![]()
VU LAN BÁO HIẾU
Vu Lan, còn được gọi là lễ báo hiếu, là một trong những ngày lễ chính của Phật giáo (Đại thừa Bắc tông) ở Việt Nam và Trung Quốc.
Ca dao có câu :
Vu Lan tháng bảy ngày rằm
Lòng con hiếu thảo ghi lòng chớ quên
Đạo Phật là đạo xuất gia, Vu Lan là ngày lễ gia đình duy nhất của đạo Phật, dành cho vai người con với cha mẹ.
Một người có thể đóng ba vai trò chính trong mối quan hệ gia đình, là con, là vợ chồng, là cha mẹ. Với một người Phật tử xuất gia, làm con của cha mẹ là vai duy nhất còn được giữ trong ba vai trò cơ bản trong gia đình này. Hai quan hệ gia đình còn lại là quan hệ vợ chồng và quan hệ với con cái trong vai cha mẹ sẽ chỉ được giữ bởi cư sỹ tại gia.
Một Phật tử xuất gia có thể xuất gia từ vai trò làm cha mẹ và làm vợ chồng, như đức Phật Thích Ca, nhưng hai vai trò này đã kết thúc cùng với lễ xuất gia. Một người Phật tử xuất gia khi chưa lập gia đình đương nhiên từ bỏ vai trò làm vợ chồng và làm cha mẹ.
Trước hết nói về Phật tử xuất gia. Để xuất gia được, một người phải đảm bảo hoàn thành mọi vai trò trong gia, như làm con của cha mẹ, làm chồng của vợ, làm cha của con.
Với trường hợp của đức Phật, trước khi từ bỏ ngai vàng, ngài đã phải làm một vị vua đàng hoàng và đảm bảo đất nước của ngài yên ổn sau khi ngài ra đi, đó là xuất thế trọn vẹn; trước khi từ bỏ gia đình, ngài cũng đã phải làm một người con đàng hoàng, một người chồng đàng hoàng, một người cha đàng hoàng, và sau khi ngài đi, những người còn lại phải có khả năng gánh vác thế cục gia đình, đó là xuất gia trọn vẹn.
Xuất gia và xuất thế không phải tạo ra một đống quan hệ, một đống vai trò, một đống thế cục, rồi vứt bỏ chúng lại. Xuất gia và xuất thế không phải là rũ bỏ trách nhiệm và đổ nợ nần sang đầu người khác. Xuất gia, xuất thế không phải là đi trốn đời, mà là vẫn ở trong đời, chỉ là tử trọn vẹn thế cũ, để chuyển trọn vẹn sang thế mới.
Một người làm lễ xuất gia nhưng tâm không xuất được gia, nghĩa vụ gia không kết thúc hoặc chuyển giao được, nghĩa là lễ xuất gia của người ấy chỉ là hình thức. Người xuất gia không xong, nhập đường đạo chẳng được sớm hay muộn cũng là người phá hoại cả gia và đạo, và đương nhiên phá huỷ cả đường đời của mình, như là hậu quả của cái thế xuất gia nửa vời mà họ bước chân vào.
Bởi vì làm người ai cũng có cha mẹ, ai cũng đóng vai con đầu tiên trong đời và ai cũng cần báo hiếu, nên lễ Vu Lan báo hiếu dành cho cả Phật tử xuất gia và cư sỹ tại gia. Cư sỹ tại gia báo hiếu cha mẹ là đương nhiên, còn Phật tử xuất gia vẫn cần báo hiếu cha mẹ, chỉ là hai thế đạo và đời này tạo ra hai cách báo hiếu khác nhau.
Vậy một cư sỹ tại gia và một Phật tử xuất gia báo hiếu cha mẹ khác gì một người bình thường ? Đạo Phật đóng vai trò như thế nào trong việc báo hiếu này ? Đó là Phật tử và cư sỹ Phật giáo cần có một hạnh nguyện cứu thế xuất gia, với gia đình, dòng họ nói chung, và trước hết với cha mẹ. Giải thích cụ thể hơn nằm trong tích Mục Kiền Liên cứu mẹ vào ngày Xá tội vong nhân.
