TỪ HẢI – THẾ MỘT TAY CHỌC TRỜI, MỘT TAY QUẤY NƯỚC

Loading

Nước Việt, cụ thể là ở Thanh Hoá có một vị thần nổi tiếng đứng một chân, gọi là Độc Cước. Còn truyện Kiều có anh hùng nổi tiếng với thế đứng và thế tay, như ca dao đã nói
– Truyện Kiều anh thuộc làu làu
Nhớ chăng trong đó ai người cụt tay?
– Một tay gây dựng cơ đồ
Bấy lâu bể Sở sông Ngô tung hoành!
Bài ca dao này đặt ra một câu hỏi rất lớn là nếu một tay của Từ Hải dùng để gây dựng cơ đồ, thì tay còn lại dùng để làm gì ?
Hai câu thơ trên nằm trong một đoạn thơ mười câu là lời giải thích của Từ Hải với Kiều về việc không theo kế chiêu hàng của Hồ Tôn Hiến.
Một tay gây dựng cơ đồ,
Bấy lâu bể Sở, sông Ngô tung hoành!
Bó thân về với triều đình,
Hàng thần lơ láo, phận mình ra đâu?
Áo xiêm buộc trói lấy nhau,
Vào luồn ra cúi, công hầu mà chi?
Sao bằng riêng một biên thuỳ,
Sức này, đã dễ làm gì được nhau?
Chọc trời, quấy nước, mặc dầu,
Dọc ngang nào biết trên đầu có ai.
Đoạn thơ trên có hai câu đầu và hai câu cuối đều là về thế tay. Hai câu đầu của đoạn này là thế “một tay gây dưng cơ đồ”. Hai câu cuối của đoạn này cũng là thế một tay, đúng hơn là mỗi tay một việc : “chọc trời” là thế tay trên trời, tay khí, “quấy nước” là thế tay dưới nước, tay thuỷ.
Thế tay chọc trời, tay quấy nước của Từ Hải có thể gợi sự liên tưởng đến thế tay chỉ trời, tay chỉ đất của đức Phật khi sinh. Sự tích về đức Phật đản sinh nói rằng khi sinh ra đức Phật đi bảy bước, một tay ngài chỉ trời, một tay ngài chỉ đất và nói “Thiên thượng thiên hạ, duy ngã độc tôn”.
Thế tay chọc trời, tay quấy nước của Từ Hải cũng là rhế cá biển, chim trời, đối xứng với cái thế cá chậu, chim lồng của Kiều khi gặp Từ Hải
Qua chơi thấy tiếng nàng Kiều,
Tấm lòng nhi nữ cũng xiêu anh hùng.
Thiếp danh đưa đến lầu hồng,
Hai bên cùng liếc, hai lòng cùng ưa.
Từ rằng: “Tâm phúc tương cờ,
Phải người trăng gió, vật vờ hay sao?
Bấy lâu nghe tiếng má đào,
Mắt xanh chẳng để ai vào, có không?
Một đời được mấy anh hùng,
Bõ chi cá chậu, chim lồng mà chơi?”
Với sự lưu ý đặc biệt về thế một tay của Từ Hải, chúng ta phải thận trọng hơn rất nhiều với hai câu thơ miêu tả Từ Hải trong buổi gặp Kiều lần đầu tưởng chừng cực kỳ quen thuộc
Đội trời, đạp đất ở đời,
Họ Từ tên Hải, vốn người Việt Đông.
Giang hồ quen thú vẫy vùng,
Gươm đàn nửa gánh, non sông một chèo.
Thuyền muốn chèo phải đủ hai tay, nhưng trong câu này thì chỉ có một chèo, vậy chuyện gì xảy ra với cái chèo còn lại cũng như với cái tay còn lại. Đòn gánh đặt trên vai cũng phải có hai đầu, nhưng ở đây gươm đàn cũng chỉ nửa gánh, vậy chuyện gì xảy ra với cái gánh còn lại ? Nếu hiểu câu này theo hướng “một tay gánh gươm đàn” và “một tay chèo non sông”, thì tay gươm đàn là tay phong, tay thượng, tay trời, còn tay chèo lái non sông là tay thuỷ, tay hạ, tay biển.
Quay trở lại với hai câu thơ của truyện Kiều đã được ca dao nhắc đến “Một tay gây dựng cơ đồ/Bấy lâu bể Sở sông Ngô tung hoành!”, chúng ta có thể hiểu rằng “một tay gây dựng cơ đồ” là thế tay khí, ứng với “gươm đàn nửa gánh”, còn “bây lâu bể Sở sông Ngô tung hoành là thế tay thuỷ, ứng với “non sông một chèo”.
Như vậy, Từ Hải là người luôn giữ chân (cũng như toàn thân) ở thế đứng, cụ thể là đầu đội trời, chân đạp đất, cho dù là lúc gặp Kiều, lúc tung hoành ở chiến trường hay là lúc chết đứng giữ trận chiến sau khi mắc mưu Hồ Tôn Hiến, và Từ Hải có thế tay đôi hay tay phong thuỷ là “tay chọc trời” và “tay khuấy nước”. Thế đứng là thế trụ trời đất, còn thế tay là thế vẫy vùng trời biển.
“Đầu đội trời, chân đạp đất” là thế tả anh hùng, còn thế “vẫy vùng trời đất” là thế anh hào, mà anh hào thì thiên về văn và anh hùng thì thiên về võ.
Xin đọc lại cả đoạn tám câu tả Từ Hải khi gặp Kiều lần đầu để thấy Nguyễn Du viết hay, viết chính xác và viết cân đối đến mức nào
Râu hầm, hàm én, mày ngài,
Vai năm tấc rộng, thân mười thước cao.
Đường đường một đấng anh hào,
Côn quyền hơn sức, lược thao gồm tài.
Đội trời, đạp đất ở đời,
Họ Từ tên Hải, vốn người Việt Đông.
Giang hồ quen thú vẫy vùng,
Gươm đàn nửa gánh, non sông một chèo.
Chia sẻ:
Scroll to Top