![]()
Ngô (Phồn thể: 吳國; giản thể: 吴国), còn gọi là Câu Ngô (句吴) hay Công Ngô (工吴; 攻吾). Nước Ngô được thành lập khá sớm, từ thời nhà Thương, sau đó khi nhà Chu đánh đổ nhà Thương, nước Ngp là một nước chư hầu của nhà Chu cho tới khi kết thúc giai đoạn Xuân Thu trong lịch sử Trung Quốc.
Theo Sử ký Tư Mã Thiên, nước Ngô (1200 TCN-473 TCN) có tất cả 25 đời vua tính từ Thái Bá (1360 TCN -1200 TCN) đến Ngô Vương Phù Sai (?-473 TCN).
Nước Ngô nằm ở khu vực cửa sông Dương Tử, tương ứng với phần lớn tỉnh Giang Tô ngày nay. Thủ đô : Ngô (吴; nay là Tô Châu, Giang Tô)
Phía Bắc là nước Lỗ và nước Tề (vùng Sơn Đông), Phía Tây là nước Sở (nằm phía nam sông Dương Tử), Phía Nam là nước Việt và phía Đông là biển Đông.
Các nhân vật lịch sử của nước Ngô
– Ngô Thái Bá (1360 TCN -1200 TCN) : Các vị vua nước Ngô mang họ Cơ, chính là dòng dõi của hoàng tộc nhà Chu. Ngô Thái Bá, người thành lập nên nước Ngô là bác của Chu Văn Vương, Cơ Xương.
– Thọ Mông, vua Ngô đầu tiên xưng vương, sau nước Sở
– Ngô Hạp Lư (514 – 496 TCN), Ngũ Tử Tư, Tôn Vũ (binh pháp Tôn Tử)
– Ngô Vương Phù Sai (?-473 TCN) : Ngô Vương Phù Sai, mất nước vào tay Việt Vương Câu Tiễn, với câu chuyện nổi tiếng về Tây Thi và Phạm Lãi. Ông cũng là người đã giết Ngũ Tử Tư vì nhiều lần can gián ông.
—o—o—o—
NGÔ TRONG CA DẠO, TỤC NGỮ, THÀNH NGỮ DÂN GIAN
NGÔ – LÀO
Chơi cho nước Tấn sang Hồ
Nước Tần sang Sở, nước Ngô sang Lào
Chơi cho gió lọt song đào
Cho người thục nữ lọt vào tay anh
Các nước xếp thành cặp đôi
– Tấn : Một trong những nước chư hầu mạnh nhất trong thời kỳ Xuân Thu – Chiến Quốc trong lịch sử Trung Quốc, tồn tại từ thế kỉ 11 TCN đến năm 376 TCN, trải qua 40 đời vua.
– Hồ : Tên gọi chung chỉ các dân tộc ở phía tây và phía bắc Trung Quốc như Hung Nô, Tiên Ti, Ô Hoàn, Đê, Khương, Thổ Phồn, Đột Quyết, Mông Cổ, Khiết Đan, Nữ Chân…
– Tần : Nhà Tần là một chư hầu của nhà Chu, cho đến khi Tần Thủy Hoàng thay thế nhà Chu thống nhất đất nước Trung Quốc từ năm 221 đến 206 trước Công nguyên rồi được thay thế bởi nhà Hán.
– Sở là một chư hầu của nhà Chu, vẫn giữ được độc lập với nhà Tần, cho đến sự kiện Hán Sở tranh hùng, Sở mới bị tiêu diệt để thành lập nên nhà Hán, nhưng người thành lập nên nhà Hán, đặt đô ở kinh đô cũ của nước Tần đều là người nước Sở
– Nước Ngô nằm ở phía Nam của sông Hoài, nằm ở phía biển Đông, Lào lại nằm ở vùng núi phía Tây
SÔNG NGÔ
Gánh vàng đi đổ sông Ngô
BỂ SỞ SÔNG NGÔ
Một tay gây dựng cơ đồ,
Bấy lâu bể Sở, sông Ngô tung hoành
(Truyện Kiều)
Chồng chài, vợ lưới, con câu,
Sông Ngô bể Sở biết đâu là nhà.
Sầu từ bể Sở, sông Ngô
Lấy ai chăm sóc sớm khuya việc chường
– Truyện Kiều anh thuộc làu làu
Nhớ chăng trong đó ai người cụt tay?
– Một tay gây dựng cơ đồ
Bấy lâu bể Sở sông Ngô tung hoành!
