TĨNH CÔNG : BỘ TƯ THẾ CƠ BẢN

Loading

Có 4 tư thế gốc là
– Đứng
– Nằm
– Ngồi
– Quỳ
Tiếp đất đặc trưng của 4 tư thế gốc
– Nằm : tiếp đất toàn thân
– Đứng : tiếp đất bằng bàn chân
– Quỳ : tiếp đất bằng đầu gối
– Ngồi : tiếp đất chính bằng mông (có tư thế ngồi thấp mông tiếp đất bằng 2 chân nhưng thực chất vẫn tiếp đất bằng mông)
Tính định trụ của 4 tư thế gốc
– Nằm : Định theo Trái đất, tư thế nằm cần tháo rời các khớp, đưa cơ thể về trạng thái đơn vị, và hệ toạ độ cơ bản mà được đỡ bằng hệ toạ độ của Trái đất
– Đứng : Định theo trục Trời đất
– Quỳ : Là tư thế chuyển tiếp và tương tác với các đấng bề trên
– Ngồi : Là tư thế để thực hiện các hoá thân, các vai trò khác nhau trong đầu thai luân hồi (hầu hết các hoá thân của Quán Âm và tượng của các vị thần thánh là ở tư thế ngồi)
Bộ khoá của 4 tư thế gốc
– Nằm : khoá cổ
– Đứng
– Quỳ
– Ngồi
Đối xứng âm dương của bộ tư thế gốc
– “Quỳ” đối xứng với “ngồi”, kết hợp tạo ra “quỳ ngồi”
– “Đứng” đối xứng với “nằm”, kết hợp với “đứng nằm” tạo ra “bò”
Nhu cương của bộ tư thế gốc
– “Nằm” và “ngồi” là hai tư thế nhu nhưng lại có tính chất an định, kết hợp hai tư thế “nằm ngồi” cho các tư thế của bà bầu và sản phụ, cũng như tư thế của thai nhi
– “Đứng” và “quỳ” là hai tư thế cương nhưng lại có tính chuyển dịch, chuyển tiếp, kết hợp hai tư thế “đứng quỳ” cho các quan hệ thày trò, các quan hệ truyền thừa và quan hệ với các đấng. Đứng là tư thế cương về tinh thần và thân thể, quỳ là tư thế cương về thân thể, nhu về tinh thần
Kết hợp
– “Quỳ” với “đứng” ra “vái”
– “Quỳ” với “nằm” ra “lậy”
4 tư thế gốc là tư thế cơ bản của bộ bào thai trong đó
– Đứng : Rốn có tính kết nối trời đất
– Nằm : Ối có tính nước bao trùm trời đất
– Ngồi : Thân có tính cá thể, đơn tâm
– Quỳ : Nhau có tính tập thể, đa tâm
Chia sẻ:
Scroll to Top