham gia vào phản ứng hoá học
– Cao trào nằm dưới biên độ 0, tạm gọi là cao trào ngầm, ví dụ các neutron âm và các electron ở lớp trong của nguyên tử.
Bây giờ hãy nói về các cao độ cùng cao trào trong chữ Cao.
Một người quen có nói với tôi là nguyên tắc bút thuận không phải là nguyên tắc cấu tạo và vận hành bộ chữ. Điều này tôi hoàn toàn đồng ý. Bút thuận là nguyên tắc thuận tay, thuận hình, thuận mắt, chứ không thuận tư duy, thuận pháp, thuận lý, thuận tâm thế. Tôi không biết một chữ Hán Nôm có gốc như thế nào và phải bắt đầu viết từ đâu, nhưng tôi hiểu rằng cái gốc của chữ và cách viết gốc của chữ phải tồn tại, tương tự như việc tôi có thể không biết chân núi nằm ở đâu, nhưng tôi hiểu rằng chân núi phải tồn tại và độ cao của núi phải xác định từ chân núi đó.
Tôi thường nói với các học sinh bị chấp vào hình chữ và hình tướng, rằng một người phải biết cái gốc của chữ và hình tướng là gì, như một người đi trên đường đạo phải biết cái gốc đạo của con đường mình đi, chứ không được bám chấp vào biển chỉ đường rồi coi biển chỉ đường là gốc, là đạo được. Một học sinh của tôi mà là nhà nghiên cứu ngôn ngữ khẳng đinh rằng tôi biết thiền nên tôi nói được như thế, còn người đó chỉ có công cụ ngôn ngữ và hình tướng thì người đó không bám vào đó thì còn bám vào đâu, nhưng tôi cho rằng người không quan tâm đến cái gốc của chữ thì người này đến cuối cùng sẽ không bao giờ đi được trên con đường chân lý, và vì cũng vì vô pháp như vậy nên thiền là vô nghĩa.
Để lấy ví dụ về việc không cần đi theo nguyên tắc bút thuận, người quen của tôi khẳng định với tôi rằng chữ Cao 高 phải được viết từ đế, nghĩa là từ dưới cùng đi lên. Đây là cách viết chữ Cao theo gốc cao độ và tôi thấy cách viết này cực kỳ chính xác.

Chữ Cao có cấu tạo từ trên xuống dưới tính theo nét như sau
– Nét chấm đặc trên cùng
– Nét ngang dưới nét chấm đặc
– Chấm rỗng (chữ khẩu) dưới nét ngang
– Một khung đại diện cho biên
– Chấm rỗng (chữ khẩu) trong khung
Trong chữ Cao có ba cao độ
– Thượng : Nét ngang trên cùng, tương đương với cao độ +0,
– Hạ : Nét ngang của cái khung, tương đương với cao độ -0
– Trung : Không gian giữa thượng và hạ, tương đương với cao độ 0
Trong chữ Cao có ba cao trào
– Chấm đặc (chấm dương) trên cùng là cao trào bùng nổ, tạm gọi đây là cao thượng
– Chấm rỗng (chấm âm dương) ở giữa tạm gọi là cao trung, hay cao sơn
– Chấm rỗng (chấm âm) bên dưới là cao trào ngầm, tạm gọi là thuỷ thâm
Trong chữ Cao có ba thế
– Nét ngang trên cùng : Biên ngoại thế, cao thượng ở ngoại thế
– Cái khung bên dưới : Biên nội thế, những gì trong khung là trong nội tâm, thuỷ thâm ở nội thế
– Giữa nét ngang trên cùng và cái khung là trường biên nội ngoại
CHỮ KIỀU 喬
Chữ Kiều 喬 trong tên nàng Kiều của truyện Kiều, có liên quan đến chữ Cao.