THẰNG NGÔ – CON ĐĨ
Thằng Ngô con đĩ
VỢ THẰNG NGÔ
Bậu ơi! Muốn lấy thằng Ngô
Lợi đây anh kể tông đồ em nghe
Thằng Ngô lắm nhẫn nhiều vòng
Cho nên cô ả phải lòng thằng Ngô
Tham giàu lấy phải thằng Ngô
Đêm nằm như thể cành khô đâm vào
Ba mươi tết, tết lại ba mươi
Vợ thằng Ngô đốt vàng cho chú khách
Một tay cầm cái dù rách
Một tay xách cái chăn bông
Em đứng bờ sông
Em trông sang bên nước người
– Hỡi chú chiệc ơi là chú chiệc ơi!
Một tay em cầm quan tiền
Một tay em xách thằng bù nhìn em ném xuống sông
Quan tiền nặng thì quan tiền chìm
Bù nhìn nhẹ thì bù nhìn nổi
Ối ai ơi! Của nặng hơn người!
THẰNG NGÔ – THẰNG TÀU
Xí xô như thằng Ngô vỡ tàu
Chúa Tàu mở hội bên Ngô
Cớ sao bảo phướn sang chùa An Nam?
Thà rằng chẳng biết cho cam
Biết ra kẻ Bắc người Nam thêm sầu
Cột buồm mà ngỡ cây cau
Thấy thuyền thúng nát ngỡ tàu thằng Ngô
Còn Tàu còn bán vải sô
Tàu về mới biết xi xô bạc tình.
CHỊ THẰNG NGÔ – CÔ THUỐC LÀO
Băm bầu, băm bí
Băm chị thằng ngô
Băm cô thuốc lào
Bán thuốc cho tao
Ba đồng một điếu
Nói thiếu nói thừa
Phải chừa nói láo
CHỊ THẰNG NGÔ – CÔ THẰNG BẦU
Dao cùn rựa cụt
Đẵn cây chuối hột
Đút vào vườn quỳnh
Băm bầu băm bí
Băm chị thằng Ngô
Băm cô thằng bầu
hoặc
Băm bầu, băm bí
Băm chị thằng Ngô
Băm cô cái ả
CÒ BỢ LÀ VỢ THẰNG NGÔ, THẰNG NGÔ LÀ CÔ SÁO SẬU
Sáo sậu là cậu sáo đen
Sáo đen là em sáo đá
Sáo đá là má bồ nông
Bồ nông là ông ác là
Ác là là bà tu hú
Tu hú là chú chim ri
Chim ri là dì chim xanh
Chim xanh là anh cò bợ
Cò bợ là vợ thằng Ngô
Thằng Ngô là cô sáo sậu
Sáo sậu là cậu sáo đen
THẰNG NGÔ
Vua cũng sợ thằng Ngô
Trước mặt: ông sứ, vắng mặt: thằng Ngô.
GIẶC BÊN NGÔ
Giặc bên Ngô không bằng bà cô bên chồng
NGÔ – KHOAI (BỘ NGÔ KHOAI LÚA)
Ra ngô, ra khoai (Ra môn, ra khoai)
Được mùa chớ phụ ngô khoai
Đến khi thất bát lấy ai bạn cùng
Được mùa chớ phụ môn khoai
Đến năm Thân, Dậu lấy ai bạn cùng
Đói thì ăn ngô, ăn khoai
Đừng ở với dượng, điếc tai láng giềng
Cơm ăn một bát sao no
Ruộng cày một lượt sao cho đành lòng
Sâu cấy lúa, cạn gieo bông
Chẳng ương được đỗ thì trồng ngô khoai
Sâu cấy lúa cạn gieo bông
Chẳng ươm được đỗ thì trồng ngô khoai.
Bắp với khoai tuy rằng khác giống
Nhưng cùng sống trên cục đất giồng
Anh với em đồng vợ đồng chồng,
Tát biển Đông cũng cạn, đập núi Hồng cũng tan.
Bạc Liêu giàu lúa ngô khoai
Giàu cô gái đẹp, giàu trai anh hùng
Bạc Liêu nắng bụi mưa sình
Muối mặn nhãn ngọt đậm tình quê hương
Bình Lục đồng trắng nước trong
Ngô khoai thì ít, rêu rong thì nhiều
Hòa Mạc ruộng đất phì nhiêu
Nhiều mía nhiều đỗ lại nhiều ngô khoai
Làng Quang dưa, vải khắp đồng
Ngô khoai khắp ruộng, nhãn lồng xóm Văn
Đù cha cái đất xứ Đoài
Cơm ăn thì ít, ngô khoai thì nhiều
Một đấu gạo, năm bảy đấu khoai ngô,
Thiếp chúc chàng về cho đến kinh đô,
Lúc giừ đây phân chia đôi ngả, Hán với Hồ ta biệt nhau.