MỤC KIỀN LIÊN CỨU MẸ VÀO NGÀY XÁ TỘI VONG NHÂN
Lễ Vu Lan trùng với ngày Rằm tháng 7 Xá tội vong nhân của phong tục Á Đông. Theo tín ngưỡng dân gian, là ngày mở cửa ngục, ân xá cho vong nhân nên có lễ cúng cô hồn cho các vong linh không nơi nương tựa, không có thân nhân trên dương thế để thờ cúng, và là ngày mọi tù nhân ở địa ngục có cơ hội được xá tội, được thoát sanh về cảnh giới an lành.
Ngày xá tội vong nhân là ngày vong xuất ngục. Có những con ma khi mất vừa không xuất được gia, vừa không xuất được thế của chúng khi còn sống. Như vậy, dù cửa địa ngục có mở, những con ma này vẫn không có khả năng ra khỏi ngục hoặc xuất ngục trong thời gian lễ Vu Lan thì lại nhập vào sau đó, khi không có nhập vững một thế khác bên ngoài địa ngục.
Rõ ràng đạo Phật có năng lực đặc biệt trong ngày lễ Vu Lan, vì đây là đạo xuất gia, xuất thế. Đạo Phật có năng lực cứu thế, chuyển thế cho các vong ma vào ngày Vu Lan. Đạo Phật làm được việc đó thông qua các Phật tử xuất gia và cư sỹ tại gia, những có năng lực tự chuyển thế cho mình và do đó có khả năng cứu thế trước hết cho cha mẹ mình, sau đó cho cha mẹ của mình trong các kiếp luân hồi, và rộng hơn nữa là cứu độ chúng sinh tự cứu thế cho chính mình và cho gia tiên dòng họ, theo tấm gương của Mục Kiền Liên.
Nhiều vị đệ tử của Đức Phật vô cùng phi thường, quảng đại, thế nhưng riêng Tôn giả Mục Kiền Liên được Đức Phật khen ngợi là thần thông vào hàng đệ nhất, cho phép Ngài sử dụng thần thông để hóa độ chúng sinh. Sở dĩ Ngài lại có thể đắc Thánh quả một cách nhanh chóng, đó là bởi vì Ngài đã trải qua rất nhiều kiếp tu hành, cho nên đến khi được gặp Đức Phật, căn lành đời trước của Ngài đã viên mãn liền được khai mở và phát tâm xuất gia theo Phật.
Bà Thanh Đề được biết đến là mẹ của Tôn giả Mục Kiền Liên, lúc còn sống bà là người vô cùng xa hoa, lãng phí. Mỗi bữa ăn của bà thường sẽ nấu rất nhiều món khác nhau, ăn không hết sẽ để vương vãi trên khắp mặt đất, Mục Kiền Liên luôn nhặt những hạt cơm rơi, rửa sạch bằng nước sau khi ăn.
Khi cha mẹ qua đời, Mục Kiền Liên xuất gia trở thành vị tu sĩ theo Đức Phật. Mục Kiền Liên sau khi sửa chữa tu tập, việc đầu tiên ông muốn là để cứu rỗi đã được cha mẹ đã chết, đã sinh ra để trả nợ bố mẹ.
Mục Kiền Liên tu tập chứng quả A La Hán với sức mạnh thần thông của mình đã đến địa ngục thăm mẹ.
Ở địa ngục đầu tiên, ông thấy những cảnh người điên giết hại lẫn nhau, máu ở khắp mọi nơi, khóc âm thanh kêu la khủng khiếp. Nhiều người đã chết trong nhiều kẻ thảm sát lẫn nhau, nhưng một cơn đột ngột của gió, những người đã chết sống lại, lại bắt đầu giết hại lẫn nhau. cái chết của địa ngục đã được thổi trực tiếp, bắt đầu giết một lần nữa.
Ông không tìm thấy mẹ của mình trong số những người này, sau đó ông đi sang một địa ngục khác. Mục Kiền Liên đến “địa ngục dây điện”, thấy nhiều người là cáp màu đen thắt cổ. Mục Kiền Liên ở đây nhưng không thể tìm thấy mẹ của mình.