Chữ kiều có nghĩa là cầu, nhưng không phải là bất kỳ loại cầu nào, mà kiều là một loại cầu đặc biệt bắc qua các cao trào. Cầu Kiều có thể hiểu là sóng kết nối các cao trào dạng hạt. Ví dụ nếu bạn có thể bắc cầu giữa hai đỉnh núi cao nhất, thì đó chính là cầu Kiều.
Chữ Kiều 喬 được cấu tạo bởi việc bắc cầu lên trên chữ Cao 高.
Ca dao có nhiều bài nói về cầu Kiều, vì đây là một trạng thái xúc cảm và một dạng quan hệ trọng yếu, đặc biệt liên quan đến tình yêu.
Bồng bồng mẹ bế con sang
Đò dọc quan cấm, đò ngang không chèo
Muốn sang thì bắc cầu kiều
Muốn con hay chữ phải yêu lấy thầy
“Bồng bồng mẹ bế con sang” : Bồng bồng là trạng thái ở biên cao độ
“Đò dọc quan cấm, đò ngang không chèo” : Cầu Kiều trong ca dao là cầu phương chéo (mặt diện coronal), rất dễ hiểu vì cầu này bắc khi phương dọc (sagittal) và phương ngang (transverse) đều bị cấm, cụ thể là “Đò dọc quan cấm, đò ngang không chèo”. Phương chéo là phương chính trong vận hành của tính nữ so với tung hoành ngang dọc là cách vận hành của tính nam. Mẹ đại diện cho tính nữ và quan đại diện cho tính nam.
“Muốn sang thì bắc cầu Kiều” : Cầu kiều là cầu bắc qua các cao trào, cầu kiều là cầu vượt qua được biên của trường cao độ
“Muốn con hay chữ phải yêu lấy thầy” : Câu này có cực kỳ nhiều trường nghĩa, dành cho mỗi người đọc, mà cần đặt mình vào địa vị “con”. Một nghĩa đơn giản là con muốn nên người thì phải hay (biết) chữ kiều của mẹ và phải yêu lấy thầy, mà chính là cha. Câu này chẳng khác gì câu “Thờ cha kính mẹ mới là đạo con”, nhưng ở đây là yêu cha và đi trên cầu kiều của mẹ.
Cầu kiều ván mỏng gió rung
Bạn về sửa lại cho ta đi chung một cầu
Cầu kiều này là cầu đồng cao trào giữa vợ và chồng, ví dụ vợ chồng đồng cao trào thì yêu đương thắm thiết, khổ đau chia sẻ và tát bể Đông cũng cạn. Nhưng nếu vợ chồng lại đồng cao trào bạo lực, tấn công, nghi ngờ, căm giận lẫn nhau thì “cầu kiều ván mỏng gió rung” sẽ sập.
ĐẠO KIỀU TRÊN CON ĐƯỜNG THIỀN CHỮA LÀNH
Cao trào là thứ theo đuổi tôi rất nhiều trên con đường chữa lành ký ức và xúc cảm, bởi vì ký ức được ghi nhận, phân loại và hồi tưởng theo cao trào. Ví dụ tôi có thể nhớ rõ mùi vị của món đùi ếch tẩm bột rán tôi được ăn hồi mẫu giáo mà không thể nhớ được bữa cơm cách đây vài ngày, đơn giản vì món đùi ếch này là một cao trào của xúc cảm mùi vị, trong khi bữa ăn cách đây ba ngày thì quá bình thường, chả có gì để nhớ.
Cao trào liên quan đến trạng thái địa ngục, mà giam một người âm trong một cao trào nào đó, khiến cho họ không thoát được ra và không còn biết mình là ai. Cao trào này gây ra do dính mắc trần thế lúc họ còn sống chứ không phải do Diêm Vương.
Cả ba điểm cao trào trong chữ Cao đều có thể đưa một người xuống địa ngục nhưng cao trào cuối có lẽ tiêu biểu nhất.