Vì vậy, ông đã đi đến “địa ngục đói khát”, nơi chứng kiến nhiều con thú hung dữ cắn khủng khiếp điên cuồng tội nhân. Ở đây, có rất nhiều dụng cụ tra tấn người tội. Mục Kiền Liên không tìm thấy tên mẹ mình.
Sau đó, Mục Kiền Liên đã đi đến “cửa địa ngục”, “địa ngục nóng” và “địa ngục băng” những người tội lỗi khóc trong đau đớn cũng không có mặt của mẹ mình.
Mục Kiền Liên cuối cùng đến một tầng địa ngục ngầm sáu dặm sâu và thấy một nhóm đói gầy và thấy người mẹ của mình trong đó. Tóc mẹ dài và dơ bẩn, người như thể chỉ có một miếng da. Mẹ úp mặt trên mặt đất, không thể ngẩng đầu lên nổi.
Mục Kiền Liên lập tức chạy đến ôm và dâng bát cơm cho mẹ ăn đỡ đói. Bà Thanh Đề khi còn sống phỉ báng Tam Bảo, tâm tham nặng nề, dù làm ngạ quỷ dưới địa ngục thì cũng không dứt bỏ được lòng tham. Bà lấy tay đỡ bát, tay kia lấy vạt áo che vội bát cơm rồi chạy đến chỗ không có ngạ quỷ mà lén ăn một mình. Thế nhưng, do nghiệp chướng quá nặng mà cơm trắng khi vừa đưa lên miệng thì tự nhiên hóa thành than đỏ.
Thấy mẹ mình đói khát khổ sở mà không thể giúp đỡ, Ngài đã đến thưa với Đức Phật. Được Đức Phật bảo rằng mẹ Ngài hủy báng Tam bảo, tội nghiệp nặng nề, sức của mình ông thì không thể giải cứu được. Muốn cứu mẹ mình thì vào ngày rằm tháng bảy, lúc chư tăng Tự tứ, chư Phật hoan hỷ, hãy thiết lễ Vu Lan Bồn, là lễ cúng giải cứu cái khổ bị treo ngược. Theo lời Đức Phật, vào ngày rằm tháng bảy năm đó, mẫu thân của Ngài đã được giải thoát.
Tôn giả Mục Kiền Liên hiện thân như một vị Bồ Tát sống, nhờ thần lực chú nguyện của chư Phật và Thánh tăng mà về sau đã chuyển hóa được lương tâm của bà Thanh Đề. Nhờ bà ăn năn, hối cải, thành tâm chuyển đổi tâm ý mà được thoát khổ, siêu thoát và sinh lên cõi trời để hưởng phước báu an lành.
Sau này, hình ảnh Mục Kiền Liên Bồ Tát cứu mẹ nơi địa ngục đã trở thành hình tượng hiếu đạo trong Phật giáo. Mục Kiền Liên Bồ Tát là hiện thân cho hạnh nguyện cứu mẹ thoát khỏi cảnh khổ, là hình ảnh tiêu biểu cho hiếu đạo của con người đi theo con đường quy y Tam Bảo. Nương theo câu chuyện của ngài, đức Phật đã dạy chúng sinh ai muốn báo hiếu cho cha mẹ hãy làm theo cách của ngài (Vu Lan Bồn Pháp). Từ đó, sự tích lễ Vu Lan ra đời gắn liền với sự tích Kiền Liên cứu mẹ.
Như vậy việc đầu tiên là mỗi Phật Tử và cư sỹ xuất gia cần có hanh nguyện cứu thế chính mình, cha mẹ, gia đình, dòng họ, theo tâm gương của Mục Kiền Liên, đặc biệt vào ngày Vu Lan. Nếu không có hạnh nguyện cực kỳ mạnh mẽ này, giá trị của ngày Vu Lan là rất thấp.
RẰM THÁNG BẢY TRONG NHO GIÁO
Dân gian có câu
“Cúng bái quanh năm không bằng rằm tháng Bảy”
Câu này nói về ngày Rằm tháng Bảy, với trạng thái nhập thế, trạng thái của nhân gian.
Nho giáo, như là Tôn giáo Nhập thế đối xứng với Phật Giáo, như là Tôn giáo Xuất thế. Chúng ta không thể xuất gia, xuất thế, nếu chúng ta còn chưa nhập gia, nhập thế. Chúng ta xuất thế này, nghĩa là nhập thế khác và ngược lại.
Nhập tròn vai là Chính Danh Nho giáo và nhập xuất chuẩn thế là Trung Đạo Phật giáo.
Rằm tháng Bảy và rằm tháng Giêng là hai ngày rằm quan trọng nhất để cúng bái. Mâm cúng trong ngày Rằm tháng Bảy với dân chúng không chỉ là cúng cô hồn ngoài trời, mà còn là lễ cúng trên ban thờ gia tiên.
Trong tháng Bảy âm lịch có hai lễ lớn, là lễ Thất Tịch 7/7 và lễ Xá tội vong nhân ngày 15/7. Giai đoạn từ 7/7 đến 15/7 âm lịch là giai đoạn Nhập gia để Xuất gia.
Thất Tịch là lễ tình yêu của Ngưu Lang và Chức Nữ, mà tình yêu nam nữ, tình yêu vợ chồng là trạng thái cơ bản nhất của gia đình, nên nhập gia chính là trạng thái của Thất Tịch.
Vu Lan là lễ xuất ngục, xuất thế, xuất gia.
– Xuất gia với người bình thường là lễ trưởng thành, mà thường đi sau lễ dứt căn, lễ mộc dục và đi trước lễ thành hôn. Lễ dứt căn là lễ dứt ra khỏi trường năng lượng của cha mẹ, nhưng vẫn trong gia. Lễ mộc dục là lễ kết nối với trường năng lượng của đối xứng âm dương, mà nằm ngoài gia đình. Lễ trưởng thành (hoặc lễ độc thân bên nước ngoài) là lễ dứt ra khỏi trường gia đình của cha mẹ, mà đại diện bởi Tam Tòng.
– Xuất gia với cư sỹ là lễ Quy y. Với Phật Tử xuất gia, lễ xuất gia cũng là lễ Quy y Tam Bảo, nghĩa là xuất khỏi gia và nhập vào Tam Bảo. Cư sỹ tại gia làm lễ Quy y, mà không làm lễ Xuất gia, nhưng lễ Quy y vẫn có tác dụng xuất gia về tâm thế, xuất gia tại chỗ, cụ thể xuất ra các dạng đóng vai, các dính mắc, các tham cầu, sân hận của thế tại gia, về lại chính mình, cho nên cư sỹ tại gia phải có năng lực là chính mình cực kỳ tốt. Tức nhiên, xuất gia và quy y là hai trạng thái được hoàn thiện suốt đời, mà lễ xuất gia và lễ quy y chỉ là khởi điểm của môt tiến trình cuộc đời mang tên là tiến trình quy y và tiến trình xuất gia.
– Xuất gia với thế “Phu tử tòng tử” : Trên góc độ của Nho giáo, mẹ của Mục Kiền Liên chết trong thế cuối của Tam Tòng là “Phu tử tòng tử” và đó là lý do mà Mục Kiên Liên là người phù hợp nhất để tìm được mẹ và cứu được mẹ. Phu tử là trạng thái xuất gia đặc biệt, vì phu thê là rường cột quan trọng nhất của gia đình. “Phu tử” trên một số góc độ, nghĩa là gia đình tử, và gia đình tử nghĩa là người mẹ xuất gia. “Phu tử tòng tử” chính là thế xuất gia của Hương Vân Cái Bồ Tát khi một mình nuôi Kinh Dương Vương và thành lập Sa Môn Giáo (đạo Phật của người Việt cổ thời tiền Thích Ca) và của Quán Âm Thị Kính khi ra khỏi nhà chồng và khi nuôi con của Thị Màu.
VAI TRÒ CỦA TĂNG ĐOÀN TRONG LỄ VU LAN
Câu hỏi là tăng đoàn đóng vai trò gì trong sự kiện Mục Kiền Liên cứu mẹ, vì rõ ràng là dù thần thông của Mục Kiên Liên cực lớn và có đức Phật chỉ bảo nhưng ông vẫn không cứu được mẹ mà phải đợi đến Rằm tháng Bảy, để có được trợ lực của Chư Tăng.