Ra khỏi cao trào chính là kỹ thuật để ra khỏi địa ngục. Địa ngục là cái khó ra khỏi nhất trên thế gian này, nói thế là đủ biết khó ra khỏi cao trào thế nào. Cho nên, thày Thích Ca khuyên Mục Kiền Liên, đệ tử đệ nhất thần thông rằng để cứu mẹ dưới địa ngục phải đợi đến Vu Lan và nhờ sự trợ giúp của chư tăng có cùng hạnh nguyện cứu thế như Mục Kiền Liên. Hạnh nguyện cứu thế rất mạnh vào ngày Vu Lan, sẽ giúp cho Mục Kiền Liên dưới sự trợ giúp của Tăng Đoàn cứu được mẹ ra khỏi địa ngục.
Chữa lành đích thực đòi hỏi phải có sự thấu hiểu các cao trào và đó là cấp độ thiền rất cao, vì nó cho phép một người đi xuyên qua địa ngục tâm thức của chính họ và qua đó hiểu được địa ngục tâm thức của nhân loại.
Bây giờ nhiều người kém xa Mục Kiền Liên, chẳng biết đến đức Phật, chẳng có tăng đoàn, chẳng hiểu gì về Vu Lan, chẳng có hạnh nguyện cứu thế lại nghĩ họ có thể chữa lành vết thương với cha mẹ hay dòng họ bằng kỹ thuật chữa lành hay tâm lý học hiện đại với rất nhiều cái tên mỹ miều như Inner Child hay Ancestor Healing. Cái Mục Kiền Liên làm chính là chữa lành cây dòng họ, còn cái mà số đông không đủ năng lực làm là kích động ký ức.
Kích động cao trào cảm xúc là cái xảy ra thật sự trong nhiều lớp học “chữa lành” ký ức đời hiện tại và ký ức gia đình dòng họ cho người sơ cơ, vừa không hiểu về xúc cảm, vừa không hiểu về ký ức, vừa không hiểu về bản thân, vừa không hiểu về thiền, hoặc hiểu tất cả những thứ này bằng một mớ lý thuyết do người khác đem đến cho họ.
Mọi người thường nghĩ rằng ký ức đời hiện tại và dòng họ gần dễ xem hơn và khách quan hơn tiền kiếp xa, bởi vì họ chưa hiểu về nội thế và ngoại thế thiền, cũng như chưa hiểu về nội thế và ngoại thế ký ức. Người sơ cơ không có năng lực quan sát trong thiền, mà qúa dễ dàng bị kích động bởi ký ức, mà họ cho rằng họ nhớ được vì có thiền. Kích động cảm xúc với ký ức đời này là điều cực kỳ dễ dàng, không cần có năng lực tâm linh hay thiền, chỉ có năng lực tâm lý học và lý luận là làm được.
Nhưng có lẽ đây là bài học và trải nghiệm mà người sơ cơ cần đi qua trên con đường ham cầu quá nhiều thứ được dán mác thiền chữa lành. Một số sẽ vĩnh viễn đóng lại cánh cửa chữa lành, mở ra cánh cửa hận thù và một số sẽ đi tiếp được với một số vết thương, mà cần thiết cho họ để biết rằng họ không ổn.
Kiều chính là kỹ thuật chính trong chữa lành ký ức. Kiều là năng lượng chính của Vu Lan, mà cho phép mở cửa địa ngục, phá cao trào. Kiều là hạnh nguyện cứu thế gia đình dòng họ của Phật tử và cư sỹ tại gia trong mùa Vu Lan, theo tấm gương của Mục Kiền Liên.
Hiểu chữ Kiều này cho phép chúng ta hiểu truyện Kiều chính là một dạng Kinh tình yêu, Kinh đạo Mẫu của người Việt. Hiểu chữ Kiều cho phép chúng ta chạm vào đạo Kiều từ cả góc độ lý thuyết và thực hành sâu sắc hơn nhiều.