Câu hỏi này cần nhìn theo góc độ của cả Phật giáo xuất thế (vai của Mục Kiền Liên) và Nho giáo nhập thế (vai của mẹ Mục Kiền Liên) mới trả lời được.
Mẹ của Mục Kiền Liên khi kết nối với Mục Kiền Liên theo thế “Phu Tử tòng tử” của Nho giáo, là thế trên trần gian trước lúc chết của bà, thì bà có thể theo Mục Kiền Liên mà xuất ra khỏi ngục trong ngày lễ Xá tội vong nhân.
Sau khi xuất thế ra khỏi địa ngục, thì một người âm phải vào một nhập vào một thế khác để hoàn thành nốt vòng trường sinh, với bước Tử Mộ Tuyệt. Mẹ của Mục Kiền Liên xuống địa ngục vì bà không tử được thế sai mà bà mắc phải khi còn sống trên trần gian, nói cách khác bà chưa ở Mộ được, mà chỉ mới ở Tuyệt. Có thể nói rằng lễ Vu Lan đỡ bước chuyển thế Tử sang thế Mộ, và địa ngục dành cho vong ma chết mà không tử được
Sau khi theo Mục Kiền Liên ra khỏi địa ngục, bà mẹ đương nhiên không thể quay lại trần gian vì bà là người chết, bà mẹ cũng không thể theo Mục Kiền Liên mà quy y vì bà chưa đủ giác ngộ và không có thân để đi đường tu này.
Nếu không có giải pháp cho tình huống này thì sau lễ Vu Lan, khi cửa ngục đóng lại, bà sẽ bị giam trong địa ngục như cũ. Mục đích của việc xuất ra khỏi địa ngục là các vong hồn có thể chuyển khỏi tâm thế mà họ mắc kẹt trong đó khi còn sống để đi tiếp vòng trường sinh, hoàn thành đời đầu thai. Vong ma xuất ra rồi lại quay về địa ngục hoặc không thoát khỏi được địa ngục vào rằm tháng Bảy chính là tình trạng của các gia đình và dòng họ không có người tu đạo đủ sức gánh vác thế đạo của gia đình dòng họ đó.
Thực chất, bà cần phải lên cây dòng họ để gia tiên đỡ, trong lúc đó, bà cần tiếp tục chuyển đổi để kết thúc đời đầu thai này. Mục Kiền Liên xuất gia nhưng ông vẫn có trong cây dòng họ ở trạng thái đặc biệt, đơn giản vì đây là bản chất dòng máu sinh ra ông, có trước trạng thái xuất gia của ông. Vấn đề là bà mẹ có thể quá yếu để lên được cây dòng họ.
Khi tất cả các cư sỹ và phật tử xuất gia có chung lời nguyện chuyển thế và cứu thế cho gia đình, gia tiên và nhân gian đang ở những cây dòng họ khác nhau, họ sẽ hợp được các thế cây dòng họ của mỗi người trong tăng đoàn lại thành cây dòng họ tăng đoàn, và cây dòng họ tăng đoàn này chính là trường năng lượng đã đỡ cho mẹ của Mục Kiền Liên.
Các Phật tử và cư sỹ tại gia, cũng như tất cả những người bình thường có hạnh nguyện mạnh mẽ như hanh nguyện của Mục Kiền Liên sẽ được trường tăng đoàn đỡ, bất kể họ có theo đạo Phật hay không, chỉ cần họ có năng lực tự chuyển thế và hanh nguyện cứu thế gia đình. Trường tăng đoàn của đạo Phật cũng chung gốc với trường tăng đoàn của đạo Nho, đạo Lão, và hiện nay hầu hết là cư sỹ, và những người tu đạo nhưng không khoác áo bất kỳ đạo nào. Cái cần những người có hạnh nguyện cần hiểu về đạo hiếu của người làm con, mà là một phần căn bản của đạo làm người.
Khả năng chuyển thế giữa các tăng đoàn và khả năng chuyển thế của những vong hồn khi ra khỏi địa ngục để lên cây dòng họ được đỡ bởi mẹ Quán thế âm, mà cũng là Phật Mẫu của các cây dòng như trong sơ đồ đạo Mẫu.
